[SMCC] tieng Ha Noi cho ngay nay cho ngay mai
- From: "Tran Ba Thien" <tranbathien@xxxxxxxxx>
- To: <"Undisclosed-Recipient:;"@freelists.org>
- Date: Fri, 29 Dec 2006 10:01:27 +0700
Tiếng Hà Nội: cho ngày nay, cho ngày mai…
Phạm Văn Tình
Chúng ta đang tiến rất gần tới cái đích 1.000 năm Thăng Long -
Hà Nội (chỉ còn 4 năm nữa thôi). Có lẽ có rất ít những
thành phố lớn trên thế giới có lịch
sử tới một ngàn tuổi như thủ đô Hà Nội. Và cũng rất ít
thủ đô có nhiều bước thăng trầm và ẩn chứa nhiều nét văn
hoá độc đáo như thành phố cổ kính này.
Trong những nét đó, thì ngôn ngữ - mà nói cụ thể hơn là lời
ăn tiếng nói - của người Hà Nội xưa và nay là một yếu tố
làm nên văn hoá, tinh hoa đặc sắc
của văn hiến Việt Nam. Vậy tiếng Hà Nội hôm qua thế nào và
hôm nay ra sao? Cái cầu nối giữa truyền thống và hiện đại có
giữ được trong câu ca dao cửa miệng
đất Hà Thành: Chẳng thơm cũng thể hoa lài / Dẫu không thanh
lịch cũng người Tràng An?
Phương ngữ Hà Nội: có hay không?
Phương ngữ, là biến thể của ngôn ngữ toàn dân ở một địa
phương, một vùng đất cụ thể. Quốc gia nào cũng có nhiều
phương ngữ. Ở Việt Nam, các nhà chuyên
môn đã chia ra 3 vùng chính: phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ
Trung Bộ, phương ngữ Nam Bộ. Vậy nếu nói phương ngữ Hà Nội
là ta đã tiếp tục phân nhánh phương
ngữ Bắc Bộ, vì Hà Nội cũng chỉ là một địa danh (dù là
địa danh đặc biệt) của Bắc Bộ mà thôi. Nhưng chính vì
điều khác biệt này mà nhiều nhà ngôn ngữ chỉ
thừa nhận tiếng Hà Nội là một “siêu phương ngữ” do tính
đa dạng, tổng hoà của nó. Là thủ đô, Thăng Long - Hà Nội
hội đủ các yếu tố của trăm vùng đất nước:
con người, phong tục, sở thích, tiếng nói... Phồn hoa thứ nhất
Long Thành / Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ (ca dao).
Cái hay, cái đẹp (và dĩ nhiên
cả cái dở) muôn nơi đều có thể tìm thấy ở đây.
Thế hoá ra không có một tiếng Hà Nội gốc từ ngàn năm hay sao?
Hiển nhiên là phải có. Đặc trưng của kinh thành Thăng Long xưa
là đặc trưng của một đô thị
thương nghiệp và thủ công nghiệp. Mà về thương nghiệp, Thăng
Long - Kẻ Chợ là một trung tâm thương mại sầm uất với “ba
mươi sáu phố phường”. Ba mươi sáu
phố, nhưng có tới gần cả trăm phố “hàng” lớn nhỏ (một
hàng là một sản phẩm đặc thù): Hàng Buồm, Hàng Cháo, Hàng
Chiếu, Hàng Khoai, Hàng Mắm, Hàng Thùng...
Và về thủ công nghiệp, hơn một trăm làng nghề trải dài từ
nội đô ra ngoại ô đã làm nên bức tranh đa dạng vào loại
bậc nhất của nền sản xuất tự cấp, tự
túc: dệt vải, tơ lụa Nghi Tàm, Bưởi; đúc đồng Ngũ Xã; rèn
Mai Dịch; tranh Hàng Trống; gốm Bát Tràng; rượu Kẻ Mơ; bánh
cuốn Thanh Trì; cốm Vòng; trái cây
Xuân Đỉnh; đào Nhật Tân; quất Nghi Tàm; hoa Ngọc Hà; rau thơm
Láng; v.v… Chính sự phong phú của làng nghề đã tạo nên lớp
từ vựng đa dạng nhiều màu trong
giao lưu và thông thương buôn bán, với địa thế kinh thành Thăng
Long xưa “trên bến dưới thuyền”.
