[SMCC] sat thu kinh te
- From: "Tran Ba Thien" <tranbathien@xxxxxxxxx>
- To: <"Undisclosed-Recipient:;"@freelists.org>
- Date: Fri, 29 May 2009 07:46:25 +0700
Bí mật kiếm tiền của 'sát thủ' kinh tế Mỹ
"Trong vòng quay định mệnh thú vị đã đẩy rất nhiều nhà hoạch định chính sách
của chính phủ Mỹ vào những vị trí hấp dẫn trong công ty. Và tôi đã được chọn
vào vị trí chủ tịch một trong những công ty hùng mạnh nhất Bolivia", John
Perkins - một sát thủ kinh tế Mỹ nhớ lại.
"Bolivia là biểu tượng của vùng đất bị đế quốc bóc lột”. Lời nói của một giáo
viên trong khu đào tạo của Tổ chức Hòa bình Mỹ tại Escondido, California, năm
1968 vẫn mãi đeo đuổi tôi. Người giáo viên này từng sống ở Bolivia và ông liên
tiếp tạo ấn tượng sâu sắc với chúng tôi về những tổn thất do sự áp bức hàng thế
kỷ mang lại.
Sau khi kết thúc khóa đào tạo và trở thành tình nguyện viên tại Ecuador, tôi
vẫn thường nghĩ về Bolivia. Tôi bị hớp hồn bởi mảnh đất nằm trọn vẹn trong đất
liền này. Trên bản đồ, nó giống như một chỗ trũng trên chiếc bánh cam vòng được
bao quanh bởi các nước Peru, Chile, Argentina, Paraguay và Brazil. Trong suốt
thời gian làm việc cho Tổ chức Hòa bình Mỹ, tôi đã đến thăm tất cả các nước này
trừ một nước. Tôi tránh Paraguay như một cá nhân phản đối kẻ cầm quyền Tướng
Gen. Alfredo Stroessner cùng chính sách che đỡ sĩ quan Nazi SS của ông ta. Tôi
cố ý nói vòng vo về Bolivia bởi vì những người Bắc Mỹ trẻ tuổi mà chúng ta
thường gọi là “người đi theo đường mòn” đôi khi miêu tả Bolivia là đất nước còn
tàn bạo với người Anhđiêng hơn cả Ecuador.
Lần cuối cùng trước khi đến Bolivia với tư cách một sát thủ kinh tế giữa những
năm 1970, tôi đã tiến hành một nghiên cứu. Tôi khám phá ra rằng sự đàn áp ở nơi
đây vượt xa những gì tôi tưởng tượng, những điều mà người giáo viên của Tổ chức
Hòa bình Mỹ và những người hành hương Mỹ đã giải thích phần nào cho tôi. Kể từ
buổi sơ khai trong lịch sử, đất nước này đã bị bạo lực giày xéo, trở thành nạn
nhân của biết bao đế quốc và những kẻ chuyên quyền độc ác.
Thế kỷ XIII, nền văn hóa bản địa Bolivia bị những người Incas đánh bại. Trong
những năm 1530, quân xâm lược Tây Ban Nha đã đến đây, đánh đuổi người Incas,
gây ra hàng nghìn cuộc tàn sát đẫm máu và cai trị đất nước bằng chính sách cú
đấm thép đến tận năm 1825. Trong những cuộc chiến tranh từ 1879 đến 1935,
Bolivia đã mất: bờ biển Thái Bình Dương cho Chile, vùng Chaco với các mỏ dầu
khổng lồ rơi vào tay Paraguay và rừng nhiệt đới trồng cao su thuộc về Brazil.
Những năm 1950, chính phủ cải tổ dưới thời Victor Paz Estenssoro đã khởi xướng
các chương trình nhằm nâng cao đời sống cho đông đảo người dân Anhđiêng và đồng
thời tiến hành quốc hữu hóa các mỏ thiếc. Cộng đồng doanh nghiệp quốc tế rất
phẫn nộ trước sự việc này. Năm 1964, chính quyền của Estenssoro bị một nhóm sĩ
quan đảo chính lật đổ. Chẳng có gì lạ khi CIA có nhúng tay vào vụ này. Đến
những năm 1970, các cuộc đảo chính và chống đảo chính đã đẩy đất nước này vào
thời kỳ bi thương.
