[SMCC] tieng Ha Noi cho ngay nay cho ngay mai

 

Tiếng Hà Nội: cho ngày nay, cho ngày mai…
Phạm Văn Tình 
Chúng ta đang tiến rất gần tới cái đích 1.000 năm Thăng Long - 
Hà Nội (chỉ còn 4 năm nữa thôi). Có lẽ có rất ít những 
thành phố lớn trên thế giới có lịch
sử tới một ngàn tuổi như thủ đô Hà Nội. Và cũng rất ít 
thủ đô có nhiều bước thăng trầm và ẩn chứa nhiều nét văn 
hoá độc đáo như thành phố cổ kính này.
Trong những nét đó, thì ngôn ngữ - mà nói cụ thể hơn là lời 
ăn tiếng nói - của người Hà Nội xưa và nay là một yếu tố 
làm nên văn hoá, tinh hoa đặc sắc
của văn hiến Việt Nam. Vậy tiếng Hà Nội hôm qua thế nào và 
hôm nay ra sao? Cái cầu nối giữa truyền thống và hiện đại có 
giữ được trong câu ca dao cửa miệng
đất Hà Thành: Chẳng thơm cũng thể hoa lài / Dẫu không thanh 
lịch cũng người Tràng An? 


Phương ngữ Hà Nội: có hay không? 

Phương ngữ, là biến thể của ngôn ngữ toàn dân ở một địa 
phương, một vùng đất cụ thể. Quốc gia nào cũng có nhiều 
phương ngữ. Ở Việt Nam, các nhà chuyên
môn đã chia ra 3 vùng chính: phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ 
Trung Bộ, phương ngữ Nam Bộ. Vậy nếu nói phương ngữ Hà Nội 
là ta đã tiếp tục phân nhánh phương
ngữ Bắc Bộ, vì Hà Nội cũng chỉ là một địa danh (dù là 
địa danh đặc biệt) của Bắc Bộ mà thôi. Nhưng chính vì 
điều khác biệt này mà nhiều nhà ngôn ngữ chỉ
thừa nhận tiếng Hà Nội là một “siêu phương ngữ” do tính 
đa dạng, tổng hoà của nó. Là thủ đô, Thăng Long - Hà Nội 
hội đủ các yếu tố của trăm vùng đất nước:
con người, phong tục, sở thích, tiếng nói... Phồn hoa thứ nhất 
Long Thành / Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ (ca dao). 
Cái hay, cái đẹp (và dĩ nhiên
cả cái dở) muôn nơi đều có thể tìm thấy ở đây. 

Thế hoá ra không có một tiếng Hà Nội gốc từ ngàn năm hay sao? 
Hiển nhiên là phải có. Đặc trưng của kinh thành Thăng Long xưa 
là đặc trưng của một đô thị
thương nghiệp và thủ công nghiệp. Mà về thương nghiệp, Thăng 
Long - Kẻ Chợ là một trung tâm thương mại sầm uất với “ba 
mươi sáu phố phường”. Ba mươi sáu
phố, nhưng có tới gần cả trăm phố “hàng” lớn nhỏ (một 
hàng là một sản phẩm đặc thù): Hàng Buồm, Hàng Cháo, Hàng 
Chiếu, Hàng Khoai, Hàng Mắm, Hàng Thùng...
Và về thủ công nghiệp, hơn một trăm làng nghề trải dài từ 
nội đô ra ngoại ô đã làm nên bức tranh đa dạng vào loại 
bậc nhất của nền sản xuất tự cấp, tự
túc: dệt vải, tơ lụa Nghi Tàm, Bưởi; đúc đồng Ngũ Xã; rèn 
Mai Dịch; tranh Hàng Trống; gốm Bát Tràng; rượu Kẻ Mơ; bánh 
cuốn Thanh Trì; cốm Vòng; trái cây
Xuân Đỉnh; đào Nhật Tân; quất Nghi Tàm; hoa Ngọc Hà; rau thơm 
Láng; v.v… Chính sự phong phú của làng nghề đã tạo nên lớp 
từ vựng đa dạng nhiều màu trong
giao lưu và thông thương buôn bán, với địa thế kinh thành Thăng 
Long xưa “trên bến dưới thuyền”. 