Sự khác biệt về mặt phương ngữ được căn cứ vào nhiều
yếu tố: giọng nói (ngữ âm), vốn từ vựng và cách nói năng,
ứng xử trong giao tiếp riêng (so với ngôn
ngữ toàn dân). Mà ứng xử muốn chuẩn, muốn hay phải qua tiếp
xúc, va chạm. Đất và người Thăng Long trăm hình nghìn vẻ.
Chính thực tế đó đã điều chỉnh làm
cho tiếng nói của người Thăng Long, người của vùng cận kề
xứ Kinh Bắc, trở thành tiêu biểu, mẫu mực và rất giàu
truyền thống văn hoá.
Hay như tiếng Hà Nội
Rất nhiều du khách thập phương (kể cả du khách ngoại quốc)
đều thừa nhận một điều: cùng với nét đẹp ngoại hình
(hình thể, trang phục...), người Hà Nội
có một giọng nói rất quyến rũ. Nghe tiếng nói, người ta cảm
thấy các thiếu nữ Hà thành nhẹ nhàng, dễ thương, đáng yêu
hơn. Không chắc nặng như tiếng miền
Trung, cũng không khác biệt quá xa về từ ngữ (đến mức khó
nghe) như ở một vài nơi khác, tiếng Hà Nội phát âm “chuẩn”
hơn. Cấu trúc âm tiết tiếng Hà Nội
là hợp với tiếng Việt chuẩn, có đầy đủ 6 thanh điệu
(không, huyền, sắc, hỏi ngã nặng, chỉ thiếu 3 âm quặt lưỡi
là [r], [s], [tr])) đã giúp cho mọi người
ở các nơi khác đến dễ nghe, dễ hiểu. Nhưng trong cái “dễ
thương” cần có, thì chất giọng chỉ giữ một vị trí nhất
định. Cái quan trọng gây thiện cảm nhất
đối với người nghe là cách nói năng, ứng xử hợp lí của
người đối thoại trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau. Cũng
là một hành vi cám ơn, nhưng lúc nào
nói “cho tôi xin”, “tôi cám ơn”, “không dám, anh chu đáo
quá”,... là một vấn đề của phong cách. Người Hà Nội từ
xưa đã rất lịch lãm trong ăn nói, thưa
gửi. Trong các sách về phong tục Hà Nội, ta thấy cách nói năng
của mỗi tầng lớp có khác nhau: gia đình Nho phong gia giáo, gia
đình giàu có tầng lớp trên,
đối tượng buôn bán (thị dân), kẻ giang hồ du thủ du thực...
A. G. Haudricourt (học giả Pháp chuyên gia nghiên cứu tiếng Việt)
đã rất chí lí khi nói rằng
“Nền tảng ngôn ngữ một cộng đồng hình thành không phải
từ một đời mà phải qua năm bảy đời mới có được”.
Người Hà Nội tứ xứ, cha mẹ ông bà tổ tiên vốn từng
ở cũng có, hoặc mới chỉ thế hệ con cái mới thực sự sinh ra
và lớn lên tại đây cũng có, hoặc là những người phương xa
mới đến kiếm kế sinh nhai cũng có.
Kiếm một người Hà Nội chính hiệu, người Hà Nội “xịn”
(đã qua bốn năm thế hệ) trong thời buổi bây giờ thật khó
trong một thành phố hơn 3 triệu dân này.