Vấn đề địa lý ngày càng trở nên căng thẳng. Đất nước bị hai dãy núi Andean lởm
chởm dựng đứng chia thành ba vùng riêng biệt: vùng cao nguyên khô cằn không có
sự sống được biết đến với cái tên Altiplano, thung lũng cận nhiệt đới ở phía
Tây, vùng đất thấp và các khu rừng nhiệt đới ở phía Đông.
Trong chín triệu người dân Bolivia, đa số đều là người Anhđiêng, những người từ
bao đời nay kiếm sống nhờ vào những trang trại tự cung tự cấp bên sườn núi
Andean lộng gió. Là một đất nước đa dạng về dân tộc, ở Bolivia có ba ngôn ngữ
chính thống: Quechua, Aymara và Tây Ban Nha. Mặc dù được thiên nhiên phú cho
nguồn tài nguyên phong phú - bạc, thiếc, kẽm, dầu mỏ, thủy điện và trữ lượng
khí đốt tự nhiên lớn thứ hai Nam Mỹ (chỉ sau Venezuela) - nhưng Bolivia lại có
tên trong danh sách một trong những nước nghèo nhất bán cầu.
Đây cũng là một trong những quốc gia đầu tiên thực hiện Chương trình điều chỉnh
cơ cấu (Structural Adjustment Programs - SAPs) của IMF. Tôi cũng là người phải
chịu trách nhiệm phần nào về chương trình này.
Khi tôi đến Bolivia vào giữa những năm 1970, mối lo sợ từ cuộc nổi dậy của Che
Guevara đã thúc đẩy việc thành lập một liên minh giữa quân đội và những người
có thế lực về kinh tế. Liên minh trở nên vô cùng tàn bạo với cộng đồng những
người bản địa. Nhiệm vụ của chúng tôi khi đó là tìm ra cách thuyết phục liên
minh này hợp nhất với tập đoàn trị.
Trong suốt các cuộc họp với sự tham gia đông đảo những người Bolivia, tôi nảy
ra một sáng kiến mà sau này đã góp phần phổ biến SAP rộng rãi ra rất nhiều quốc
gia trong hai thập niên 1980 và 1990. Giống như Suharto ở Indonesia, những kẻ
cầm quyền Bolivia cũng bị giật dây, buộc phải tuân theo chương trình bán tài
nguyên cho nước ngoài. Những kẻ này từ lâu đã làm tay sai cho các công ty khai
khoáng nước ngoài và phất lên nhờ đó. Họ bị lún sâu trong những khoản nợ nần,
trở nên yếu thế trước các nước láng giềng, những kẻ thù cũ cũng như người dân
bản địa. Họ mong muốn Washington cam kết bảo hộ và có thể phát triển nhanh
chóng. Họ làm theo mô hình của Suharto, đầu tư tài sản vào Mỹ và châu Âu. Nhờ
vậy, họ không phải chịu ảnh hưởng của những cuộc khủng hoảng kinh tế trong
tương lai ở Bolivia.
Tại các cuộc họp sơ bộ trong những năm 1970, tôi đưa ra kết luận Bolivia đã
chín muồi để bắt đầu tiến hành tư nhân hóa. Các doanh nhân, chính trị gia ở La
Paz hồ hởi mở rộng mô hình do các công ty khai thác mỏ khởi xướng. Mặc dù, đây
là hành động phản bội chủ quyền quốc gia nhưng lại có thể giúp họ thoát khỏi
gánh nặng phải tăng thu ngân sách từ thuế, thị trường vốn và cả những tài khoản
ngân hàng của chính họ để phát triển hệ thống điện, nước, xử lý rác thải, mạng
lưới giao thông, liên lạc, thậm chí cả hệ thống giáo dục và an ninh.
Với sự giúp đỡ của tôi, họ hiểu rằng họ sẽ có lợi từ các hợp đồng phụ béo bở,
con cái họ sẽ được hưởng chính sách giáo dục chi trả toàn phần tại Mỹ, được
thực tập tại các công ty xây dựng và lắp ráp có uy tín nhất. Họ nhiệt tình tán
thành chính sách giảm thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài và chấp thuận bãi bỏ
hàng rào thương mại đối với các mặt hàng nhập khẩu từ Mỹ. Đồng thời, họ chấp
nhận việc chúng tôi đánh thuế sản phẩm của đất nước họ. Về cơ bản, liên minh
quân đội và những kẻ có thế lực kinh tế tại Bolivia sẵn sàng hưởng ứng những tư
tưởng hình thành nên mô hình chủ nghĩa thực dân kiểu mới miễn là nó được diễn
đạt dưới những thuật ngữ mỹ miều của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, chẳng hạn như “quản
lý hiệu quả”, “kinh tế học lành mạnh” hay “điều chỉnh cơ cấu”.
Sau khi chính phủ thông qua điều luật cho phép các doanh nghiệp liên doanh thu
hút vốn nước ngoài và bãi bỏ những hạn chế về trao đổi hối đoái, chỉ trong một
thời gian ngắn, năm công ty quốc doanh lớn nhất Bolivia đều được tiến hành tư
nhân hóa. Thêm vào đó, chính phủ cũng đề ra kế hoạch trong năm 1990. Đó là bán
150 công ty quốc doanh cho các nhà đầu tư nước ngoài. Và trong vòng quay định
mệnh thú vị - một biểu tượng của cánh cửa quay đẩy rất nhiều nhà hoạch định
chính sách của chính phủ Mỹ vào các vị trí hấp dẫn của công ty - tôi đã được
đẩy vào vị trí chủ tịch của một trong những công ty hùng mạnh nhất Bolivia.
Năm 1990, Leucadia National Corporation, một công ty Mỹ, đã liên lạc và đề nghị
tôi làm chủ tịch một chi nhánh sở hữu toàn phần của họ - Công ty năng lượng
Bolivia (viết tắt là COBEE theo tiếng Tây Ban Nha). Leucadia trước đó đã rất
nổi tiếng vì là công ty thu mua các công ty gặp rắc rối về tài chính và biến
chúng thành những trung tâm lợi nhuận khổng lồ. (Năm 2004, Leucadia càng thêm
nổi tiếng hơn khi kiếm được một giấy phép không minh bạch mua vào hơn 50% cổ
phiếu của MCI - nhà vận chuyển đường dài lớn thứ hai của Mỹ). Những người đại
diện công ty này cho tôi hay tôi là người duy nhất đủ năng lực để điều hành
COBEE. Không chỉ có công trong quá trình triển khai SAP tại Bolivia, tôi còn:
1. Là Giám đốc điều hành (CEO) của công ty năng lượng hoạt động độc lập, rất
thành công tại Mỹ (công ty do tôi lập ra khi rời khỏi hàng ngũ những sát thủ
kinh tế, nơi đã mang lại cho tôi danh tiếng và tiền bạc).
2. Tôi nói được tiếng Tây Ban Nha và hiểu rõ các nền văn hóa Mỹ Latinh.
3. Tôi từng là một sát thủ kinh tế, một yếu tố lý tưởng có thể đảm bảo những
khoản vay cần thiết từ Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Mỹ để mở
rộng và nâng cấp hệ thống COBEE.
Sau cuộc phỏng vấn tại bờ Biển Đông, Leucadia đưa tôi cùng vợ tôi, Winifred, và
con gái 7 tuổi của tôi, Jessica, tới lâu đài ở Salt Lake City nơi Ian Cumming,
Tổng giám đốc điều hành công ty và vợ ông đang sinh sống. Sau cuộc họp ban đầu
với một số ủy viên ban quản trị, chúng tôi dùng bữa trang trọng cùng gia đình
ông. Đó là một bữa tiệc năm món do đầu bếp và những người làm trong gia đình
phục vụ. Sau đó, Ian Cumming và tôi đến văn phòng của ông nói chuyện riêng.
Đúng lúc ấy, một người phụ tá bước vào xen ngang chúng tôi. Anh ta giải thích
rằng anh ta vừa nhận được một bản fax từ La Paz nhưng người phiên dịch tiếng
Tây Ban Nha vắng mặt vì phải đi khám bác sĩ nên anh ta hy vọng tôi có thể giúp
họ. Khi tôi dịch lá thư ra tiếng Anh, tôi tin chắc người ta đang cố tình kiểm
tra khả năng ngoại ngữ của tôi.