Sự khác biệt về mặt phương ngữ được căn cứ vào nhiều 
yếu tố: giọng nói (ngữ âm), vốn từ vựng và cách nói năng, 
ứng xử trong giao tiếp riêng (so với ngôn
ngữ toàn dân). Mà ứng xử muốn chuẩn, muốn hay phải qua tiếp 
xúc, va chạm. Đất và người Thăng Long trăm hình nghìn vẻ. 
Chính thực tế đó đã điều chỉnh làm
cho tiếng nói của người Thăng Long, người của vùng cận kề 
xứ Kinh Bắc, trở thành tiêu biểu, mẫu mực và rất giàu 
truyền thống văn hoá. 


Hay như tiếng Hà Nội 

Rất nhiều du khách thập phương (kể cả du khách ngoại quốc) 
đều thừa nhận một điều: cùng với nét đẹp ngoại hình 
(hình thể, trang phục...), người Hà Nội
có một giọng nói rất quyến rũ. Nghe tiếng nói, người ta cảm 
thấy các thiếu nữ Hà thành nhẹ nhàng, dễ thương, đáng yêu 
hơn. Không chắc nặng như tiếng miền
Trung, cũng không khác biệt quá xa về từ ngữ (đến mức khó 
nghe) như ở một vài nơi khác, tiếng Hà Nội phát âm “chuẩn” 
hơn. Cấu trúc âm tiết tiếng Hà Nội
là hợp với tiếng Việt chuẩn, có đầy đủ 6 thanh điệu 
(không, huyền, sắc, hỏi ngã nặng, chỉ thiếu 3 âm quặt lưỡi 
là [r], [s], [tr])) đã giúp cho mọi người
ở các nơi khác đến dễ nghe, dễ hiểu. Nhưng trong cái “dễ 
thương” cần có, thì chất giọng chỉ giữ một vị trí nhất 
định. Cái quan trọng gây thiện cảm nhất
đối với người nghe là cách nói năng, ứng xử hợp lí của 
người đối thoại trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau. Cũng 
là một hành vi cám ơn, nhưng lúc nào
nói “cho tôi xin”, “tôi cám ơn”, “không dám, anh chu đáo 
quá”,... là một vấn đề của phong cách. Người Hà Nội từ 
xưa đã rất lịch lãm trong ăn nói, thưa
gửi. Trong các sách về phong tục Hà Nội, ta thấy cách nói năng 
của mỗi tầng lớp có khác nhau: gia đình Nho phong gia giáo, gia 
đình giàu có tầng lớp trên,
đối tượng buôn bán (thị dân), kẻ giang hồ du thủ du thực... 
A. G. Haudricourt (học giả Pháp chuyên gia nghiên cứu tiếng Việt) 
đã rất chí lí khi nói rằng
“Nền tảng ngôn ngữ một cộng đồng hình thành không phải 
từ một đời mà phải qua năm bảy đời mới có được”. 
Người Hà Nội tứ xứ, cha mẹ ông bà tổ tiên vốn từng
ở cũng có, hoặc mới chỉ thế hệ con cái mới thực sự sinh ra 
và lớn lên tại đây cũng có, hoặc là những người phương xa 
mới đến kiếm kế sinh nhai cũng có.
Kiếm một người Hà Nội chính hiệu, người Hà Nội “xịn” 
(đã qua bốn năm thế hệ) trong thời buổi bây giờ thật khó 
trong một thành phố hơn 3 triệu dân này.
Nhưng cái “lề” của văn hoá giao tiếp từ ngàn năm Thăng Long 
vẫn còn đó. Nó không hiển hiện như các di tích vật chất 
khác, như Văn Miếu, Tháp Rùa, tranh
Hàng Trống hay Hoàng Thành (mới tìm ra cách đây không lâu). Nhưng 
nó vẫn tiềm tàng như một di sản “hoá thạch” trong tâm khảm 
và nối truyền qua bao thế
hệ. Tiếng Hà Nội đã và đang được coi là tiếng Việt chuẩn 
mực, là tiếng Việt văn hoá. Đó là thứ tiếng mà cả dân Hà 
Nội sử dụng hàng ngày trong giao tiếp,
trên sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Hiển 
nhiên nó được coi là chuẩn mực cho ngôn ngữ toàn dân. 