Nhưng cái “lề” của văn hoá giao tiếp từ ngàn năm Thăng Long
vẫn còn đó. Nó không hiển hiện như các di tích vật chất
khác, như Văn Miếu, Tháp Rùa, tranh
Hàng Trống hay Hoàng Thành (mới tìm ra cách đây không lâu). Nhưng
nó vẫn tiềm tàng như một di sản “hoá thạch” trong tâm khảm
và nối truyền qua bao thế
hệ. Tiếng Hà Nội đã và đang được coi là tiếng Việt chuẩn
mực, là tiếng Việt văn hoá. Đó là thứ tiếng mà cả dân Hà
Nội sử dụng hàng ngày trong giao tiếp,
trên sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Hiển
nhiên nó được coi là chuẩn mực cho ngôn ngữ toàn dân.
Cũng phải thừa nhận một thực tế hiển nhiên là, trong bối
cảnh giao lưu hội nhập, cộng đồng cư dân Hà Nội không còn
thuần chất và phương ngữ Hà Nội cũng
giao thoa, tiếp nhận nhiều nhân tố mới trong ngôn ngữ ở mọi
bình diện: từ vựng, ngữ âm, các lối nói khác nhau… Về mặt
phát âm chẳng hạn, tính bảo lưu khép
kín dần dần bị phá vỡ. Người Hà Nội đã đi đầu trong
việc tiếp thu cách phát âm phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Trước đây, cư dân Hà thành không nói, không
phân biệt và khó phát âm các âm rung, âm quặt lỡi [r, tr, s].
Chẳng hạn, những năm năm mươi, sáu mươi của thế kỉ trước,
ngời ta vẫn nói đèn bin (thay vì
đèn pin), bô-bơ-lin (thay vì pô-pơ-lin). tiếng Bu Béo (thay vì
tiếng Pu Péo); Pa-ri thì được nói là Ba-di... Bây giờ, những
phụ âm [p] [r] như thế đã hoàn
toàn bình thường. Hoặc một loạt các tổ hợp phụ âm kép [bl]
như Tôn-ny Ble, [tr] như Ô-xtrây-li-a, [nx) như Giun Lenx,… đã
được phát âm quen thuộc với mọi
người. Các nhà ngữ âm học gọi đó là hiện tượng âm vị
nhập hệ (đưa một số âm vị không thuộc hệ thống âm vị
bản ngữ vào và song hành tồn tại trong hệ thống).
Khi giao tiếp với người nước ngoài nói nhiều thứ tiếng (Anh,
Pháp, Nga, Đức, Trung,…), người Hà Nội bao giờ cũng nhanh thích
ứng và phát âm chuẩn hơn nhiều
vùng miền khác…
Tiếng Hà Nội hôm nay: nhiều điều trăn trở
Với một cộng đồng xã hội phức tạp về cư dân, về sự
phát triển mạnh mẽ ồ ạt về cơ sở vật chất (như nhà cửa,
khu công nghiệp, khu buôn bán, những nhu cầu
trong thời đại mới...) thì sự phức tạp về quan hệ, lối
sống, văn hoá bắt đầu nảy sinh. Trình độ văn hoá, mức thu
nhập và kéo theo là nhu cầu hưởng thụ
khác nhau đã làm lệch lạc nhiều hành vi ngôn ngữ là điều
rất đáng lưu ý hiện nay. Điều đáng tiếc là sự lệch lạc
lại nằm trong đối tượng đại diện cho cái
mới là lớp trẻ. Chỉ cần hoà vào một đám đông học sinh
phổ thông trung học của bất kì trường nào ở Hà Nội là ta
đã có thể thu thập được vô vàn những lối
nói “không bình thường”. Phải nói là lớp trẻ “chịu
khó” sáng tạo ra một lớp từ vựng rất phong phú. Thí dụ:
trứng ngỗng (điểm 0), vác gậy Trường Sơn (điểm
1), bật mí (giúp), bã đậu (kém thông minh), biến (đi khỏi),
cháy vở (không đạt yêu cầu khi mở vở), chặt hèo (chơi bài
ăn tiền), chết (bị điểm kém), chào
cờ (bị làm kiểm điểm), làm kinh tế mới (chôm vặt), đi tàu
suốt (bỏ, chia tay), đóng hộp (diện, chải chuốt), gà tóc nâu
(con gái nhuộm tóc vàng), gửi xe
cho cá (bị công an giữ xe), luộc (đánh bạn để trả đũa), ba
lô ngược (sinh viên mang thai), mát (chập cheng, không bình
thường), máu khô (tiền dự trữ),
vé xanh, quà đặc biệt, giấy bảo lãnh (tiền đô la), phủ phê
(xả láng, thoải mái hút, chích hêrôin)...
Gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội, nhất là khoa
học kĩ thuật hiện đại, các từ mới loại này cũng tràn vào
và cũng “ghê gớm” không kém:
"Nói mãi, các cụ tẩm chẳng chịu mua cho mình con nghẽo (xe
máy)."
"Nói với bọn cái Bích là tối nay bọn mình chát, chát, bùm
đấy nhé.” (chát: trò chuyện, trao đổi trên máy vi tính)
"Vào quán ư? Yên tâm, tớ còn ối đạn (tiền). Cứ thoải con gà
mái đi.”
“OK, khoẻ hơn lực sĩ! Em ơi, em có biết OK là gì không? Nói
thế thôi chứ em thì lạ gì. Choác (bao cao su Trust) hay OK với em
đều dùng tuốt."
Chúng ta còn thấy lớp trẻ “cập nhật” khá nhiều cách nói
mới đậm chất thời đại, như các từ ngữ tin học: "Thôi
đe-lit (delete, bỏ) chuyện ấy đi"; "Cô em
nọ chỉ giỏi hứa nhng lại ngay lập tức ken-xồ (cancel, huỷ
bỏ)”; "Đến chết không chịu ân-đu (undo, trở lại)”… Hoặc
những kiểu nói tếu táo bằng lôi tên các
nhân vật lịch sử, các nhân vật văn học, thậm chí các anh
hùng dân tộc ra để trêu đùa: "Không Phan Đình Giót, chỉ thích
Phan Đình Tu"; "Đừng có Tưởng Giới
Thạch cô em mà Hồng Lâu Mộng thế nhé: "Vô Lý Thường Kiệt";
"Phí Phạm Văn Đồng",…
Có thể nói là thiên hình vạn trạng các kiểu nói. Mà điều
chung kì lạ dễ nhận thấy là, các ngôn từ này được các sĩ
tử sử dụng một cách rất thuần thục và
say sưa. Hình như họ còn rất tự mãn vì đã thể hiện “cái
Tôi” của mình, đã sáng tạo ra những lối nói thời thượng,
“biết chơi” cho đúng mốt thời đại về mọi
thứ. Cố tình phá lệ để tìm ra một kiểu nói khác người mà
không tuân thủ các nguyên tắc cần thiết về từ ngữ, ngữ
điệu... Đầu tiên có khi chỉ là để đùa vui,
trêu chọc nhau. Sau đó thì quen, dẫn đến quá đà, không sửa
được nữa. Điều đáng chú ý và đáng lo ngại là có rất
nhiều từ đã “chuyển di” từ các nhóm xã hội
tiêu cực, như dân bụi đời ăn chơi, trộm cắp... vào giới
học sinh, sinh viên, được giới này nhiệt tình hưởng ứng sử
dụng và truyền bá.
Trong một kết quả nghiên cứu gần đây, TS Đức Uy đã cảnh
báo một điều: Tệ nạn văng tục, nói tục đang lan tràn phổ
biến trong ngôn ngữ Hà Nội. Điều này có
thể do nhiều nguyên nhân: nhận thức kém, thiếu ý thức, ngoại
cảnh môi trường tác động, bắt chước a dua, giải toả những
bức xúc trong cuộc sống... Nhưng
điều đáng lo ngại hơn cả là (cũng theo tác giả Đức Uy), 74,4
% những người mắc thói xấu này nằm ở độ tuổi 30 trở
xuống. Như vậy là lớp trẻ “chiếm ưu thế”
(!). Đây quả là điều đáng báo động.
Ngày mai bắt đầu từ hôm nay
Xét cho cùng, có nhiều lối nói khác nhau cũng góp phần làm đa
dạng thêm bức tranh ngôn ngữ dân tộc. Tuy nhiên, sự tồn tại
các hành vi nói năng phá lệ,
thiếu chuẩn mực, thiếu văn hoá là những biểu hiện khác nhau
về trình độ, văn hoá, lối sống... và rất cần có sự điều
chỉnh, uốn nắn. Sai lầm một hai lần
thì ai cũng có thể mắc, nhưng chỉ trở nên một tật xấu khi
sai lầm đó liên tục được lặp đi lặp lại trong một thời
gian dài. Muốn hạn chế điều này, người
ta phải có một cung cách giáo dục dựa trên “áp lực” của
cộng đồng. Đó là nền tảng cơ bản về nhận thức, về văn
hoá. Một hành vi kém văn hoá sẽ không có
cơ tồn tại nếu nó bị mọi người phê phán, thậm chí lên án,
tẩy chay. Và cứ thế, dần dần nó thành một phản xạ mang tính
bản năng, tự điều chỉnh cho mỗi người.
Đã có nhiều người Việt Nam ao ước mình có cơ hội được
làm ăn sinh sống tại thủ đô. Đó là một nguyện vọng bình
thường. Nhưng nếu ai đó thoả mãn được mong
muốn này thì cũng phải tự nhìn về quá khứ ngàn năm văn hiến
Thăng Long để xem mình cần thể hiện thế nào cho xứng đáng.
Dân tộc ta đã trường tồn và lớn
mạnh qua bốn ngàn năm lịch sử. Và không ai có thể trưởng
thành mà không kế thừa một chút gì truyền thống cha ông.
Người Hà Nội hôm nay có quyền tự hào
về mảnh đất mà Lý Công Uẩn đã có công gây dựng cách đây
gần 10 thế kỉ (1010). Nhưng tự hào sẽ không có ý nghĩa gì
nếu bản thân mỗi người không “hiện thực
hoá” thành một giá trị cho hiện tại. Vậy thì, nói thế nào
cho hay, cho phải cũng là một bổn phận cần có với mỗi cư dân
Hà Nội. Khi gặp người lạ, bạn biết
nói một lời hay, ấy là bạn đã khéo léo giới thiệu quê
hương mình một cách tốt nhất. Vàng thì thử lửa, thử than/
Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời
(ca dao). Lời ở đây là câu nói, là giọng nói, là cách hành xử
hợp lí, đúng mực trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Nó
vẫn là một tiêu chí quan trọng
của người Hà Nội trong một xã hội đang ngày càng hiện đại,
thanh lịch và văn minh.
Nguồn: Tác giả Phạm Văn Tình là TS ngôn ngữ học tại Viện
Ngôn ngữ Việt Nam. Bài đăng trên talawas đã được tác giả
sửa chữa và bổ sung một phần trên cơ sở
bài viết đã được ông công bố ở tạp chí Kiến thức Ngày
nay số 577 ra ngày 20/8/2006.
- Follow-Ups:
- [SMCC] Re: tieng Ha Noi cho ngay nay cho ngay mai
- From: Nguyen Xuan Huong
Other related posts:
- » [SMCC] tieng Ha Noi cho ngay nay cho ngay mai
- » [SMCC] Re: tieng Ha Noi cho ngay nay cho ngay mai
- [SMCC] Re: tieng Ha Noi cho ngay nay cho ngay mai
- From: Nguyen Xuan Huong