[SMCC] tu lieu ve tong thong Duong Van Minh




        Kinh gui den quy vi mot tai lieu cua Cong san Viet Nam nhan dinh ve Dai 
Tuong Duong Van Minh.
        Paul Nguyen Van

        
http://honvietquochoc.com.vn/Tu-lieu/Tu-lieu-lich-su/Ho-so-ve-tuong-Duong-Van-Minh.aspx


        Hồ sơ về tướng Dương Văn Minh 

        5/29/2009  
         
        Phạm Văn Hùng

        L.T.S: Hồn Việt số 11 (tháng 5/2008) đã đăng một số ý kiến về Tướng 
Dương Văn Minh. Đó là một số ý kiến bước đầu quan trọng, giúp ta tìm hiểu sâu 
hơn một sự kiện lịch sử, một con người. Kỳ này, Hồn Việt xin công bố bản tóm 
tắt của một công trình nghiên cứu công phu, nhiều tư liệu mới với độ tin cậy 
cao của ông Phạm Văn Hùng. Hi vọng rằng, với công trình nghiên cứu này, sự kiện 
về Tướng Dương Văn Minh sẽ được sáng tỏ thêm. Nó chứng minh thêm tầm vóc của 
ngày 30/4 lịch sử dưới sự lãnh đạo toàn diện, sâu sát, kiên trì… của Bộ Chỉ huy 
tối cao đứng đầu là Lê Duẩn và của những người trực tiếp tham gia ở chiến 
trường miền Nam, của Trung Ương Cục miền Nam. Nó cũng chứng tỏ sự phối hợp 
tuyệt đẹp giữa quân sự - chính trị - địch vận… trong cuộc chiến tranh giải 
phóng. Nó nói lên sự phong phú vô tận của cuộc sống, của cuộc đấu tranh cho độc 
lập dân tộc của lòng yêu nước Việt Nam…

        Chúng tôi mong nhận được thêm nhiều ý kiến.

       
        THÂN THẾ VÀ GIA ĐÌNH

        - Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Tho. Cha là ông Dương Văn 
Huề, khi đi học mướn lấy tên là Dương Văn Mau (tên của người bà con), làm thầy 
giáo, sau làm tri phủ, rồi đốc phủ sứ (hàm).

        Ông Dương Văn Huề và bà Nguyễn Thị Kỹ có bảy người con: bốn trai, ba 
gái. Ông Minh là con cả. Dương Thanh Nhựt là con trai kế, có tham gia hoạt động 
cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám (năm 1944) và suốt hai cuộc kháng chiến 
chống Pháp, chống Mỹ, là đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Dương Thanh Sơn, em 
trai thứ năm, là sĩ quan chế độ cũ.

        Gia đình ông Minh theo đạo Phật, lễ giáo, nề nếp.

        - Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sĩ quan dự 
bị của Pháp. Năm 1942 vào quân đội Pháp.

        Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ 
trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông Minh tản cư về 
Chợ Đệm (Tân An). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại chưa 
tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội Pháp. 
Năm 1946, Dương Văn Minh là thiếu úy, đại đội phó quân đội Pháp. Lần lượt lên 
đến cấp tá, rồi qua Pháp học trường võ bị, là một trong những sĩ quan đầu tiên 
của quân đội “Việt Nam Cộng Hoà”.

        Ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, thương người. Sợ sát sinh, sợ 
phải giết người. Thấy ai bị nạn thì ra tay cứu như can thiệp cho em trai bà Bùi 
Thị Mè (1) là thiếu tá chế độ cũ bị tình nghi hoạt động cho “Việt Cộng” được 
thả ra; giúp ông Nguyễn Minh Triết (Bảy Trung), cán bộ của ta và là em bạn dì 
ruột bị địch bắt giam ở nhà lao Phú Lợi, được ra tù…

        - Ông Minh là người rất tự trọng. Sau ngày 30/4/1975, ông được về nhà 
(98 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3) sống với tư 
cách một “công dân của một nước độc lập” (2). Đời sống khó khăn, ông lại bị 
bệnh tiểu đường, bị đau dạ dày. Có lúc lãnh đạo Thành phố (đồng chí Võ Văn 
Kiệt) nhờ bà Bùi Thị Mè gợi ý khéo là Đảng và chính quyền thành phố muốn hỗ trợ 
ông trong cuộc sống. Nhưng ông Minh từ chối với lý do: “Các anh các chị sống 
được thì tôi cũng sống được nếu chưa quen thì phải tập lại cho quen”.

        Năm 1983, ông Minh được Chính phủ ta chấp thuận để ông sang Pháp trị 
bệnh và thăm con. Toà Tổng Lãnh sự Pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Bộ 
Ngoại giao Pháp giúp ông Minh vé máy bay và tiền gửi hành lý nhưng ông Minh từ 
chối, nói rằng “đã có Chính phủ Việt Nam lo rồi”.

        Khi đi, ông Minh chỉ xin mang theo một ít đồ cổ trong nhà. Sang Pháp, 
ông không nhờ vả gì Chính phủ Pháp, không xin trợ cấp xã hội Pháp.


        Dương Văn Minh

        QUÁ TRÌNH BINH ĐỊCH VẬN ĐỐI VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH

        Công tác binh địch vận đối với tướng Dương Văn Minh bắt đầu từ năm 
1962, với nhiều lực lượng, nhiều ban ngành tham gia: Binh vận Trung Ương Cục, 
Tình báo, An ninh T4 (Sài Gòn - Gia Định), Trí vận…

        1/ Ban binh vận Trung Ương Cục miền Nam

        Năm 1960, theo yêu cầu của Ban binh vận Xứ ủy Nam bộ (sau này là Trung 
Ương Cục miền Nam), đồng chí Võ Văn Thời, Cục trưởng Cục địch vận Tổng Cục 
Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đề nghị và được cấp trên đồng ý điều động 
đồng chí Dương Thanh Nhựt (3) về Cục để giao nhiệm vụ về miền Nam vận động 
Dương Văn Minh. Đồng chí Nhựt được đặt bí danh là Mười Ty. Cuối tháng 12/1960, 
đồng chí Mười Ty lên đường.

        Tháng 8/1962, đồng chí Mười Ty móc được với gia đình, trước hết là với 
ông Nguyễn Văn Di, cậu ruột; qua cậu, móc vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm 
mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty thăm em trai 
là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội Sài Gòn và em thứ tám là Dương Thu Vân.

        Thấy tình hình thuận lợi, đồng chí Mười Ty hướng dẫn cán bộ mật đem ý 
kiến của lãnh đạo trao đổi với Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô 
Đình Diệm. Trong lúc Tướng Minh đang bực tức Ngô Đình Diệm độc tài, gia đình 
trị, phủ nhận công lao của mình (tảo thanh Bình Xuyên và các giáo phái Hoà 
Hảo). Tướng Minh hứa sẽ tìm cách làm.

        Ngày 01/01/1963, Trung tướng Dương Văn Minh nhân danh Chủ tịch Hội đồng 
quân nhân cách mạng phát lệnh đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm và lên làm Quốc 
trưởng Việt Nam Cộng Hòa lần thứ nhất. Đồng chí Mười Ty nắm được ý định Tướng 
Minh chuẩn bị đảo chính Diệm và có báo cáo về Ban binh vận Trung Ương Cục.

        Sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm một thời gian, đồng chí Mười Ty có vào 
nhà Dương Văn Minh (98 Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai), sau đó 
qua nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và trao đổi với 
Dương Văn Minh, đồng chí Mười Ty cho rằng Tướng Minh trước đây mơ hồ về Mỹ là 
tên xâm lược, nay thì hết tranh cãi về điều này, nhưng vẫn còn cho là Mỹ có 
giúp đỡ miền Nam. Tướng Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược, cho nhân dân về nhà cũ 
với ruộng vườn, mồ mả ông bà.

        Trong thời gian làm Quốc trưởng lần thứ nhất. Dương Văn Minh có một số 
hành động tiến bộ có lợi cho cách mạng:

        + Quyết định hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge hỏi 
Dương Văn Minh vì sao làm thế? Ông trả lời, đại ý: Người Việt Nam có phong tục 
tập quán riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ 
mả ông cha. Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó tôi giải tán 
ấp chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình.

        + Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu Quốc trưởng 
Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà ném bom nổ 
chậm trên đê sông Hồng. Miền Bắc sẽ bị lũ lụt mất mùa, người dân sẽ đói… Dương 
Văn Minh lắc đầu từ chối.

        + Tháng 1/1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh 
nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A (hoạt động gián điệp, biệt kích 
chống miền Bắc). Dương Văn Minh không trả lời.

        + Theo lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (4) Dương 
Văn Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do, thực hiện một chế độ trung 
lập, lập Chính phủ liên hiệp. Nhưng Mỹ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng 
trung lập.

        - Do những chủ trương và hành động của Dương Văn Minh không theo đúng ý 
đồ “Bắc tiến” của Mỹ, theo chỉ thị của Tổng thống Mỹ Johnson, cuối tháng 
01/1964, chính quyền Mỹ đã đưa Nguyễn Khánh lên làm Chủ tịch Hội đồng quân nhân 
cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ Cộng Hòa Việt Nam bằng một cuộc đảo chính. 
Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi 
rơi vào tay Cộng sản”.

        Mỹ thấy Dương Văn Minh có hậu thuẫn ở miền Nam, nhưng khó điều khiển 
nên chỉ thị cho Chính quyền Sài Gòn phong Dương Văn Minh làm đại tướng và cử 
làm đại sứ lưu động ở Đài Loan. Mỹ mời ông Minh qua Mỹ một thời gian rồi cho 
lưu vong ở Thái Lan (từ đầu năm 1965) có sự giám sát của CIA, làm con bài dự 
trữ.

        Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó 
Bí thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, đồng chí Mười 
Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8 là 
Dương Thu Vân qua Pháp. Có thời gian Mười Ty ở nhà Dương Minh Đức (con trai 
Dương Văn Minh). Được biết, khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư 
chết, Dương Văn Minh có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, 
có ý chờ tin của Mười Ty. Nhưng vì bọn CIA bảo trung tá Đẩu (sĩ quan tùy viên 
của Tướng Minh) kêu ông Minh về Thái Lan, nên không ở lâu hơn được nữa.

        Khi chị Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là ông Minh không 
thể qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua em (Dương Thu Vân) 
và cháu (Dương Minh Đức) truyền đạt ý kiến của cấp trên cho Dương Văn Minh. Sau 
đó Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính phủ ba thành 
phần là khó lắm, cần đánh cho văng Thiệu, Mỹ phải rút đi là hết chiến tranh. 
Tôi có ra làm chính phủ ba thành phần khi bầu cử thì ông Thọ (Luật sư Nguyễn 
Hữu Thọ) cũng thắng cử, tôi có thất cử cũng không nghĩa lý gì, miễn có lợi cho 
đất nước là hơn”. Dương Minh Đức nói thêm: Ba cháu không còn lực lượng, không 
biết làm chính trị, không giỏi bằng ông Thọ; ra ngoài (ra khu) lúc này là không 
có lợi, ở trong này khi cần có lợi hơn…

        Sau đó, đồng chí Mười Ty về Hà Nội, được đồng chí Lê Duẩn gặp và mời 
cơm (với đồng chí Võ Văn Thời). Sau khi nghe đồng chí Mười Ty báo cáo đầy đủ 
chuyến đi công tác ở Pháp, đồng chí Lê Duẩn khen và nói: “Dương Văn Minh trả 
lời như vậy là thành thật, nói như vậy là làm được, chứ hứa hết có khi không 
làm được…”

        Cuối năm 1970,… theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam, 
Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận vận động Dương Văn 
Minh. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của ta trong sĩ quan là bạn bè 
và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh. Đồng chí Nguyễn Tấn Thành 
(tức Tám Vô Tư), bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận Trung Ương Cục giao 
nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu Hạnh.

        Tháng 3 và 4/1975, đồng chí Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh. 
Sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đồng chí Tám Vô Tư gợi ý ông Hạnh nên tiếp 
cận và vận động Dương Văn Minh nếu lên làm Tổng thống thì tìm cách kết thúc 
cuộc chiến có lợi cho nhân dân.

        Khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28/4/1975, từ 
Cần Thơ, ông Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Sài Gòn gặp 
Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay Tổng tham 
mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu trưởng. Với các cương 
vị này, ông Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện lệnh của Tổng thống 
Dương Văn Minh làm cho quân đội Sài Gòn “án binh bất động”, tan rã tại chỗ, 
không nổ súng và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn Minh sớm bàn giao chính quyền cho 
cách mạng.

        2/ Thâm nhập vào “nhóm Dương Văn Minh”

        Tháng 9/1972, Ban An ninh T4 (Thành phố Sài Gòn - Gia Định) thành lập 
Cụm điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng điệp báo bí mật 
trong một số đối tượng, trong đó có lực lượng thứ ba, đặc biệt là “nhóm Dương 
Văn Minh”… (các thành viên bộ tham mưu nhóm Dương Văn Minh, ban biên tập bản 
tin nội bộ nhóm Dương Văn Minh, thư ký tòa soạn báo Điện Tín, báo Đại dân tộc…).

        Đầu năm 1975, đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), Trưởng Ban An ninh 
T4, chỉ đạo A10 tìm cách thâm nhập vào lực lượng thứ ba và nhóm Dương Văn Minh 
để tác động, vận động lực lượng này chống đối, cô lập, chia rẽ chính quyền 
Nguyễn Văn Thiệu.

        Thời gian này, Cụm điệp báo A10 tiếp cận, bám sát “nhóm Dương Văn 
Minh”, có lúc họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành) ở luôn trong nhà Dương Văn Minh; tham 
gia viết và in tuyên cáo “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn 
Hương từ chức (Tổng thống).

        Ngày 01/3 và cuối tháng 3/1975, đồng chí Huỳnh Bá Thành (lần sau có 
thêm các đồng chí Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề…) vào căn cứ báo cáo với đồng chí 
Mai Chí Thọ (Bí thư thành ủy), Trần Thanh Vân (Phó trưởng Ban An ninh T4). Đồng 
chí Mai Chí Thọ chỉ đạo: “…Phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn 
Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của Đảng nhằm tránh 
đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”.

        3/ Tác động vào Chính phủ Dương Văn Minh

        Cụm điệp báo VĐ2 thuộc phòng tình báo chiến lược M22, cục tham mưu Miền 
cũng có chỉ đạo vận động tác động nội các Dương Văn Minh đầu hàng thông qua kỹ 
sư Tô Văn Cang trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Theo ông Tô Văn 
Cang, sáng ngày 28/4/1975, ông Cang đến gặp Đại tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) ở 
nhà ông Ba Lễ (cơ sở tình báo) hẻm đường Triệu Đà, Sài Gòn, để báo ý kiến của 
ông Nguyễn Văn Diệp (trong Chính phủ Dương Văn Minh) muốn tìm gặp đại diện 
Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam để xin ý kiến xử trí tình hình 
Sài Gòn. Đồng chí Sáu Trí phân tích tình hình và “khuyên Chính phủ Dương Văn 
Minh chấp nhận đầu hàng vô điều kiện”. Ý kiến này được ông Cang phản ánh lại 
cho ông Diệp và sau đó ông Diệp có báo cáo lại cho bộ ba Dương Văn Minh – 
Nguyễn Văn Huyền – Vũ Văn Mẫu.

        4/ Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị

        Sau hiệp định Paris (1973), Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung 
Ương (tháng 7/1973) đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị”; “mở 
rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc Giải phóng gồm mọi giai cấp, tôn giáo, lực lượng 
hòa bình, độc lập, dân chủ ở miền Nam và Việt kiều ở nước ngoài”.

        Năm 1974, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Phó Bí 
thư Trung Ương Cục miền Nam, đồng chí Quốc Hương (Mười Hương), Ủy viên Thường 
vụ, Trưởng Ban An ninh T4 đã chọn một số thanh niên, sinh viên cài vào hoạt 
động trong lực lượng thứ ba.

        Trên thực tế thì lực lượng ta đã hình thành trước khi có hiệp định 
Paris qua tổ chức “Lực lượng quốc gia tiến bộ” do luật sư Trần Ngọc Liễng và 
nhà tư sản dân tộc (ngành vật liệu xây dựng) Phan Văn Mỹ thành lập tháng 6/1969 
với mục tiêu là: đòi các lực lượng ngoại nhập (Mỹ và đồng minh) phải rút khỏi 
miền Nam, thành lập chính phủ hòa giải dân tộc. Sau đó, lợi dụng lúc Thiệu đi 
nước ngoài, luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Lực lượng hoà giải dân tộc”. Sau hiệp 
định Paris, tháng 02/1974, nhóm luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Tổ chức nhân dân 
đòi thi hành hiệp định Paris”, xác định mình là lực lượng thứ ba, mục tiêu 
chính là đòi thi hành hiệp định Paris, Mỹ rút quân, thành lập Chính phủ hoà 
giải dân tộc.

        Thành viên của “nhóm Dương Văn Minh” gồm một số trí thức, dân biểu đối 
lập, ký giả, tướng lĩnh . Hằng tuần, nhóm họp bàn về tình hình thời sự chính 
trị (lúc tình hình sôi động mỗi tuần họp hai lần). Cạnh tướng Dương Văn Minh có 
Văn phòng báo chí. Lúc báo Điện tín bị đóng cửa, “nhóm Dương Văn Minh” ra bản 
tin bán công khai để phát cho các tổ chức, đoàn thể, báo chí trong và ngoài 
nước.

        - Theo ông Lý Quý Chung (Hồi ký), tuần lễ đầu tháng 4/1975, tướng Dương 
Văn Minh và “nhóm Dương Văn Minh” đã họp tại Dinh Hoa Lan (nhà ông Minh) bàn và 
quyết định công bố ý định thay thế Nguyễn Văn Thiệu để góp phần chấm dứt chiến 
tranh.

        5/ Phối hợp phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Sài Gòn

        Với các khẩu hiệu “đuổi Mỹ, lật Thiệu”, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, 
đòi thi hình hiệp định Paris, hòa bình, chấm dứt chiến tranh, đòi dân chủ, cải 
thiện dân sinh… các cuộc xuống đường diễn ra liên tục, mạnh mẽ thu hút hàng 
ngàn, hàng vạn người. Như cuộc xuống đường của 200 ký giả Sài Gòn ngày 
10/10/1974, ngày “ký giả đi ăn mày” lôi cuốn gần hai vạn quần chúng tham gia đã 
có tiếng vang lớn cả trong và ngoài nước. Cuộc tuần hành ngày 20/4/1974 của 
hàng vạn công nhân lao động, sinh viên, học sinh, trí thức, thương phế binh… 
đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hành hiệp định Paris, đòi hòa bình, cơm 
áo, chống sa thải, chống thuế VAT…, là cuộc đấu tranh lớn nhất từ sau hiệp định 
Paris.

        MỸ, PHÁP VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH

        * Mỹ: Năm 1971, Mỹ yêu cầu Dương Văn Minh ra tranh cử Tổng thống với 
Nguyễn Văn Thiệu để tỏ ra chế độ Cộng hòa miền Nam có dân chủ, nhưng phải thất 
cử để trở thành lãnh tụ của phe đối lập trong nghị viện. Tướng Dương Văn Minh 
từ chối. Đại sứ Mỹ Bunker còn trắng trợn hỏi ông Minh cần bao nhiêu đô-la cho 
cuộc tranh cử. Ông Minh cố nén giận, nhưng giữ lịch sự, đưa tay chỉ đại sứ Mỹ 
về phía của phòng (không tiếp đại sứ Mỹ nữa). Cuộc bầu cử đó, Tướng Dương Văn 
Minh có ra ứng cử, nhưng đến giờ chót quyết định rút lui, chỉ còn Nguyễn Văn 
Thiệu trở thành ứng cử viên Tổng thống “độc diễn”, làm bẽ mặt Mỹ – Thiệu.

        Sau khi Thiệu từ chức, Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay tổng 
thống, tuyên bố “cương quyết tử thủ dù phải hi sinh đến nắm xương tàn”, đã bị 
nhân dân và báo chí Sài Gòn đấu tranh đòi Chính phủ Trần Văn Hương từ chức ngay 
lập tức. Trần Văn Hương trì hoãn việc giao quyền cho Dương Văn Minh, mãi đến 
ngày 26/4/1975, lưỡng viện Sài Gòn đã bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống Việt 
Nam Cộng hòa với 147/151 phiếu.

        * Pháp: Theo đồng chí Phan Nhẫn, ngày 27 (hoặc 28/4/1975), Bộ Ngoại 
giao Pháp gặp đồng chí Phạm Văn Ba (Giám đốc Trung tâm thông tin Chính phủ cách 
mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam) gợi ý Chính phủ Cách mạng lâm thời nên đi vào 
đàm phán. Lúc đó, Pháp hi vọng “giải pháp Dương Văn Minh” và khả năng thương 
lượng với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.

        Theo chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, sáng ngày 
30/4/1975, tướng tình báo Pháp Vanuxem đến Phủ thủ tướng (số 7 Thống Nhất, nay 
là đường Lê Duẩn) gặp Tổng thống Dương Văn Minh, gợi ý ông Minh nên kêu gọi 
Trung Quốc can thiệp để cứu miền Nam không rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt. Ông 
Minh từ chối, nói rằng: “Tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ, đã quá đủ 
rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”.

        TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH VỚI 3 NGÀY LÀM TỔNG THỐNG

        15 giờ chiều ngày 28/4/1975, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử 
Nguyễn Văn Huyền làm Phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng.

        Tổng thống Dương Văn Minh cử một số Bộ trưởng và người phụ trách quân 
đội, cảnh sát, trong đó có đảng viên và cơ sở của ta là: Luật sư Triệu Quốc 
Mạnh, Giám đốc Nha cảnh sát đô thành, và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá 
Tổng tham mưu trưởng sau là quyền Tổng tham mưu trưởng.

        Về Bộ quốc phòng, Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định Giáo sư Bùi Tường 
Huân, Giáo sư Đại học Huế (không phải tướng tá) làm Bộ Trưởng. (Theo ông Lý Quý 
Chung, việc Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định ông Bùi Tường Huân làm Bộ trưởng 
quốc phòng để chứng tỏ chính phủ này không muốn chiến tranh).

        17 giờ ngày 28/4/1975, phi đội 5 chiếc A37 của Nguyễn Thành Trung ném 
bom sân bay Tân Sơn Nhất.

        Theo ông Hồ Ngọc Nhuận (Hồi ký), tối hôm đó, Tướng Minh giao cho ông 
chuẩn bị chiếm đài phát thanh (đề phòng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính).

        Đêm 28/4, Tướng Dương Văn Minh và gia đình dời đến ở nhà một người bạn 
của tướng Mai Hữu Xuân ở đường Phùng Khắc Khoan do sợ Nguyễn Cao Kỳ ném bom 
dinh Hoa Lan (nhà ông Minh).

        Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba (Hồi ký), đêm 28/4/1975, hai đại tá phi 
công lái hai máy bay trực thăng phục vụ tổng thống đậu trên nóc dinh Độc Lập, 
gặp Tổng thống Dương Văn Minh đề nghị đưa Tổng thống và tất cả những người 
trong bộ tham mưu tổng thống và gia đình bay ra Đệ Thất Hạm Đội. Ông Minh trả 
lời: “Hai em có thể yên lòng lái máy bay ra Đệ Thất Hạm Đội, bất cứ ai có mặt ở 
đây muốn đi theo thì có thể ra đi. Phần tôi, tôi nhất quyết không đào ngũ bỏ 
chạy; không thể nào bỏ dân chúng Sài Gòn, không thể nào bỏ miền Nam như con rắn 
mất đầu”.

        Ngày 29/4/1975

        Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng 
Vũ Văn Mẫu bàn và ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh 
thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho cơ quan Viện 
trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ để giải quyết hòa bình 
ở Việt Nam.

        Đến 16 giờ chiều ngày 29/4, đã thực hiện xong việc trả tù binh chính 
trị (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm). Chỉ huy các ban và cảnh sát 18 quận, huyện đã 
tan rã (trừ bộ phận biệt phái).

        Tổng thống Dương Văn Minh chỉ thị không được di chuyển quân, không được 
phá cầu. Dựa vào chỉ thị trên, chiều ngày 29/4/1975, phụ tá Tổng tham mưu 
trưởng Nguyễn Hữu Hạnh đã ra lệnh cho các đơn vị không được phá cầu. Đơn vị nào 
muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ Tổng tham mưu.

        Sau đó, khoảng 15 giờ, phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu có 
Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào Trại David, được đồng chí Võ Đông 
Giang, Phó trưởng phái đoàn ta tiếp. Ông Liễng đã thông báo với phái đoàn ta về 
chủ trương “không chống cự” của Tổng thống Dương Văn Minh, mà ông coi là niềm 
vui sướng nhất trong đời ông, vì đã thông báo cho bên trong biết “Sài Gòn không 
chống cự” vào giờ chót của cuộc chiến tranh. Theo Luật sư Liễng, Tổng thống 
Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ buổi trưa hôm đó (ngày 29/4/1975).

        Từ chiều và tối ngày 29/4, cũng có một số người tác động Tổng thống 
Dương Văn Minh hướng “Thành phố để ngõ”, đầu hàng. Như ông Lý Quý Chung, họa sĩ 
Ớt (Huỳnh Bá Thành). Thông qua ông Phan Xuân Huy và ông Đoàn Mai, thượng tọa 
Thích Trí Quang nói điện thoại trực tiếp với Tổng thống Dương Văn Minh: “còn 
chờ gì nữa mà không đầu hàng”.

        Ngày 30/4/1975

        - 6 giờ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng tham mưu trưởng (tướng 
Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã chuồn) và tướng Nguyễn Hữu Có đến báo cáo với 
Tổng thống Dương Văn Minh về toàn bộ tình hình quân sự. Sau đó, ông Minh (cùng 
các ông Hạnh và Có) đến Phủ Thủ tướng (số 7 Thống nhất, nay là đường Lê Duẩn).

        Tổng thống Dương Văn Minh họp với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ 
tướng Vũ Văn Mẫu và một số người trong nội các “nhóm Dương Văn Minh”, bàn và 
quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời 
Cộng Hòa miền Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn bản thảo tuyên bố này.

        - 9 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm.

        Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị và được Tổng thống Dương Văn Minh 
đồng ý có nhật lệnh cho quân đội. Ông Hạnh soạn thảo nhật lệnh này. Đồng thời 
tướng Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân 
khu 4 yêu cầu cố gắng thi hành lệnh của Tổng thống trên đài phát thanh.

        9 giờ 30: Đài phát thanh phát tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh: 
“Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “yêu cầu tất cả anh 
em chiến sĩ Cộng Hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì ở đó”; “Chúng tôi chờ gặp 
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam để thảo luận về lễ bàn 
giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.

        Sau đó, cả các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu cùng 
nội các đến Dinh Độc Lập để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng.

        Sau khi đọc tuyên bố “đầu hàng” xong, Tướng Dương Văn Minh nói với mọi 
người (trong Chính phủ): “Mọi việc coi như đã xong. Bây giờ ai muốn đi hay ở 
thì tùy”.

        11 giờ 30, xe tăng quân giải phóng vào Đinh Độc Lập. Xe quân giải phóng 
đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu 
hàng vô điều kiện.

        KẾT LUẬN

        1/ Tướng Dương Văn Minh là người có tinh thần dân tộc, yêu nước. Từ chỗ 
lúc đầu còn mơ hồ về việc Mỹ xâm lược miền Nam, cho rằng Mỹ có giúp đỡ miền 
Nam, dần dần tỏ thái độ chống Mỹ: chống Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ và đồng minh 
vào miền Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh, muốn có hòa bình, độc lập và hòa 
hợp dân tộc.

        2/ Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, Tướng Dương Văn Minh 
lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với cách mạng vì đã thấy không 
còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay 
ông Minh chủ trương hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Điều này thể hiện rõ ở Tổng 
thống Dương Văn Minh chỉ định hai cơ sở của ta (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và 
luật sư Triệu Quốc Mạnh) nắm hai lực lượng vũ trang: quân đội và cảnh sát; cử 
một người dân sự (giáo sư Bùi Tường Huân) làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chưa đầy 
một ngày sau khi nhậm chức thì ngày 29/4/1975, đã ra lệnh thả tù chính trị, 
đuổi phái đoàn DAO của Mỹ; không di chuyển quân, không phá cầu v.v..

        3/- Trong điều kiện cuộc tổng tiến công quân sự của các binh đoàn chủ 
lực kết hợp với cuộc tiến công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang và quần 
chúng ở thành phố Sài Gòn – Gia Định đã tạo sức ép quân sự lớn; công tác vận 
động, binh địch vận của nhiều lực lượng ta với Tướng Dương Văn Minh; được sự 
đồng tình, tác động tích cực của những người chủ yếu trong nội các, lực lượng 
thứ ba và “nhóm Dương Văn Minh”; Tổng thống Dương Văn Minh đã quyết định “không 
chống cự”, tuyên bố “ngưng nổ súng và ở đâu ở đó vào 9g30 (sau đó tuyên bố “đầu 
hàng vô điều kiện” vào 11g30) ngày 30/4/1975 là hành động thức thời, làm giảm ý 
chí đề kháng của đại bộ phận quân đội Sài Gòn vào những giờ chót của cuộc chiến 
tranh, tạo thuận lợi cho quân giải phóng tiến nhanh vào giải phóng hoàn toàn 
thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn và không đổ máu. Nhiều thành phố và thị xã 
khác cũng được giải phóng nguyên vẹn, ít tổn thất. Chúng ta biết rõ giành được 
thắng lợi to lớn này, cuộc tổng tiến công của các quân đoàn kết hợp với các 
cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang và quần chúng địa phương đóng 
vai trò quyết định. Tuy nhiên, công bằng mà nói, hành động thức thời của Tổng 
thống Dương Văn Minh và nội các của ông đã góp phần làm cuộc chiến kết thúc 
sớm, tránh đổ nhiều xương máu của binh sĩ và nhân dân, thành phố Sài Gòn và 
nhiều đô thị còn nguyên vẹn. Đó là nghĩa cử yêu nước, thương dân của ông Dương 
Văn Minh.

        Tp. Hồ Chí Minh, ngày 30/10/2004

        ____________

              (1)
             Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế – xã hội – thương binh Chính phủ Cách 
mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam.
             
              (2)
             Phát biểu của ông Dương Văn Minh trong cuộc Thượng tướng Trần Văn 
Trà, Chủ tịch Ủy ban quân quản TP. Hồ Chí Minh tuyên bố trả quyền công dân cho 
toàn bộ viên chức Chính phủ “Việt Nam Cộng Hoà”.
             
              (3)
             Bộ đội Nam bộ tập kết ra Bắc, ở Sư đoàn 330. Sau đó chuyển ra nông 
trường quân đội.
             
              (4)
             Sách “Gởi người đang sống” (tr 334-335) của Thượng tướng Trần Văn 
Trà.
             

        Xem thêm:

          a.. Trò chuyện với con trai Dương Văn Minh
       

Tran Ba Thien
tranbathien@xxxxxxxxx

Other related posts:

  • » [SMCC] tu lieu ve tong thong Duong Van Minh - Tran Ba Thien