Cũng phải thừa nhận một thực tế hiển nhiên là, trong bối 
cảnh giao lưu hội nhập, cộng đồng cư dân Hà Nội không còn 
thuần chất và phương ngữ Hà Nội cũng
giao thoa, tiếp nhận nhiều nhân tố mới trong ngôn ngữ ở mọi 
bình diện: từ vựng, ngữ âm, các lối nói khác nhau… Về mặt 
phát âm chẳng hạn, tính bảo lưu khép
kín dần dần bị phá vỡ. Người Hà Nội đã đi đầu trong 
việc tiếp thu cách phát âm phù hợp với chuẩn mực quốc tế. 
Trước đây, cư dân Hà thành không nói, không
phân biệt và khó phát âm các âm rung, âm quặt lỡi [r, tr, s]. 
Chẳng hạn, những năm năm mươi, sáu mươi của thế kỉ trước, 
ngời ta vẫn nói đèn bin (thay vì
đèn pin), bô-bơ-lin (thay vì pô-pơ-lin). tiếng Bu Béo (thay vì 
tiếng Pu Péo); Pa-ri thì được nói là Ba-di... Bây giờ, những 
phụ âm [p] [r] như thế đã hoàn
toàn bình thường. Hoặc một loạt các tổ hợp phụ âm kép [bl] 
như Tôn-ny Ble, [tr] như Ô-xtrây-li-a, [nx) như Giun Lenx,… đã 
được phát âm quen thuộc với mọi
người. Các nhà ngữ âm học gọi đó là hiện tượng âm vị 
nhập hệ (đưa một số âm vị không thuộc hệ thống âm vị 
bản ngữ vào và song hành tồn tại trong hệ thống).
Khi giao tiếp với người nước ngoài nói nhiều thứ tiếng (Anh, 
Pháp, Nga, Đức, Trung,…), người Hà Nội bao giờ cũng nhanh thích 
ứng và phát âm chuẩn hơn nhiều
vùng miền khác… 


Tiếng Hà Nội hôm nay: nhiều điều trăn trở 

Với một cộng đồng xã hội phức tạp về cư dân, về sự 
phát triển mạnh mẽ ồ ạt về cơ sở vật chất (như nhà cửa, 
khu công nghiệp, khu buôn bán, những nhu cầu
trong thời đại mới...) thì sự phức tạp về quan hệ, lối 
sống, văn hoá bắt đầu nảy sinh. Trình độ văn hoá, mức thu 
nhập và kéo theo là nhu cầu hưởng thụ
khác nhau đã làm lệch lạc nhiều hành vi ngôn ngữ là điều 
rất đáng lưu ý hiện nay. Điều đáng tiếc là sự lệch lạc 
lại nằm trong đối tượng đại diện cho cái
mới là lớp trẻ. Chỉ cần hoà vào một đám đông học sinh 
phổ thông trung học của bất kì trường nào ở Hà Nội là ta 
đã có thể thu thập được vô vàn những lối
nói “không bình thường”. Phải nói là lớp trẻ “chịu 
khó” sáng tạo ra một lớp từ vựng rất phong phú. Thí dụ: 
trứng ngỗng (điểm 0), vác gậy Trường Sơn (điểm
1), bật mí (giúp), bã đậu (kém thông minh), biến (đi khỏi), 
cháy vở (không đạt yêu cầu khi mở vở), chặt hèo (chơi bài 
ăn tiền), chết (bị điểm kém), chào
cờ (bị làm kiểm điểm), làm kinh tế mới (chôm vặt), đi tàu 
suốt (bỏ, chia tay), đóng hộp (diện, chải chuốt), gà tóc nâu 
(con gái nhuộm tóc vàng), gửi xe
cho cá (bị công an giữ xe), luộc (đánh bạn để trả đũa), ba 
lô ngược (sinh viên mang thai), mát (chập cheng, không bình 
thường), máu khô (tiền dự trữ),
vé xanh, quà đặc biệt, giấy bảo lãnh (tiền đô la), phủ phê 
(xả láng, thoải mái hút, chích hêrôin)... 

Gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội, nhất là khoa 
học kĩ thuật hiện đại, các từ mới loại này cũng tràn vào 
và cũng “ghê gớm” không kém: 

"Nói mãi, các cụ tẩm chẳng chịu mua cho mình con nghẽo (xe 
máy)." 

"Nói với bọn cái Bích là tối nay bọn mình chát, chát, bùm 
đấy nhé.” (chát: trò chuyện, trao đổi trên máy vi tính) 

"Vào quán ư? Yên tâm, tớ còn ối đạn (tiền). Cứ thoải con gà 
mái đi.” 

“OK, khoẻ hơn lực sĩ! Em ơi, em có biết OK là gì không? Nói 
thế thôi chứ em thì lạ gì. Choác (bao cao su Trust) hay OK với em 
đều dùng tuốt." 

Chúng ta còn thấy lớp trẻ “cập nhật” khá nhiều cách nói 
mới đậm chất thời đại, như các từ ngữ tin học: "Thôi 
đe-lit (delete, bỏ) chuyện ấy đi"; "Cô em
nọ chỉ giỏi hứa nhng lại ngay lập tức ken-xồ (cancel, huỷ 
bỏ)”; "Đến chết không chịu ân-đu (undo, trở lại)”… Hoặc 
những kiểu nói tếu táo bằng lôi tên các
nhân vật lịch sử, các nhân vật văn học, thậm chí các anh 
hùng dân tộc ra để trêu đùa: "Không Phan Đình Giót, chỉ thích 
Phan Đình Tu"; "Đừng có Tưởng Giới
Thạch cô em mà Hồng Lâu Mộng thế nhé: "Vô Lý Thường Kiệt"; 
"Phí Phạm Văn Đồng",… 

Có thể nói là thiên hình vạn trạng các kiểu nói. Mà điều 
chung kì lạ dễ nhận thấy là, các ngôn từ này được các sĩ 
tử sử dụng một cách rất thuần thục và
say sưa. Hình như họ còn rất tự mãn vì đã thể hiện “cái 
Tôi” của mình, đã sáng tạo ra những lối nói thời thượng, 
“biết chơi” cho đúng mốt thời đại về mọi
thứ. Cố tình phá lệ để tìm ra một kiểu nói khác người mà 
không tuân thủ các nguyên tắc cần thiết về từ ngữ, ngữ 
điệu... Đầu tiên có khi chỉ là để đùa vui,
trêu chọc nhau. Sau đó thì quen, dẫn đến quá đà, không sửa 
được nữa. Điều đáng chú ý và đáng lo ngại là có rất 
nhiều từ đã “chuyển di” từ các nhóm xã hội
tiêu cực, như dân bụi đời ăn chơi, trộm cắp... vào giới 
học sinh, sinh viên, được giới này nhiệt tình hưởng ứng sử 
dụng và truyền bá. 