Hiển nhiên là tôi đã qua được cuộc kiểm tra này và cả những cuộc kiểm tra khác
nữa. Sau chuyến thăm Salt Lake City, Leucadia sắp xếp cho gia đình chúng tôi
đến Bolivia.
Chúng tôi đáp xuống El Alto, một trong những sân bay thương mại lớn nhất thế
giới, nằm trên một cao nguyên cao hơn mực nước biển khoảng 4.000m. Sau khi hoàn
tất các thủ tục hải quan, chúng tôi được chủ tịch đương nhiệm của COBEE cùng vợ
ông đón tiếp. Trong thời gian chúng tôi ở đây, họ và các ủy viên trong ban quản
trị đối xử với chúng tôi như hoàng thân. Họ hộ tống chúng tôi đến những khu chợ
nhộn nhịp, bảo tàng, nhà thờ thuộc địa và trường học dành riêng cho người Mỹ
nơi Jessica sắp tới sẽ theo học. Thậm chí, cả câu lạc bộ những người giàu có
cũng đón tiếp chúng tôi như thành viên trong gia đình họ. Họ đưa chúng tôi đi
thăm các thắng cảnh tự nhiên trên những ngọn núi quanh La Paz, và cả những khối
sa thạch bị ăn mòn hết sức kỳ dị ở thung lũng Mặt trăng. Họ dẫn chúng tôi đến
các nhà máy năng lượng, trạm chuyển tiếp và đi thăm các dây chuyền sản xuất.
Một buổi chiều mưa lạnh lẽo, một ủy viên ban quản trị công ty thông báo anh ta
sẽ cho chúng tôi xem “trái tim và linh hồn của công ty”. Tôi chờ đợi điều kỳ
diệu của một công trình mang tính nghệ thuật. Nhưng thay vì điều đó, tài xế của
anh ta lại đưa chúng tôi đến một ngân hàng thương mại ở trung tâm La Paz trong
làn mưa lạnh lẽo.
Một hàng dài người Anhđiêng rách rưới ngồi trước cửa ngân hàng và xung quanh
tòa nhà đang túm tụm vào nhau để ngăn những giọt mưa lạnh lẽo. Một vài người
khác lấy những tờ báo che đầu. Họ mặc quần áo truyền thống, quần len, áo dài và
áo poncho. Tôi hạ cửa kính xe xuống. Một luồng khí lạnh mang theo mùi áo len ẩm
ướt và mùi của những cơ thể lâu ngày không tắm phả vào mặt tôi. Hình ảnh trên
giống như những gì còn sót lại của thời kỳ quân xâm lược Tây Ban Nha bắt họ
phải xếp hàng làm việc trong các mỏ thiếc. Họ lặng im, chỉ đơn giản đứng đó,
nhìn chằm chằm và thỉnh thoảng bước qua bước lại trước những cánh cửa đồ sộ của
ngân hàng, nơi một nhóm lính gác có vũ khí luôn đứng canh chừng. Có rất nhiều
trẻ em cũng đứng trong hàng dài đó, nhiều phụ nữ mang theo con nhỏ quấn trong
chiếc khăn choàng bất chấp nước mưa đang nhỏ xuống từ vai họ. “Họ đến để thanh
toán hóa đơn tiền điện đấy”, người ủy viên ban quản trị nói.
“Tàn nhẫn làm sao!” Winifred thì thầm. “Ngược lại mới đúng”, người ủy viên sửa
lại, “Họ là những người may mắn. Không giống như người dân sống ở vùng nông
thôn, họ được hưởng đặc quyền, được tiếp cận với mạng lưới điện. Họ có điện”.
Khi chúng tôi trở về văn phòng, vị ủy viên ban quản trị chuyển lên ngồi ghế
trên, cạnh người lái xe. Anh ta giải thích qua đại sứ quán Mỹ, COBEE đã gửi
những túi tiền khổng lồ cho công ty mẹ. Đó là số tiền mà những người Aymara và
Quechua phải xếp hàng dài để nộp phí. “Công ty là một con bò mà Leucadia có thể
vắt sữa tới già”, anh ta nói đầy vui sướng.
Sau đó, tôi được biết thêm là mặc dù việc sử dụng điện của người dân chỉ giới
hạn ở một bóng đèn nhưng mỗi tháng một lần họ lại phải lặn lội tới ngân hàng.
Không có những thủ tục kiểm tra tài khoản hay thẻ tín dụng, họ kiên nhẫn đứng
xếp hàng chờ đợi và thanh toán bằng tiền mặt.
Đêm đó, trở về phòng, Winifred hỏi tôi tại sao đại sứ quán lại đóng vai trò
chuyển tiền cho các công ty tư nhân. Tôi không có câu trả lời ngoại trừ một sự
thật hiển nhiên: về bản chất, sứ mệnh ngoại giao của Hoa Kỳ trên toàn thế giới
chỉ là nhằm phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn trị. Chúng tôi cũng tự hỏi tại
sao vị ủy viên quản trị lại vượt quyền chỉ cho chúng tôi thấy những chuyện này.
“Anh ta dường như quá hãnh diện về nó”, vợ tôi nói, “Thật là một quan niệm lệch
lạc về tài chính”.
Sáng hôm sau, chúng tôi được nghe tóm tắt sơ lược dự án Zongo River. Với tôi,
nó có ý nghĩa thực sự như trái tim và linh hồn của COBEE. Rất nổi tiếng trong
giới lãnh đạo ngành công nghiệp năng lượng của Mỹ Latinh, dự án này bao gồm
nhiều nhà máy thủy điện nằm trải dài từ dãy núi Andes xuống các hẻm núi sâu.
Đây là mô hình của những nhà máy làm việc hiệu quả và thân thiện với môi
trường. Một vài kỹ sư cam đoan, để nhìn thấy tận mắt nhà máy thủy điện đáng để
chúng tôi đi một chuyến gian nan như thế. Một người lắc đầu buồn bã “Điều đó sẽ
chẳng bao giờ diễn ra mất”. Anh ta than thở “Tất cả chúng tôi đều rất thích dự
án này vì nó là hình mẫu lý tưởng nơi mọi thứ đều có thể trở thành sự thật.
Nhưng chẳng có nơi nào cho chúng tôi vay cả. Ngân hàng Thế giới sẽ không đầu tư
vào những dự án xây dựng nhỏ như vậy. Nếu họ cho chúng tôi vay, họ sẽ buộc
chúng tôi phải xây dựng một con đập lớn và toàn bộ thung lũng này sẽ chìm trong
nước”.
Chủ tịch COBEE và vợ ông ta đề nghị đưa chúng tôi đến sông Zongo. Từ rạng sáng,
họ đến khách sạn đón chúng tôi trên chiếc xe Station Wagon bốn bánh. Chúng tôi
ra khỏi thành phố và thẳng hướng Altiplano. Một màn tuyết mỏng phủ lên cao
nguyên cằn cỗi tựa như một lãnh nguyên Bắc cực thứ hai. Bỗng nhiên, trời sáng
hẳn. Chúng tôi được chiêm ngưỡng cảnh mặt trời mọc tráng lệ trên dãy Cordillera
Real hùng vĩ. Dãy Andea được đặt tên là “dãy Himalaya của châu Mỹ”, bao gồm 22
đỉnh núi đá cao hơn 5.800 m.
Vài tiếng sau khi chúng tôi băng qua đường núi ở độ cao trên 5.200m, lần đầu
tiên Jessica đã có cơ hội ngắm nhìn dòng sông băng trong đời mình. Alpacas chạy
xuyên qua những cánh đồng cỏ ngăn cách với phiến đá voi mamut. Chúng tôi từ từ
đỗ lại. Khi Jessica chạy qua đường để nhìn cảnh vật rõ hơn, môi con bé chợt tím
ngắt vì thiếu oxy. Nó quỵ xuống và nôn thốc nôn tháo. Winifred và tôi đẩy con
bé vào xe và chúng tôi khẩn trương đi xuống vùng thấp hơn. Vào giữa buổi chiều
chúng tôi đến điểm đầu tiên của công trình thủy điện.
Một con đập nhỏ bắc qua sông Zongo đang mùa tan băng tạo thành một hồ ngăn
tuyệt đẹp. Từ đây, nước chảy theo những con kênh cắt sâu vào sườn núi, qua
đường hầm, tới tuốcbin và cuối cùng đến một trạm phát điện. Quá trình này lặp
đi lặp lại vài lần. Đây là một hệ thống được thiết kế độc đáo để tối đa hóa khả
năng sản xuất và tận dụng tối đa năng lượng của dòng sông trong khi vẫn giữ
được vẻ đẹp vốn có của cảnh quan thiên nhiên. Khi chúng tôi lách qua hẻm núi
bao quanh là những phiến đá dựng đứng, Jessica đã tươi tỉnh trở lại. Con bé
phát biểu một câu mà dường như đó chính là những cảm xúc của tôi “Con thấy mừng
vì họ đã không xây con đập lớn và làm ngập thung lũng. Nơi đây thật đẹp ba nhỉ”.
Cuối cùng chúng tôi dừng lại ở một biệt thự cổ kính. Họ cho chúng tôi biết nếu
tôi trở thành chủ tịch công ty, thì nơi này sẽ là nơi chúng tôi lưu lại trong
các kỳ nghỉ.
Sau khi chuyển hành lý vào phòng, Winifred, Jessisca và tôi đi bộ đến thác nước
gần đó. Ở độ cao trên 2.400 m, chúng tôi cảm thấy vô cùng sảng khoái trong làn
không khí mỏng của La Paz và con đường qua khe núi. Chúng tôi leo lên phiến đá
cạnh thác nước, ngắm nhìn mặt trời mọc sau dãy núi của thung lũng nhỏ bé qua
những tán lá sum suê. Sau đó chúng tôi trèo xuống và cùng mọi người trở lại
biệt thự. Người giúp việc mang đến món lasagna nướng có mùi vị như vừa được
những sứ giả từ Rome mang tới.
Chiều hôm đó, khi Jessisca đang ngủ say, bốn người chúng tôi ngồi tán gẫu bên
ly cocktail. Rõ ràng, ngài chủ tịch và vợ ông đều rất thích chuyến đi tới
Bolivia và họ đang nóng lòng muốn giao vị trí chủ tịch cho tôi để họ có thể trở
về quê nhà. Họ bắt đầu đưa ra những lời lẽ thuyết phục mà chúng tôi từng được
nghe trước đây: nào là chúng tôi sẽ sống trong lâu đài, có lái xe riêng đưa
đón, được lính gác có vũ khí bảo vệ, có người hầu, đầu bếp, người làm vườn và
được hưởng một khoản chi tiêu kếch xù chỉ dành để tiếp đãi giới quý tộc
Bolivia. Họ cho tôi biết tôi sẽ trở thành người có quyền lực thứ hai tại
Bolivia chỉ sau tổng thống. Bất cứ nơi đâu có đảo chính, ở đó, tôi sẽ là bá chủ
bởi vì tôi nắm quyền kiểm soát dòng điện của cả dinh tổng thống lẫn trụ sở quân
đội. CIA sẽ phải nhờ cậy tôi giúp đỡ đảng mà họ ủng hộ.
Khi chúng tôi nằm trên giường, vợ tôi ca ngợi dự án thủy điện này “Em chưa bao
giờ nhìn thấy gì tuyệt vời hơn thế”. Rồi, cô ấy nói tiếp “Liệu anh có thể biến
nó thành điểm khởi đầu cho một kiểu cách mạng thiết thực ở Mỹ Latinh không? Sẽ
không còn những dòng người Anhđiêng khốn khổ phải xếp hàng để thanh toán hóa
đơn nữa. Điện sẽ có ở mọi nơi, khắp nông thôn và thành thị với giá thấp. Sẽ cần
phát triển nhiều dự án như dự án chúng ta thấy hôm nay. Thay vì những khoản vay
của Ngân hàng Thế giới để xây dựng các nhà máy năng lượng khổng lồ, chúng ta sẽ
tiến tới cam kết đưa công ty trở thành người phục vụ tận tuỵ cho môi trường”.
Tôi lắng nghe chăm chú những điều Winifred nói. Ngày hôm sau khi chúng tôi trở
lại La Paz và trong suốt những ngày còn lại ở nơi đây, tôi luôn ngẫm nghĩ về
điều này. Có một vài lần, tôi đem nó ra thảo luận với uỷ viên ban quản trị và
các kỹ sư của COBEE. Nhiều người trong số họ đến từ Argentina, Chile và
Paraguay – những quốc gia có lịch sử lâu đời với chế độ độc tài quân sự và luôn
phục vụ hết mình cho hệ thống tập đoàn trị. Lẽ ra tôi không nên bất ngờ trước
chủ nghĩa hoài nghi của họ. Những ý kiến của họ làm tôi nhớ tới lời một kỹ sư
người Peru đã làm việc ở COBEE hơn chục năm “Leucadia đang chờ đợi những bao
tải tiền”. Anh ta quả quyết.
Càng suy nghĩ kỹ về vấn đề này, tôi càng cảm thấy tức giận. Mỹ Latinh trở thành
biểu tượng thống trị của nước Mỹ. Guatemala dưới thời Arbenz, Brazil dưới
Goulart, Bolivia dưới thời Estenssoro, Chile dưới thời Allende, Ecuador dưới
Roldos, Panama dưới thời Torrijos và cả những đất nước khác trên bán cầu này
đều được thiên nhiên ban tặng nguồn tài nguyên mà bất kỳ công ty nào của chúng
tôi đều phải thèm muốn. Điều này khiến các nhà lãnh đạo của những quốc gia này
rất phấn khởi. Họ quyết định sẽ sử dụng tất cả tài nguyên quốc gia để phục vụ
lợi ích cho nhân dân của họ.
Chúng tôi và họ đều đang đi trên cùng một lộ trình. Người dân đã chứng kiến rất
nhiều nhà lãnh đạo của họ bị lật đổ trong các cuộc đảo chính, bị ám sát và thay
thế bằng chính phủ bù nhìn do Washington lập ra. Tôi đã ở trong cuộc chơi này
10 năm với tư cách một sát thủ kinh tế. Và cũng đã 10 năm trôi qua kể từ khi
tôi rời hàng ngũ này. Nhưng tôi vẫn bị ám ảnh về những tội lỗi mình gây ra và
sự phẫn uất luôn giằng xé trong tôi. Tôi do dự để rồi lại đi xa những nguyên
tắc đạo đức mà tôi đã nuôi dưỡng bằng tất cả sự kính trọng, lại lấy tất cả
nhiệt huyết trong tôi để phục vụ cho chế độ tập đoàn trị và tự bằng lòng với
ham muốn của chính mình. Việc bán đi cái tôi đó đã khiến tôi phẫn uất. Dường
như tôi đang hoài nghi rằng tất cả những cố gắng của tôi để thay đổi một công
ty như COBEE sẽ bị đạp đổ. Mặc dù vậy, tôi vẫn cam kết làm hết sức mình.
Khi trở lại Mỹ, tôi gọi cho người uỷ viên ban quản trị chịu trách nhiệm tuyển
dụng tôi. Tôi thông báo rằng tôi sẽ nhận chức vụ này nhưng với điều kiện họ
phải cho phép tôi biến COBEE thành một mô hình theo cách riêng của tôi – một mô
hình có trách nhiệm với xã hội và môi trường. Tôi giải thích với anh ta rằng
tôi bị ấn tượng mạnh bởi dự án thủy điện trên sông Zongo, và rằng công ty COBEE
là một tác nhân quan trọng có thể làm nên sự thay đổi. Tôi đã chứng minh được
rằng COBEE có khả năng cung cấp điện cho một số lượng lớn những người dân nghèo
nhất trên bán cầu.
Có một khoảng lặng rất lâu, sau đó anh ta thông báo với tôi anh ta sẽ xem xét
đề nghị này với Ian Cumming. “Tuy nhiên, đừng trông chờ nhiều. Những uỷ viên
ban quản trị của chúng tôi phải chịu trách nhiệm với các cổ đông. Chúng tôi hy
vọng chủ tịch COBEE là người có thể tối đa hóa lợi nhuận cho công ty”. Ngập
ngừng anh ta hỏi “Anh có muốn xem xét lại không?”
Những lời anh ta nói càng củng cố quyết định của tôi: “Tuyệt đối không”.
Và tôi không bao giờ nghe tin gì từ họ nữa.
(Trích cuốn sách "Bí mật đế chế Hoa Kỳ" do Công ty Alpha Books phát hành)
Tran Ba Thien
tranbathien@xxxxxxxxx
Other related posts:
- » [SMCC] sat thu kinh te - Tran Ba Thien