Trong một kết quả nghiên cứu gần đây, TS Đức Uy đã cảnh 
báo một điều: Tệ nạn văng tục, nói tục đang lan tràn phổ 
biến trong ngôn ngữ Hà Nội. Điều này có
thể do nhiều nguyên nhân: nhận thức kém, thiếu ý thức, ngoại 
cảnh môi trường tác động, bắt chước a dua, giải toả những 
bức xúc trong cuộc sống... Nhưng
điều đáng lo ngại hơn cả là (cũng theo tác giả Đức Uy), 74,4 
% những người mắc thói xấu này nằm ở độ tuổi 30 trở 
xuống. Như vậy là lớp trẻ “chiếm ưu thế”
(!). Đây quả là điều đáng báo động. 


Ngày mai bắt đầu từ hôm nay 

Xét cho cùng, có nhiều lối nói khác nhau cũng góp phần làm đa 
dạng thêm bức tranh ngôn ngữ dân tộc. Tuy nhiên, sự tồn tại 
các hành vi nói năng phá lệ,
thiếu chuẩn mực, thiếu văn hoá là những biểu hiện khác nhau 
về trình độ, văn hoá, lối sống... và rất cần có sự điều 
chỉnh, uốn nắn. Sai lầm một hai lần
thì ai cũng có thể mắc, nhưng chỉ trở nên một tật xấu khi 
sai lầm đó liên tục được lặp đi lặp lại trong một thời 
gian dài. Muốn hạn chế điều này, người
ta phải có một cung cách giáo dục dựa trên “áp lực” của 
cộng đồng. Đó là nền tảng cơ bản về nhận thức, về văn 
hoá. Một hành vi kém văn hoá sẽ không có
cơ tồn tại nếu nó bị mọi người phê phán, thậm chí lên án, 
tẩy chay. Và cứ thế, dần dần nó thành một phản xạ mang tính 
bản năng, tự điều chỉnh cho mỗi người.


Đã có nhiều người Việt Nam ao ước mình có cơ hội được 
làm ăn sinh sống tại thủ đô. Đó là một nguyện vọng bình 
thường. Nhưng nếu ai đó thoả mãn được mong
muốn này thì cũng phải tự nhìn về quá khứ ngàn năm văn hiến 
Thăng Long để xem mình cần thể hiện thế nào cho xứng đáng. 
Dân tộc ta đã trường tồn và lớn
mạnh qua bốn ngàn năm lịch sử. Và không ai có thể trưởng 
thành mà không kế thừa một chút gì truyền thống cha ông. 
Người Hà Nội hôm nay có quyền tự hào
về mảnh đất mà Lý Công Uẩn đã có công gây dựng cách đây 
gần 10 thế kỉ (1010). Nhưng tự hào sẽ không có ý nghĩa gì 
nếu bản thân mỗi người không “hiện thực
hoá” thành một giá trị cho hiện tại. Vậy thì, nói thế nào 
cho hay, cho phải cũng là một bổn phận cần có với mỗi cư dân 
Hà Nội. Khi gặp người lạ, bạn biết
nói một lời hay, ấy là bạn đã khéo léo giới thiệu quê 
hương mình một cách tốt nhất. Vàng thì thử lửa, thử than/ 
Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời
(ca dao). Lời ở đây là câu nói, là giọng nói, là cách hành xử 
hợp lí, đúng mực trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Nó 
vẫn là một tiêu chí quan trọng
của người Hà Nội trong một xã hội đang ngày càng hiện đại, 
thanh lịch và văn minh. 

Nguồn: Tác giả Phạm Văn Tình là TS ngôn ngữ học tại Viện 
Ngôn ngữ Việt Nam. Bài đăng trên talawas đã được tác giả 
sửa chữa và bổ sung một phần trên cơ sở
bài viết đã được ông công bố ở tạp chí Kiến thức Ngày 
nay số 577 ra ngày 20/8/2006.

Other related posts: