[SMCC] nong dan nhoc nhan bam dat

Loạt bài này viết hay quá, hơi dài nên tôi đã tổng hợp lại thành 1 file gởi đến 
các bạn...

Thứ Ba, 22/07/2008, 01:16 (GMT+7)

Nông dân nhọc nhằn bám đất – 
Kỳ 1: Làng quê còn là khế ngọt?

     
      Ảnh: Huỳnh Phúc Hậu
     
 

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=269809&ChannelID=89

 

TT - Nông dân nhiều nơi bây giờ không thể sống nhờ sản xuất nông nghiệp vì thị 
trường bấp bênh, giá nông sản rẻ mạt. Đất ở thôn quê ngày càng chật chội, môi 
trường sống ngày càng ô nhiễm. Họ phải đối diện với bao gian khó. 



Nhiều nông dân phải rời ruộng vườn, dắt díu nhau đi làm thuê hoặc tìm việc ở 
các khu công nghiệp, để lại làng quê thưa vắng sau lưng. Những người ở lại phải 
nhọc nhằn bám đất.

Tổ tiên vợ chồng bà Nguyễn Thị Mão, 58 tuổi, ở làng Yên Bài, xã Tự Lập, huyện 
Mê Linh, Vĩnh Phúc, sống trên vùng quê này nhiều đời, cuộc sống bao đời ấy đã 
bám vào cây lúa, bãi ngô và con lợn, con bò như bà bây giờ. Nhưng mấy năm gần 
đây nhà bà không thể trông vào những kế sinh nhai ấy. 

1.000 đồng/ngày công lao động   

     
      Con cháu ở làng Yên Bài đi làm ăn xa, chỉ có người già ở nhà - Ảnh: Q.T.
     
Hai nguồn thu chính của nhà bà Mão như đa số nhà nông là làm ruộng và nuôi lợn. 
Nhà có năm khẩu, được chia năm sào ruộng, mỗi năm trồng ba vụ lúa, nơi không 
trồng được lúa thì thay bằng ngô. 

Từ làm đất, gieo mạ, cấy lúa, làm cỏ, bón phân, phun thuốc sâu, gặt, tuốt rồi 
phơi... bà đầu tắt mặt tối quanh năm. Ơn trời mưa thuận gió hòa, không dịch 
bệnh thì mỗi năm bà thu được khoảng hơn 2 triệu đồng/sào, năm sào được 12 
triệu. 

Nếu phải thuê cày bừa với giá 80.000 đồng/sào/vụ như hiện nay thì nguồn lợi cả 
năm của năm sào đất ấy chỉ còn 10 triệu đồng. Trừ đi một số khoản đóng góp bà 
không thấy lãi đồng nào, ngoài số lúa cho mấy miệng ăn trong nhà. Năm ngoái, 
khi làm hồ sơ xin vay vốn ngân hàng, cán bộ tín dụng về tận ruộng tính chi li 
thì một ngày công của bà Mão sau khi trừ tiền ăn còn lại 990 đồng. Cả tháng 
chưa được 30.000 đồng. Những năm sâu bệnh, lũ lụt nặng thì không được như vậy. 

Trước đây nhà bà nuôi năm con lợn, tính cả giống và cám thì vốn bỏ ra hơn chục 
triệu đồng. Cho ăn, tắm rửa, dọn dẹp, gánh phân, tiêm phòng, chữa bệnh, che 
chắn đông hè... sau ba tháng bà bán lợn, trừ vốn trung bình thu về mỗi con được 
50.000 đồng, cũng có lúc được giá thì lãi 100.000 - 200.000 đồng/con. Tiền này 
bà không dám trừ khấu hao chuồng trại, điện nước và nhất là tiền công lao động. 

Năm ngoái dịch bệnh khắp làng trên xóm dưới, lợn nhà bà chết, coi như 5-6 năm 
"có lãi" không đủ bù cho một lần thua lỗ. Bây giờ trong làng không ai dám nuôi 
nhiều lợn nữa. Rồi chẳng may dịch cúm gà dập tắt mọi tiếng gáy trong làng. Lợn 
chết, gà cúm. Một đời người lam lũ, vợ chồng bà Mão không sắm được thứ gì đáng 
kể. Riêng chiếc xe máy Trung Quốc mua cho vợ chồng con trai đi làm, nay ông bà 
vẫn mang nợ vì nó. Cách nay ít tháng, mùa bóng đá Euro, con bà ki cóp mới mua 
được chiếc tivi giá 1,9 triệu đồng cho bố mẹ xem. Tài sản đầu tiên có giá trị 
ấy lại là đồng tiền từ phi nông nghiệp mà có.

Nhà ông Vũ Văn Thịnh cùng làng cũng có năm khẩu, được chia năm sào đất nhưng 
ông nhận thêm năm sào nữa của người khác không canh tác và trở thành người cấy 
cày nhiều nhất làng. Hai vợ chồng ông nuôi thêm mười con lợn, một đàn gà. Mười 
năm qua ông bà lao động không hề ngơi nghỉ. Cũng may mắn, gia đình khỏe mạnh. 
Vậy mà tài sản duy nhất ông có được là chiếc xe máy Trung Quốc cũ trị giá 
khoảng 4 triệu đồng. Lo cưới vợ cho con và nuôi chúng ăn học, nợ dồn nợ, nay vợ 
chồng ông đeo gánh nợ 20 triệu đồng. 

Ông Liên, người cùng thôn, nói: người nhà quê bây giờ bất cứ công to việc lớn 
gì như tang ma, cưới giỗ, làm nhà, xây mộ... đều phải đi vay. Muốn cưới hay gả 
con phải nuôi lợn, gà trước đó cả năm, khi vào việc đỡ phải vay. Nhà có bố mẹ 
già phải chuẩn bị cỗ hậu (ván gỗ) từ vài năm. Còn ai bị bệnh tật, tai nạn thì 
thường xác định chạy vạy được đến đâu hay đến đó, sống chết do trời... 

Ly hương

     
      “Quần quật trên đồng ruộng vẫn không đủ ăn nhưng cũng phải bám đất thôi” 
- người đàn ông vừa lầm lũi cày ruộng ở Thanh Oai (Hà Tây) vừa nói - Ảnh: Lê 
Bích
     
Sớm nào cũng vậy, ở ngã ba đầu làng Yên Bài tụ tập từng đoàn phụ nữ đạp xe, đội 
nón, bịt khẩu trang, mỗi người đem theo một vài cái bì và dây dợ chuyện trò rôm 
rả. Người làng cho biết những phụ nữ đó ngày nào cũng xuống Hà Nội và các vùng 
lân cận để thu mua đồ phế thải, quen gọi là đồng nát như sắt, đồng, nhôm, 
nilông, nhựa... 

Riêng làng Yên Bài có 30-40 chị em sáng đi tối về, có người thuê nhà trọ ở luôn 
trên thành phố, một hai tuần mới về. Đi hơn 3km sang làng Sa Mạc, xã Liên Mạc, 
cũng một vùng thuần nông đất đai màu mỡ. 

Làng khá nhiều nhà đẹp nhưng đóng cửa, rào kín. Người làng cho hay khoảng chục 
năm gần đây dân Sa Mạc kéo nhau vào miền Nam lượm ve chai. Người ở tuổi lao 
động đi khỏi làng hơn nửa. Ruộng đồng chuyển cho người làng khác canh nông... 
Trẻ con cứ gần một tuổi là mẹ cai sữa, gửi ông bà rồi đi. Làng này có hẳn một 
tuyến xe khách chuyên chở người vào Nam... Làng quê thưa vắng hắt hiu.

Nhà bà Mão có năm nhân khẩu, không kể đứa cháu nhỏ. Chồng bà 63 tuổi cũng con 
nhà nông chính gốc. Hai năm gần đây, ông được người quen ở thị xã gọi lên thuê 
trông xe đạp cho cửa hàng. Làm từ sáng đến khuya, vài tuần được về một lần, mỗi 
tháng 500.000 đồng. Cả nhà mừng lắm. Bà Mão có ba người con. Một con gái theo 
chồng. Hai con trai đều làm công nhân khu công nghiệp. Người con lớn lấy vợ 
sinh con nên phải sáng đi tối về. Người kia ở luôn trong khu nhà trọ, vài tuần 
về một lần. Khi con chưa lấy vợ, bà Mão ngày đêm lủi thủi một mình với đàn lợn, 
lũ gà và đồng áng. 

Bà cười: "Nói dại, chẳng may có bị cảm chết trong nhà chắc tuần sau hàng xóm 
mới biết". Nói vậy nhưng bà cũng còn mừng vì chồng già yếu mà còn có người thuê 
đi làm, con cái đứa nào cũng thoát nông nghiệp cả. Gia đình mỗi người một nơi 
nhưng còn có đồng ra đồng vào. Mấy người già làng Yên Bài ngồi bấm ngón tay 
tính toán ngay trong cái ngõ này nhà ông Đỉnh - Thà có bốn con đi làm xa cả 
bốn, nhà ông Thịnh có hai cũng đi hai, nhà ông Việt có tám con dâu rể cũng đi 
làm thuê cả tám... Nói chung ai có con lớn hoặc vợ chồng có sức khỏe đều đi làm 
ăn nơi khác. Phụ nữ tuổi 30-40 thường buôn đồng nát. Thanh niên dưới 30 thường 
vào khu công nghiệp làm công nhân. Đàn ông đứng tuổi làm mộc, xây thuê, đóng 
gạch... 

Làng quê ở đây không còn nuôi được người nông dân nữa.

QUANG THIỆN

Nhà máy về đồng nhưng bà con không vui. Mảnh đất thân thương với cảnh “Trên 
đồng cạn dưới đồng sâu. Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” bây giờ bị hàng rào 
nhà máy với ôtô, máy ủi, tiếng nổ mìn… vây kín. 

Kỳ tới: Một thôn 5 nhà máy

 

Nông dân nhọc nhằn bám đất – 
Kỳ 2: Một thôn 5 nhà máy

     
      Nông dân Bồng Lạng trên phần ruộng ít ỏi còn lại - Ảnh: Q.T
     
 

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=269952&ChannelID=89

 

TT - Cả thôn có 450 mẫu đất, bốn nhà máy lần lượt mọc lên, trong đó có ba nhà 
máy sản xuất ximăng. Hai phần ba đất đai nuôi sống nông dân đã hóa thành nhà 
máy. 



Dường như mảnh đất này "phát" về ximăng nên một dự án thứ năm nữa cũng là sản 
xuất ximăng đã lập hồ sơ xin xây nhà máy ở thôn. Đó là chuyện ở thôn Bồng Lạng, 
xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. 

 

Nhà máy về đồng
Khi đến thôn Bồng Lạng, những trái núi vỡ toác, xé tung màu xanh đá và trơ ra 
những vết thương trắng nhợt. Khói bụi mù mịt bốc lên cùng những tiếng nổ mìn 
phá đá. Xung quanh là những con đường bề thế dẫn đến những nhà máy ximăng nghễu 
nghện cột khói, tường rào. Những cánh đồng phì nhiêu, màu mỡ ngày trước ở Bồng 
Lạng nay chỉ còn những vạt ruộng, cỏ dại mọc trùm lên từng cọng lúa không người 
chăm sóc. Một người dân Bồng Lạng nói: Chút ruộng này có lẽ chỉ tồn tại được 
vài tháng nữa rồi cũng thành nhà máy thôi! 

      Tính đến ngày 1-1-2007 diện tích đất trồng lúa giảm 34.330ha so với thời 
điểm 1-1-2005. Cụ thể tại các vựa lúa chính: đồng bằng sông Cửu Long giảm 
15.000ha, đồng bằng sông Hồng: 8.000ha, Đông Nam bộ: 6.600ha, Bắc Trung bộ: 
2.340ha. Mỗi năm đất nông nghiệp bình quân giảm 73.000ha. 

      (Nguồn: Văn phòng Viện Nghiên cứu phát triển IDS) 
     
Chúng tôi gặp một toán nông dân đi làm đồng đứng díu vào nhau giữa cái nắng se 
sém mặt mũi. Dưới chân họ là hình hài một con đường lớn đã lột tung đất chạy 
giữa cánh đồng. Một người đàn bà vẻ mặt khắc khổ chỉ tay về phía mấy nhà máy 
nói: "Nhà tôi nhiều đời gắn với mảnh đất này kiếm kế sinh nhai. Hơn năm sào 
lúa, tuy chẳng thể làm giàu nhưng cũng đủ nuôi mấy miệng ăn trong nhà. Bây giờ 
bốn sào đã trở thành sân của nhà máy kia rồi". 

Bà xưng tên là Nguyễn Thị Nền. Bà kể năm 2003 chính quyền thông báo thôn nhà sẽ 
có nhà máy ximăng về mua đất để sản xuất, họ trả tiền đền bù đất đai trồng lúa 
cho bà con với giá cao, ước tính mỗi sào cũng đền bù tiền triệu. Con em nông 
dân Bồng Lạng sẽ được ưu tiên tuyển vào làm công nhân. Có lương cao, có nghề 
nghiệp, có bảo hiểm của Nhà nước, thoát khỏi cảnh chân lấm tay bùn, bán mặt cho 
đất bán lưng cho trời như cha ông bao nhiêu đời trước. Chính quyền đề nghị bà 
con hợp tác với công ty giao đất, ký sổ nhận tiền. Người Bồng Lạng khấp khởi, 
sốt sắng theo cán bộ ra đồng đo đất. 

Vừa nhận tiền xong trong làng đã có người sắm xe máy đẹp, mua tủ lạnh, tậu tivi 
khiến nhà nào không "được" lấy đất tỏ ra mong ước, thèm thuồng. Ngay lập tức ba 
nhà máy ximăng nữa vào Bồng Lạng, ầm ào đổ móng, xây tường. Sau mấy lần ký sổ 
giao đất, nhà bà Nền còn lại không được một sào. Những gia đình như nhà ông 
Hoàng Văn Nghĩa, bà Nguyễn Thị Phương thì không còn một thước đất nào. Người 
nông dân lúc này mới bắt đầu thấy chênh vênh với cuộc đời không đồng áng, không 
cấy cày... 

Ông Đinh Xuân Hải, chi hội trưởng Chi hội nông dân tổ 3 thôn Bồng Lạng, nói 
trước đây toàn thôn có 450 mẫu đất canh tác, sau khi các dự án đầu tư vào địa 
phương lấy đi 300 mẫu, người dân trong thôn phần lớn chưa tìm được việc làm mới 
thay nghề nông. Thói quen sống cũng như nguồn thu, việc làm truyền thống của họ 
bị mất dần. Tổng quĩ đất canh tác của thôn chỉ còn 150 mẫu. Nhưng mới đây lại 
thêm một công ty nữa lập dự án xin đầu tư nhà máy ximăng trên 150 mẫu đất ruộng 
còn lại của thôn. Nếu dự án này được cấp phép, nông dân Bồng Lạng sẽ rơi vào 
hoàn cảnh không ruộng. Họ không là thị dân và cũng chẳng còn là nông dân nữa. 
"Nếu tiêu hết số tiền đền bù thì không biết chúng tôi sẽ sống ra sao. Số tiền 
ấy có thể nuôi được mấy đời con cháu sau này khi không có ruộng?" - ông Hải 
nói. 

"Miệng ăn núi lở"

     
      Một bà cụ ở Thuận Thành (Bắc Ninh) trên đường trở về nhà sau một ngày làm 
đồng. Bây giờ ra đồng thấy người già nhiều hơn trai trẻ - Ảnh: Lê Bích
     
Sau những "ngày hội" nhận tiền đền bù, người Bồng Lạng bắt đầu lo sợ cảnh nhàn 
cư vi bất thiện và "miệng ăn núi lở". Ông Hải nhẩm tính có hơn 200 lao động 
thường xuyên sống nhờ vào 300 mẫu ruộng nay mất việc làm. Theo hứa hẹn của các 
nhà đầu tư, "cụm" công nghiệp ximăng này sẽ cần đến hàng ngàn lao động, các 
công ty ưu tiên nhận những nông dân đã giao đất cho họ vào làm việc. Dự án tiến 
hành chậm chạp, bà con Bồng Lạng đợi chờ. 

Đến khi lần lượt các nhà máy nổ mìn phá đá, dây chuyền khởi động, bụi đá mịt mù 
vẫn không thấy ai vào tuyển công nhân. Kiến nghị mãi đến nay cả thôn mới có sáu 
người thật sự được đi làm công nhân trên chính mảnh đất của mình ngày xưa và 
cho đó là sự may mắn. Số còn lại lâm vào cảnh thất nghiệp.

Phần đông trong số họ không còn cách nào khác phải vào mỏ khai thác đá làm thuê 
với mức lương thấp hơn làm nông nhưng lại đầy nguy hiểm và độc hại. Số khác mua 
xe công nông chở đá thuê. Tuy nhiên những phần việc này cũng chỉ đến được với 
những người đàn ông có sức khỏe. 

Bà Nguyễn Thị Phương, 80 tuổi, kể nhà bà có năm nhân khẩu, trước gia đình có 
3-4 sào ruộng, nay chỉ còn lại chưa đầy 20m2. Con trai bà sắm chiếc xe công 
nông chở đá thuê, tiền mua xe nhiều hơn cả tiền được đền bù mất đất. Vậy mà 
công việc không phải lúc nào cũng có, ngày nào có người thuê thì chạy, không 
thì lại đắp chiếu cho xe. Mỗi tháng anh đem về ngót triệu rưỡi để chi dùng cho 
cả nhà, con dâu và bà cả ngày chỉ biết ra vào chẳng có việc gì làm. Bà Phương 
buồn bã: "Xe công nông không được ra quốc lộ, chỉ chạy quanh quẩn trong làng. 
Mai kia Nhà nước cấm chạy trong đường làng nữa thì không biết lấy gì làm kế 
sinh nhai". 

Mảnh đất thân thương với cảnh Trên đồng cạn dưới đồng sâu. Chồng cày vợ cấy con 
trâu đi bừa của người Bồng Lạng nay đã được vây kín bởi hàng rào nhà máy với 
ôtô, máy ủi, tiếng nổ mìn, còn nhiều người Bồng Lạng thì tha hương khắp nơi. 
Người còn sức lao động trở thành "phó thường dân" nơi đô thị, người già yếu 
hằng ngày ở nhà thường hay nhìn về những ống khói chọc trời và nhớ thôn làng 
đông đúc ngày xưa.

QUANG THIỆN

___________________

Nhiều nông dân xứ cà phê Đắc Lắc nói dân miền xuôi nghe giá cà phê 
35.000-38.000 đồng/kg cứ bảo "cà phê được giá!", rồi "dân cà phê giàu to, giàu 
nhất!" là không chia sẻ, là oan cho nông dân cao nguyên!

Kỳ tới: Ai bảo trồng cà phê là giàu?

 

Nông dân nhọc nhằn bám đất – 
Kỳ 3:  Ai bảo trồng cà phê là giàu? 

     
      Mỗi ngày đi làm thợ hồ qua rẫy cà phê không đủ nuôi sống mình, anh Doãn 
Tâm nói: “Lòng rầu lắm”. Ảnh: N.H.T.
     
 

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=270147&ChannelID=89

 

TT - Tây nguyên đang là mùa mưa. Nhân lúc trời mưa, nông dân vác cuốc ra vườn 
rẫy để be bồn, khai những đường rãnh cho nước mưa chảy tụ hết vào vườn cà phê, 
đám bắp. Nhìn cảnh người ta vật lộn không cho nước thoát đi, dẫn gom và chắt 
chiu nước mưa đến từng dòng mới thấy nông dân ở đây quí nước đến nhường nào.



Vùng đất chạy dọc 30 cây số theo quốc lộ 26 và phóng chiều rộng ra 15 - 20 cây 
số nối sang xứ Buôn Hồ ở phía tây và Krông Bông ở phía nam này là vùng cà phê 
hàng đầu cao nguyên Đắc Lắc.

 

Đợi trời mưa xuống
Rẫy vườn của không ít nông dân ở đây phải đợi trời mưa xuống mang phân đi bón 
chứ không thể nào chủ động được thời điểm việc tưới, bón phân. Theo ông Trần 
Văn Minh (86 tuổi), ở thôn 6, xã Hòa An, huyện Krông Păc, những vị trí đắc địa 
(đất tốt và ở nơi có nguồn nước lý tưởng) đã thuộc về các nông trường và công 
ty, số đông cư dân với đất canh tác là những mảnh rìa lân cận. Ông Minh bảo do 
nguồn nước không đảm bảo nên ông chỉ lo ba sào ruộng nước ở dưới thung lũng. 

Còn bà Nguyễn Thị Phi (52 tuổi), ở thôn 2, xã Ea Knuec, bảo gia đình bà đã bán 
sạch đất cho những người sở hữu ao nước dưới trũng để vào nơi sâu hơn, sát rừng 
ở vùng Tân Hòa, để mua bảy sào đất cận suối mà trồng cà phê. Ông Lê Thanh Dũng 
(68 tuổi) ở thôn Phước Lộc 2, xã Ea Phê quyết sống chết với cây cà phê, dù 
những năm rồi do nước tưới không đảm bảo khiến mỗi mùa chỉ tận thu được 1,2 tấn 
cà phê nhân/ha (khi có nước tưới đảm bảo thu đến 2,5 - 4 tấn/ ha). Ông mang cả 
ba sổ đỏ đi vay ngân hàng để lấy 40 triệu đồng về làm một lúc hai cái giếng, hi 
vọng 1,3ha cà phê ông trồng từ nay sẽ không còn sống dở chết dở vì "khát nước".

Ở đây là thế, ai có được nguồn nước là đảm bảo được đời sống. Các hợp tác xã có 
được đất trồng ở vùng trũng thấp, tạo lập được hồ nước, vậy là thu các rẫy vườn 
xung quanh với giá 200.000 đồng/ha/năm, thường là ba đợt tưới. Các hồ nước lớn 
nhỏ hình thành trong vùng như hồ 31, giếng xối, hay hồ "1-4", "1-5", rồi hồ 
Furo, Phước Mỹ..., kể cả nông dân là nhân viên của các công ty sở hữu các hồ 
này cũng phải trả 600.000 đồng/ha/năm. Cứ đặt máy hút xuống hồ là phải... trả 
tiền, tính theo sự xuất hiện của máy nổ ở dưới hồ, nghe tiếng máy nổ là người 
ta đi ghi thu tiền. 

Vào sâu các vườn rẫy nằm quanh những vùng có hồ nước, có những gia đình nghèo 
thường dùng nước "chui" từ các hồ mà các doanh nghiệp sở hữu. Có người tưới ba 
đợt chỉ khai hai hoặc một, có người nhờ diện tích nhỏ lẻ mà thường "ké” vào 
những rẫy cà phê lớn của ông bạn rẫy bên nhân đợt ông thả máy xuống hồ để 
"thoát" trả tiền nước. Ở đây, vườn rẫy và diện tích đất canh tác dường như đã 
định vị, ổn định. Phần đông nông dân chỉ có 1-2ha cà phê, có diện tích qui mô 
hơn thường là dân kinh doanh, gia đình bán buôn... Giới trẻ ở vùng này đều đi 
lập nghiệp, mưu sinh nơi khác. Nhà nào cũng có con đi làm xa ở TP.HCM, Bình 
Dương, Đồng Nai... "Tết nhất tụi nó mới xuất hiện ở làng!" - anh Doãn Tâm, ở xã 
Ea Kênh, kể.

Phải bám đất mà sống thôi

     
      Anh Phạm Văn Tuyển: “Giá cà phê xuống mức thấp hơn thì nông dân chỉ có 
chết!”. Ảnh: N.H.T.
     
Với 1,1ha cà phê nhận khoán của công ty cà phê tháng mười năm ngoái, sau khi 
nộp sản lượng cho công ty, số cà phê anh Doãn Tâm thực sở hữu chỉ  5 tạ nhân, 
nghĩa là thu nhập một mùa vụ cà phê được 17,5 triệu đồng (nếu bán được lúc giá 
ở mức 35.000 đồng/kg). Tính ra cho 300 - 500 công (huy động thêm người) đổ vào 
rẫy suốt một năm ròng rã, trừ đi nguồn tiền đầu tư phân tro, nước tưới..., anh 
Tâm nói qui ra là "bán sức lấy tiền công nhật, với giá bình quân 40.000 
đồng/ngày công". 

Vậy là hai năm nay vợ anh đi làm thuê thêm (cuốc cỏ, lặt chồi, hái cà phê cho 
người khác), còn anh chuyển sang nghề thợ hồ. Già nửa thời gian trong năm họ 
kiếm sống bằng nghề làm thuê, còn lại dành cho cái rẫy nhỏ của mình. 

Nhiều nông dân xứ cà phê bảo người dân miền xuôi nghe nói giá cà phê 
35.000-38.000 đồng/kg cứ bảo "cà phê được giá!", rồi "dân cà phê giàu to!" là 
không chia sẻ, oan cho nông dân cao nguyên! Nhiều chủ hàng quán cho biết trước 
đây nông dân hay ra bưng bia nguyên thùng về uống, nhưng bây giờ đã không còn. 
"Không có tiền mua phân để nuôi cà phê, lấy đâu xài sang hay vỗ ngực ta là nông 
dân của cà phê!", ông Nguyễn Cao Thiện (57 tuổi), nguyên chủ tịch Hội Nông dân 
thị trấn Phước An, ở tổ 1, khối 14, thị trấn Phước An, bày tỏ. Ông Thiện bảo 
rằng ai nói cà phê đã trở lại đỉnh điểm được giá (35.000-38.000 đồng/kg) là 
cách nhận xét thiếu thông tin. 

Ông phân tích: thời điểm giá đó của 15 năm trước, 1kg gạo 3.000-5.000 đồng, 1kg 
thịt heo 25.000-30.000 đồng, một lít dầu diezel giá 4.500-5.000 đồng, 1kg phân 
NPK 1.500 đồng... Nay cũng mức giá cà phê đó thì 1kg gạo - thịt heo - dầu cho 
máy tưới đã tăng hơn gấp đôi. Trong khi đó, mỗi hecta cà phê cần lượng phân bón 
như cũ, mùa khô cũng không thể bỏ tưới, còn con người cũng phải mỗi ngày ba 
bữa... "Giá cà phê chạy không kịp giá thực phẩm, vật tư nông nghiệp!" - anh 
Phạm Văn Tuyển (25 tuổi), ở Nông trường cà phê Thắng Lợi, xã Hòa Thắng, Buôn Ma 
Thuột, lập luận. Anh nói nông dân trồng cà phê cao nguyên giờ đây nếu có ước 
vọng thì đó là giá thực phẩm, phân bón, thuốc trừ sâu... giảm, còn giá cà phê 
đừng giảm nữa. Còn ngược lại, giá cà phê xuống mức thấp hơn, nông dân chỉ có 
chết!.

Bà con ở đây nói trước đây với 1,2 triệu đồng nông dân mua được ba bao phân NPK 
thì nay chỉ mua được một bao NPK (1ha phải bỏ 40 bao trọng lượng 50kg). Vậy là 
nhiều nông dân nay chuyển sang tự chế biến phân để bón, giảm mua phân kali, 
urê, NPK... từ các hãng phân bón. Mọi năm nhiều nông dân chở cà phê tươi mới 
hái vào cho đại lý phơi xay thì nay chở về nhà xay để lấy vỏ cà phê làm phân 
bón. Mỗi nhà cố là một "xưởng" sản xuất phân hữu cơ vi sinh. Ông Thiện nói ngay 
cả lá cà phê khô trong rẫy ai gom đốt chứ ông chở hết về để ủ làm phân. Ông còn 
đi xin rơm rạ, cùi bắp, vỏ đậu... về băm nhỏ, trộn vôi, tưới nước ủ nhiều tháng 
trời thành phân như thế. 

"Tôi cố giảm chi phí đầu tư phân xuống còn 50%, bằng nguồn phân tự chế để đảm 
bảo rẫy vườn có lãi", ông Thiện nói. Cũng như ông Thiện, giờ đây nông dân cao 
nguyên không "đặt cược" cả cuộc sống gia đình vào cây cà phê nữa mà "cày" nhiều 
hơn: tăng cường thả gà, chăn nuôi heo, thỏ, bò, trồng thêm rau, đậu, dưa, 
bắp... Người nào có được mảnh ruộng ở chỗ sình lầy vốn bỏ bê trước đây thì nay 
"cưng" nó: dọn cỏ, dẫn nước vào để sạ lúa với hi vọng khỏi phải mất thêm tiền 
mua gạo. "Gian khổ cũng phải bám đất mà sống chứ không thì biết bám vào đâu!" - 
ông Thiện nói.

NGUYỄN HÀNG TÌNH - ĐÌNH ĐỐI

----------------------------------------------

Ở xã Minh Thuận tại Kiên Giang, trung bình cứ mười nhà mới có ba nhà có điện 
thắp sáng, bốn nhà thì một nhà mắc nợ quá hạn ngân hàng... Vậy nhưng muốn có 
con lộ nhỏ về ấp phải đóng góp đến 960.000 đồng/hộ. 

Kỳ tới: Chuyện ở Minh Thuận

 

Nông dân nhọc nhằn bám đất - (
Kỳ 4): Chuyện ở Minh Thuận

     
      Ông Tư Son chăm lo ao cá hi vọng sẽ giúp ông thoát nghèo - Ảnh: T.Đức
     
 

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=270309&ChannelID=89

 

TT - Trung bình mười nhà mới có ba nhà có điện thắp sáng, bốn nhà thì một nhà 
mắc nợ quá hạn ngân hàng 25-31 triệu đồng/hộ. Vậy nhưng muốn có con lộ nhỏ về 
ấp, người dân phải đóng góp đến 960.000 đồng/hộ... Chuyện xảy ra ở xã Minh 
Thuận, huyện U Minh Thượng, cũng là xã điểm công nghiệp hóa - hiện đại hóa của 
tỉnh Kiên Giang.



 

Nợ nần tứ giăng
Ông Tư Son (52 tuổi) ở kênh 8A, ấp Minh Dũng (Minh Thuận) được giao 4ha đất nằm 
trong dự án vùng đệm U Minh Thượng để làm "kinh tế hộ". Ngoài diện tích hơn 1ha 
phải trồng tràm theo qui định, còn lại ông xẻ kênh, đào ao rửa phèn và trồng 
khóm, mía. Ông đoan chắc sẽ được đổi đời sau vài vụ thu hoạch. Nhưng liên tiếp 
mấy vụ, giá mía chỉ dao động 250.000-300.000 đồng/tấn (giao tại ghe), trong khi 
chi phí thuê người đốn, vác xuống ghe cho lái lên tới 100.000 đồng/tấn. Cộng 
thêm các khoản phân bón, vun gốc, đánh lá..., tính ra một công mía mà ông dày 
công chăm sóc 9-10 tháng chỉ lời 85.000 đồng! 

      Phó chủ tịch UBND xã Minh Thuận Trần Tuấn Kiệt nói: "Thực hiện dự án phát 
triển kinh tế hộ vùng đệm U Minh Thượng, cả xã có 980 hộ được vay tổng cộng 21 
tỉ đồng để đầu tư cho sản xuất. Khi đáo hạn, cán bộ ngân hàng ở tỉnh vào đóng 
trạm, ngày nào cũng rảo tới rảo lui nhưng chỉ có 33 hộ trả được nợ (2,9 tỉ 
đồng), số còn lại coi như hết khả năng hoàn trả. Để dân mang nợ như vậy chính 
quyền địa phương cũng... quê lắm chứ, nhưng giá nông sản làm ra thấp lè tè như 
vầy thì chịu chết thôi!".
     
Vậy là cả nhà tám miệng ăn phải xoay ra làm thuê, ai mướn gì làm nấy. Nhưng ở 
xóm này ai cũng nghèo như nhau, ít ai dám bỏ tiền ra thuê việc, dù tiền công 
nhật mỗi ngày chỉ 30.000-40.000 đồng. Thấy cha mẹ túng quẫn, đứa con đầu Minh 
Dương (23 tuổi) dẫn em Phi Long (17 tuổi) chạy qua huyện Giồng Riềng (Kiên 
Giang) cắt lúa, bốc vác thuê. 

Hai anh em làm quần quật từ tờ mờ sáng đến tối, dành dụm được gần triệu đồng 
mỗi tháng gửi về nhà. Nhưng tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống. Hai người 
em gái của Minh Dương, chị 20, em 19 cũng nối tiếp anh bỏ học giữa chừng để đón 
tàu ra Rạch Giá làm công nhân may mặc, phụ cha mẹ nuôi hai đứa em Ngọc Tuyết, 
Ngọc Linh đang tuổi ăn học. 

Lo cho cái bụng đã bở hơi tai, nên nợ vay ngân hàng 31 triệu đồng để đào kênh, 
lên liếp trồng mía quá hạn hơn ba năm mà ông Tư Son chưa trả được một đồng. 
"Nghe nói bây giờ cộng luôn lãi suất chắc đã lên gần gấp đôi, nhưng cụ thể là 
bao nhiêu thì tui cũng không biết. Mấy bận cán bộ ngân hàng vào đòi, tui nói 
chỉ còn cái nhà "tình thương" này, có lấy thì lấy luôn đi, chứ không đào đâu ra 
tiền mà trả”, Tư Son gãi đầu gãi tai nói. 

Mà đâu chỉ riêng ông Tư Son. Từ ấp Minh Dũng chạy dài qua ấp Minh Thượng, Minh 
Thượng A, Minh Kiên, Minh Thành, Minh Thành A... thấy nhiều bà con nghèo đong 
gạo từng bữa, nợ nần tứ giăng. Ông Dương Trung Tín, phó ban nhân dân tự quản ấp 
Minh Thành, rầu rĩ: "Bám theo một loại cây thì rủi ro quá nên tôi xé lẻ làm 6 
công mía, 5 công lúa, 2ha tràm. Kết quả lúa bị nước chụp, phèn dậy, thu hoạch 
chỉ được 7-8 giạ/công, mía thì may mắn phá huề, còn 20 công tràm kêu bán có 
300.000-400.000 đồng/công cũng không ai thèm ngó ngàng tới. Làm ăn thua thiệt, 
nợ mẹ đẻ nợ con, chắc cũng đã tới 50 triệu đồng rồi mà không có cách gì trả 
được".  

Chưa đủ ăn phải lo làm đường!

     
      Ở xã Minh Thuận vẫn còn nhiều căn nhà trống trải thế này - Ảnh: T.Đức
     
Ấp Minh Tiến nằm cách tỉnh lộ 63 và trung tâm huyện U Minh Thượng chưa đến chục 
cây số nhưng điện lưới quốc gia vẫn chưa về tới. Mới hơn 7 giờ tối mà nhiều nhà 
đã đóng cửa im ỉm. Chúng tôi ghé vào một căn nhà thắp đèn dầu "quả trứng", ngọn 
lửa leo lét như hạt đậu. Ông Ba Huy - chủ nhà - cho hay: "Cả xóm này vậy, sáu 
bảy giờ tối đã lên giường như gà cho đỡ tốn tiền mua dầu, với lại có thức khuya 
hơn cũng có chuyện gì mần đâu". 

Rồi ông ra chiều đắn đo: "Làm con lộ này nhà tui mất mấy công đất nhưng có đền 
bù gì đâu. Đường làm xong tưởng sẽ kéo điện về, nhưng mấy năm qua tụi nhỏ mê 
coi đá banh vẫn phải lội bộ ra tới huyện hoặc vô xã”.

Mấy năm trước tỉnh Kiên Giang đã qui hoạch Minh Thuận là xã điểm về công nghiệp 
hóa - hiện đại hóa. Vậy mà hiện tại điện lưới quốc gia chỉ mới dẫn về tới trung 
tâm xã, rồi phủ thêm một vòng bán kính độ 1km quanh trụ sở UBND xã. Thấy dân ở 
trung tâm xã có điện thắp sáng, dân vùng ven phát thèm, bèn tự mua dây dẫn điện 
để "câu đuôi" các hộ có điện kế. "Ngoài số tiền cả triệu đồng đầu tư ban đầu để 
mua hơn 1.000m dây dẫn điện từ đầu kênh 11 vào, dân ở xóm này còn phải trả tiền 
điện cao ngất theo khung giá vượt định mức, vì 5-6 hộ sử dụng chung một điện 
kế" - ông Dương Trung Tính nói. Theo thống kê của xã, trong số gần 1.500 hộ có 
điện thắp sáng đã có hơn 400 nhà sử dụng điện theo kiểu "câu đuôi" này. 

Mà đâu chỉ có chuyện dùng điện giá cao. Xã Minh Thuận có 16 ấp nhưng hiện tại 
chỉ ba ấp có lộ giao thông đi lại được trong cả hai mùa mưa nắng, còn lại 13 ấp 
mới chỉ có lộ đất đi được trong mùa khô, mùa mưa chỉ có cách đi bộ. Ông Dương 
Quốc Khởi, chủ tịch UBND xã Minh Thuận, nói về chủ trương làm đường giao thông: 
"Theo kế hoạch chung của huyện, xã đặt ra chỉ tiêu mỗi năm phát triển thêm 8km 
đường đá dăm ngào nhựa nóng hoặc đổ bêtông thay đường đất. Ngân sách nhà nước 
sẽ đầu tư 70% chi phí, còn lại 30% huy động dân đóng góp". 

Ông Khởi cũng "khoe" ngay trong tháng này xã sẽ làm thí điểm tại ấp Minh Dũng 
con lộ cấp phối, bề rộng mặt lộ 1,5m, dài khoảng 4km dọc theo kênh 8A xuyên qua 
địa bàn ấp. Theo tính toán, chi phí cho con lộ này khoảng 320 triệu đồng. Ngân 
sách nhà nước sẽ hỗ trợ 70%, còn lại 30% tương ứng 96 triệu đồng đã huy động 
dân đóng góp. Trong đó các hộ ở bên phải bờ kênh 8A (tính từ lộ đê bao vào) góp 
960.000 đồng/hộ, còn những hộ bên kia bờ kênh góp 200.000 đồng/hộ. "Có đường đi 
thì mừng lắm, nhưng tháng tư vừa rồi nhà tôi phải chiết ra hơn 3 tấn mía cây, 
cộng thêm tiền do đứa con gái đi làm công nhân may ở thành phố gửi về mới đủ 
tiền đóng góp" - bà Hai Nhung ở ấp Minh Dũng kể.

TẤN ĐỨC

______________

Vùng đất cù lao Lợi Quan (tỉnh Tiền Giang) không phải quá khắc nghiệt, nhưng 
bao đời nay người dân ở đây vẫn không thoát được nghèo. "Ở cái xứ này không có 
lúa ăn coi như chết đói, mà lúa mỗi năm làm có một vụ thôi".

Kỳ tới: Bao năm cày ải vẫn nghèo

 

Nông dân nhọc nhằn bám đất – 
Kỳ 5: Bao năm cày ải vẫn nghèo

     
      Bà Nga ở xã Phú Thạnh làm lụng kiếm sống trên mảnh đất nhiễm mặn -Ảnh: 
V.Tr.
     
 

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=270510&ChannelID=89

 

TT - Cù lao Lợi Quan (tỉnh Tiền Giang) nằm lọt thỏm giữa sông Cửa Tiểu và sông 
Cửa Đại, giáp với biển Đông. Vùng đất này thời tiết không phải quá khắc nghiệt 
vì có sáu tháng nước mặn và sáu tháng nước ngọt, nhưng bao đời nay cuộc sống 
của người dân ở đây vẫn không thoát được chữ nghèo. Thu nhập bình quân đầu 
người hiện nay chưa tới 300 USD/năm. 



Mỗi năm một vụ lúa
Cù lao Lợi Quan bây giờ đã được khoác lên mình chiếc áo mới toanh: huyện mới 
Tân Phú Đông (trước kia thuộc hai huyện Gò Công Tây và Gò Công Đông). Dọc con 
đường đá đỏ dẫn vào trung tâm huyện là trụ sở "dã chiến" của các cơ quan hành 
chính đang được cấp tốc xây dựng bằng tôn. Đó là điều mới mẻ nhất ở cù lao này. 

Đi sâu về các xã cù lao Phú Thạnh, Phú Đông và Phú Tân vẫn chỉ là hình ảnh khắc 
khổ đã có từ những năm trước. Bên kia đất liền vụ lúa hè thu đã lên cỡ một gang 
tay, xanh mướt cả góc trời. Còn ở đây đất đai vẫn cứng như đá, xì phèn vàng 
quạch, nhiều vườn dừa chết trụi, trơ thân. Bà Nguyễn Thị Nga (72 tuổi, ấp Bà 
Lắm, xã Phú Thạnh) cho hay: "Mưa cả tháng nay mà đất cũng chưa chịu mềm, phèn 
cũng chưa xả hết, sốt ruột quá! Ở xứ này không có lúa ăn thì coi như chết đói, 
mà mỗi năm làm có một vụ thôi". 

Bà Nga kể ngày trước cù lao Lợi Quan không có đê bao, không có cống đập mà 
người dân sống khỏe, cây cối tốt tươi. Hết sáu tháng nước mặn thì sáu tháng 
nước ngọt mặc sức trồng lúa, trồng rau màu, nuôi gia súc, gia cầm. Dưới kênh, 
rạch tôm cá, cua, còng nhiều vô kể. Có khi cả tháng trời gia đình bà không mất 
một đồng đi chợ vì hầu như mọi thức ăn cần thiết đều được thiên nhiên ban tặng. 
Rồi khoảng năm 1995, người ta đắp con đê phía sông Cửa Đại để ngăn mặn, chống 
triều cường. Kể từ đó tôm, cá, cua, còng dần dần biến mất. "Bây giờ đi kiếm 
được con cua, con còng mất hết cả ngày. Cái gì cũng phải mua mà không làm gì ra 
tiền cả. Cuộc sống ngày càng khó khăn, chẳng biết rồi đây sẽ ra sao nữa, bao 
năm qua cày ải mà vẫn nghèo" - giọng bà Nga buồn buồn. 


     
      Ruộng đồng bị nhiễm mặn, vườn dừa chết trụi. Đó là những hình ảnh thường 
thấy ở cù lao Lợi Quan - Ảnh: V.Tr. 
     
Trong căn chòi lá nho nhỏ gọi là "tiệm tạp hóa" của bà Phan Thị Kết ở ấp Bà 
Lắm, bà Kết kể bà có năm người con, lớn nhất 30 tuổi, nhỏ nhất 20 tuổi. Cũng 
như bao bậc làm cha làm mẹ khác, bà Kết cũng ao ước cho con cái học hành tới 
nơi tới chốn. Nhưng rồi chỉ có người con út học hết lớp 9, những người còn lại 
chưa hết tiểu học đều phải rời ghế nhà trường đi làm thuê kiếm sống. 

"Con gái út của tôi ham học lắm. Lên được lớp 10, cả nhà mừng như trúng số, 
nhưng không có tiền học. Tôi đành nuốt ngược nước mắt vào lòng nhìn nó đạp xe 
lên thành phố xin việc làm. Bây giờ tôi lại hi vọng đứa cháu ngoại chín tuổi 
đang học lớp 3, nhưng chẳng biết có lo nổi cho nó không" - bà Kết tâm sự. 

Chuyện của gia đình bà Kết cũng giống như phần lớn gia đình ở ba xã cù lao này. 
Chủ tịch UBND xã Phú Đông Lưu Văn Hải cho biết toàn xã có 6.700 nhân khẩu, 
trong đó khoảng 2.000 thanh niên trong độ tuổi lao động, nhưng có tới 70% trong 
số này đã bỏ xứ đi làm ăn xa. Người già, trẻ con ở cù lao này ở lại chủ yếu để 
giữ đất đai của tổ tiên, ông bà để lại và cố gắng gieo trồng với hi vọng có 
thêm ít gạo, ít rau. Ông Hải cũng thừa nhận nhà cửa ở cù lao mọc lên nhiều hơn, 
nhưng đa số được xây dựng từ tiền của những người con tha hương gửi về. "Toàn 
xã có tới 29% hộ nghèo và 15% hộ cận nghèo, họ lấy tiền đâu mà cất nhà. Trận 
bão cuối năm 2006 vừa qua làm sập gần 1.000 căn nhà của xã Phú Đông, Nhà nước 
hỗ trợ bao nhiêu tiền thì họ cất nhà bấy nhiêu chứ đâu có tiền bỏ vô thêm" - 
ông Hải cho biết. 

Nuôi tôm thất bại liên tiếp 
Những năm qua tỉnh Tiền Giang đã chi cả trăm tỉ đồng vào các dự án ở đây, chủ 
yếu ở ba xã nghèo nhất là Phú Thạnh, Phú Đông và Phú Tân. Dọc sông Cửa Đại, có 
đê ngăn mặn cho hai xã Phú Thạnh và Phú Đông; ở xã Phú Thạnh có dự án thủy lợi 
nuôi trồng thủy sản; xã Phú Tân và Phú Đông cũng có các dự án nuôi trồng thủy 
sản. Ông Lưu Văn Hải cho biết ở đây một số nơi nuôi tôm được thì người dân nơi 
khác tới thuê đất nuôi, chứ dân địa phương không có vốn. Gần đây việc nuôi tôm 
thất bại liên tiếp. 

Theo ông Kiều Mạnh Minh - giám đốc Ngân hàng NN-PTNT Tiền Giang, cũng vì nuôi 
tôm thất bát mà hiện nay người dân các xã này đang mắc nợ ngân hàng hơn 50 tỉ 
đồng, trong đó có khoảng 50% thuộc diện khó thu hồi vì dân quá nghèo. "Tôi cho 
rằng việc đưa dự án thủy sản xuống vùng đất này với mong muốn người dân sẽ khá 
lên, từ nhà tranh ngủ một đêm thành nhà ngói là sai lầm. Nông dân không vốn, 
không kinh nghiệm mà bắt nuôi tôm chẳng khác nào hại họ” - ông Minh tâm sự. 

Nhiều dự án nuôi trồng thủy sản bị phá sản không chỉ để lại số nợ hàng chục tỉ 
đồng mà còn làm cho vùng đất này bị nhiễm mặn nghiêm trọng. Ông Nguyễn Văn Khôi 
ở ấp Lý Quàn 2, xã Phú Đông, nói hồi trước không có đê bao, cống đập thì nước 
triều lên xuống tự nhiên. Nước mặn tràn qua cù lao nhưng do đất không bị nứt nẻ 
nên nước mặn không thấm sâu vào lòng đất. Tới mùa nước ngọt, đất đai được xả 
phèn rất nhanh nên trồng lúa, rau màu gì cũng tốt. 

Sau khi đắp đê làm các dự án thủy sản, đất đai chết dần. Mùa khô ruộng đồng 
đang nứt nẻ thì người ta lấy nước mặn vào nuôi tôm làm đất bị nhiễm mặn hơn. Đó 
là do vì sao mùa mưa đã bắt đầu hơn một tháng mà đất vùng này vẫn chưa xuống 
giống được. Bốn công đất của ông Khôi cũng nằm trong vùng dự án thủy sản của xã 
Phú Đông, nhưng ông nhất định không nuôi tôm, một phần vì ông hiểu đất đai ở 
đây, một phần vì không có vốn. Bây giờ khi dự án thủy sản đã "chết", đất trồng 
lúa của ông và nhiều người dân khác trong ấp cũng bị nhiễm mặn không trồng lúa 
được. 

Ở xã Phú Đông, Phú Tân bây giờ kiếm đỏ con mắt cũng chưa có người học ĐH, còn 
thanh niên học hết THPT chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ông Đỗ Văn Chiến  (ở ấp 
Lý Quàn 2) nói mười đứa con của ông đều ly hương từ nhiều năm trước. Ở tuổi 82, 
mình ông Chiến ở nhà trồng sả bán kiếm tiền mua gạo trong khi con cháu xa nhà. 
Bà con chòm xóm vẫn nghèo, trai gái lớn lên đi làm ăn xa. Cù lao thơ mộng này 
đang mất dần màu xanh, những rừng dừa xanh bát ngát trên cù lao ngày xưa không 
còn nữa. Vườn dừa của ông bây giờ chỉ còn bốn cây, tất cả chết trơ thân vì dịch 
hại và nước mặn. 

VÂN TRƯỜNG

____________________________

Và nhiều người lần lượt ly hương. Nhiều người ở miền Tây rủ nhau bỏ vườn, bỏ 
ruộng để ra Cần Thơ, lên TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương... tìm việc.

Kỳ tới:  Lên thành phố!

 

Nông dân nhọc nhằn bám đất – 
Kỳ 6: Lên thành phố!

     
      Những mảnh vườn, thửa ruộng không ai chăm sóc - Ảnh: Tấn Đức
     
 

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=270640&ChannelID=89

 

TT - Một buổi trưa cuối tuần. Đường về Xẻo Cao A vắng lặng. Thi thoảng lại thấy 
bên vệ đường những căn nhà nằm khép mình dưới tán cây, cỏ mọc bít lối đi vì 
vắng bóng chủ nhân. Ghé lại căn nhà treo biển số 155/5. 

       
     

     

Đánh tiếng mấy bận, một cô gái mang bầu xuất hiện. "Em lên Sài Gòn chạy bàn cho 
tiệm ăn với mẹ, rồi lấy chồng làm thợ hồ trên đó. Bây giờ về quê chuẩn bị sinh 
em bé”, Lê Thị Kim Quỳnh (22 tuổi) cho biết.

 

Cả gia đình cùng đi
      Nông dân bây giờ đang khó khăn lắm. Giả dụ có chừng chục triệu đồng thì 
nhiều người cũng chưa biết đầu tư vào đâu, bởi giá nông sản bấp bênh, dịch bệnh 
nhiều.
     
Nhà Quỳnh có ba chị em gái, Quỳnh là chị cả. 13 năm trước, sau khi làm đám thôi 
nôi cho con gái út Lê Thị Thu Thảo, bà Trần Thị Tuyết Vân (mẹ Quỳnh) đã gửi con 
lại, một mình lên TP.HCM chạy bàn cho một quán ăn dưới chân cầu Sài Gòn. 

Công việc ở quán quần quật từ 8 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Để có thêm thu nhập bà 
Vân phải thức dậy từ 3 giờ sáng nấu nước sôi, nhổ lông vịt thuê cho các bà bán 
hàng ở chợ. Mỗi buổi bà làm xong chừng 10-12 con vịt, được trả công 3.000đ/con. 
Cứ ba con vịt thải ra 1kg lông, bán ve chai bà được 1.000đ/kg. Cộng toàn bộ số 
tiền làm thuê, mỗi tháng bà Vân dư hơn 400.000 đồng gửi về nhà. 

Ở quê, ông Lê Văn Liếng - chồng bà Vân - làm hai công rẫy, quanh năm "bán mặt 
cho đất bán lưng cho trời" nhưng sau mỗi mùa vụ, trừ chi phí phân bón, thuốc 
trừ sâu, số tiền thu được còn ít hơn số tiền bà Vân gửi về. Thấy vợ chồng xa 
cách, ông Liếng quyết định gửi hai đứa con nhỏ, đứa cho nội ở Xẻo Cao A, đứa 
kia về với ngoại tuốt bên Thạnh Trị (Sóc Trăng) rồi dẫn Quỳnh lên Sài Gòn. Thời 
gian đầu ông Liếng tìm được chân giúp việc cho một gia đình người nước ngoài, 
còn Quỳnh chạy bàn ở tiệm ăn cùng mẹ. Năm đó Quỳnh mới lên lớp 3, phải dở dang 
việc học. 

Ấp Xẻo Cao A, xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành A (Hậu Giang) nằm kề bên con rạch 
Xẻo Cao hiền hòa bốn mùa trĩu nặng phù sa. Trong ký ức của những người cao 
tuổi, độ 20 năm trước nơi đây là vùng đất trù phú với những vườn cây trái đặc 
sản nổi tiếng xen lẫn với những thửa ruộng màu mỡ. Hằng năm vào thời điểm cận 
tết, ghe thương hồ tựu về tấp nập bến sông để "ăn hàng" rồi trổ ra con kênh Cái 
Tắc, ngược ra chợ nổi Phong Điền (Cần Thơ) hoặc xuôi về chợ Ngã Bảy (Hậu Giang) 
bán hàng cho thương lái. 

Nhưng rồi dịch bệnh vàng lá gân xanh, xì mủ thân trên cam quít, cùng với cảnh 
mất mùa thất giá diễn ra triền miên đã làm khung cảnh phồn thịnh ấy dần dần 
biến mất. Người gặp cảnh khó đã rủ nhau bỏ vườn, bỏ ruộng ra Cần Thơ, lên 
TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương... tìm việc. 

Chỉ riêng trong dòng họ của ông Liếng đã có cả chục gia đình ra đi. Còn trong 
toàn ấp Xẻo Cao A và hai ấp lân cận của xã Thạnh Xuân, theo ghi nhận của chính 
quyền địa phương, đã có cả trăm người bỏ ruộng lên thành. Bây giờ ở Xẻo Cao A 
hầu như chỉ còn lại người già, trẻ em. Mùa thu hoạch lúa đang vào chính vụ 
nhưng trong xóm chỉ còn một đội công cắt ba người từ nơi khác đến. Do thiếu 
người làm nên giá công cắt hiện đã lên tới 130.000 đồng/công. Vậy mà hầu như 
chủ ruộng nào cũng phải đăng ký trước để nhóm cắt thuê xếp lịch.   

Vì sao rời ruộng vườn?

     
      Những căn nhà vắng chủ như thế này hiện diện nhiều nơi ở nông thôn miền 
Tây - Ảnh: Tấn Đức
     
Ông Tư Lùn - 44 tuổi ở Xẻo Cao A, có 7 công vườn trồng cam, quít và 1 công rẫy 
chuyên trồng "hàng bông" dưa leo, cải bắp - khoe: "Bộ tivi, đầu máy này tôi mới 
mua tuần trước, hơn 2,2 triệu đồng lận đó”. 

Tư Lùn là nông dân có diện tích đất nông nghiệp khá lớn so với nhiều người 
trong xóm, nhưng toàn bộ những món tài sản trong nhà ông đều do hai đứa con làm 
công nhân dập long đền đinh ốc ở Khu công nghiệp Linh Xuân, Bình Chánh (TP.HCM) 
gửi về. "Đi làm mới hai năm tụi nó còn để dành gửi về cho vợ chồng tôi hơn 20 
triệu đồng để trả nợ", Tư Lùn khoe. Hồi mới ra đi, đứa con gái Kim Hậu mới 19 
tuổi, còn thằng em trai 16, phải khai thêm hai tuổi mới được nhận vào làm. Thấy 
con đi làm khấm khá, vợ Tư Lùn cũng khăn gói lên thành phố tìm việc, Tư Lùn một 
mình ở nhà đâm chán cũng đang tính đường lên thành phố! 

Cách nhà ông Tư Lùn không xa là nhà bà Nguyễn Thúy Liễu. Gia đình bà được cha 
mẹ chồng chia 2,5 công đất ruộng nhưng hết trồng lúa, xoay qua cả chục loại 
"hàng bông" vẫn không khá. Rồi chồng mất, bà Liễu dẫn cả bốn người con lên 
TP.HCM. Cùng ở thành phố nhưng bốn mẹ con phải ở ba nơi. Bà đi làm ôsin cho một 
nhà ở Q.Bình Thạnh. Hai con gái làm công nhân may, tranh thủ thời gian ngoài 
giờ làm thêm cho một lò bánh bao ở Q.5 và ở luôn tại đây, cộng hai đầu lương 
được hơn 1,5 triệu đồng/người/tháng. 

Người con trai duy nhất của bà vừa bán vé xe cho Công ty Vận tải ôtô Cần Thơ 
vừa theo học Đại học Giao thông vận tải. Vậy mà mấy mẹ con bà đã tích lũy hơn 
40 triệu đồng xây một căn nhà ở quê. Ngay như vợ chồng ông Liếng bây giờ cũng 
đã dành dụm được 42 triệu đồng gửi về quê, cất lại căn nhà khang trang để chị 
em Quỳnh có nơi nương tựa. "Nhờ lên Sài Gòn làm ăn mà gia đình tôi mới được như 
vầy", ông Liếng nói. Và đây cũng là tâm sự của nhiều nông dân ở Xẻo Cao A.  

Địa danh Xẻo Cao A chỉ là một. Thời gian qua, ly hương đã trở thành chuyện phổ 
biến ở nông thôn miền Tây. Liên tục 30 năm làm công tác nông dân ở xã thuần 
nông Thạnh Xuân, ông Lê Văn Phước thuộc như lòng bàn tay từng thửa đất, từng 
nông hộ trên địa bàn. Ông nói: "Nông dân bây giờ đang khó khăn lắm. Giả dụ có 
chừng chục triệu đồng thì nhiều người cũng chưa biết đầu tư vào đâu, bởi giá 
nông sản bấp bênh, dịch bệnh nhiều. 

Tôi biết nhiều gia đình có vườn, có ruộng và rất chí thú làm ăn nhưng tiền 
không kiếm được bao nhiêu, càng ngày càng lún nợ. Và hầu hết những người ra đi 
đều có cuộc sống vật chất khá hơn so với người ở lại, nên làn sóng người ra đi 
vẫn đang diễn ra âm thầm mà chưa có cách nào cản được". 

TẤN ĐỨC

___________________

Có cách nào để người nông dân không ra đi và sống tốt được với ruộng vườn? 
"Trong xã hội hiện đại, nông dân là người dễ bị tổn thương nhất nên họ cần được 
bảo hộ nhiều nhất".

Kỳ cuối: Làm gì để bảo hộ nông dân? 

 

Kỳ cuối: Làm gì để bảo hộ nông dân?

     
      Bao giờ nông dân thoát nghèo, khấm khá? Trong ảnh: một người đàn ông trên 
đường thu hoạch lúa trở về ở làng Cự Đà (Hà Tây) - Ảnh: Lê Bích
     
 

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=270780&ChannelID=89

 

TT - Nhu cầu được bảo hộ của nông dân trong xu thế đô thị hóa thì nhiều, quan 
trọng nhất có lẽ là làm thế nào để họ có thể sống tốt trên chính đồng ruộng của 
mình? Ông Lê Đức Thịnh, phó trưởng bộ môn hệ thống nông nghiệp thuộc Viện Chính 
sách và phát triển nông nghiệp nông thôn, nói:

 

- Tôi cho rằng trong xã hội hiện đại, nông dân là người dễ bị tổn thương nhất 
nên họ cần được bảo hộ nhiều nhất. Sự bảo hộ cần thiết và trước tiên nhất là 
cuộc sống vật chất, chính xác hơn là sản xuất của họ. Trong phạm vi hẹp có thể 
xem đó là hệ thống chính sách bảo hiểm nông nghiệp.

* Có bảo hiểm nông nghiệp, nông dân có được chia sẻ rủi ro không?
- Nông nghiệp VN mỗi năm trung bình thiệt hại do thiên tai, sâu bệnh chiếm 1% 
GDP. Thiệt hại thường tập trung vào một vài địa phương, lĩnh vực nên sự tổn 
thương rất lớn. Đặc thù của sản xuất nông nghiệp là lãi không nhiều nhưng thua 
thì mang nợ cả đời. Sự hỗ trợ tức thời chỉ giải quyết một phần khó khăn trước 
mắt và rất nhỏ. Nông dân là nền tảng và đóng góp rất nhiều cho xã hội, nhưng họ 
phải đơn độc gánh vác phần rủi ro nhất của cuộc sống là điều bất công. Tuy vậy 
chia sẻ rủi ro chỉ là một ưu việt của bảo hiểm nông nghiệp. 

Bảo hiểm nông nghiệp còn có những lợi ích khác. Năm 2006 nuôi một con heo thịt 
đầu tư hết 1,5 triệu đồng nhưng chỉ lãi 100.000-200.000 đồng. Năm 2007 đầu tư 
một con heo mất 5 triệu đồng vốn (gấp ba lần) nhưng lãi lên đến 1 triệu đồng 
(gấp 5-10 lần). 

Về nguyên tắc, đây là cơ hội làm giàu cho người nuôi heo vì lợi nhuận trên vốn 
tăng gấp nhiều lần. Nhưng thực tế thì tổng số đầu heo lúc này lại giảm. Lý do: 
tiền đầu tư đòi hỏi nhiều hơn trước. Nông dân phải đi vay. Vay không được vì 
ngân hàng thấy không có gì để bảo hiểm cho rủi ro này. Nếu dịch bệnh làm heo 
chết thì với số vốn cao như vậy, nông dân không thể trả được nợ. Hậu quả là cơ 
hội vươn lên của nông dân mất đi. Tuy nhiên, nếu có bảo hiểm nuôi heo, chắc 
chắn ngân hàng sẽ cho nông dân vay giống như họ làm với bất cứ lĩnh vực kinh 
doanh nào khác. Và nông dân có thể thoát nghèo, khấm khá... 

Có bảo hiểm thì nông nghiệp dễ kêu gọi đầu tư. Ngoài ra khi bảo hiểm tham gia, 
họ sẽ đòi hỏi hệ thống hạ tầng trong sản xuất nông nghiệp thật an toàn, hiệu 
quả. Đây chính là yếu tố lớn nhất thúc đẩy nông nghiệp, nâng cao chất lượng hạ 
tầng nông nghiệp cũng như trình độ nông dân. Điều này đồng nghĩa với con số 
thiệt hại sẽ không còn lớn tới 1% GDP mỗi năm.


           
            Ông Lê Đức Thịnh 
           

      Ông Lê Đức Thịnh: Bảo hiểm nông nghiệp có ba chức năng chính. Một là chia 
sẻ rủi ro, giảm thiểu những cú sốc cho nông dân và cộng đồng. Hai là thông qua 
những yêu cầu khắt khe của cơ quan bảo hiểm, chúng ta sẽ xây dựng được hệ thống 
bảo đảm an toàn, hiệu quả trong sản xuất, dịch vụ... Qua đó kêu gọi được đầu 
tư, nâng cao quy mô, chất lượng sản phẩm, giá trị gia tăng... Ba là bảo hiểm 
chính là thước đo tính nhân văn, văn minh của xã hội, bảo vệ và thúc đẩy xã hội 
phát triển.
     
* Thế giới đã có bảo hiểm nông nghiệp như thế nào, thưa ông?
- Có ba phương thức thường được các nước áp dụng. Một là doanh nghiệp bảo hiểm 
ký hợp đồng trực tiếp với nông dân. Phương thức này đòi hỏi nông dân phải sản 
xuất với quy mô lớn. Điều này không khả thi ở VN. Cách thứ hai là hợp đồng tay 
ba giữa doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp vốn và nông dân. Doanh nghiệp bảo 
hiểm thẩm định, giám sát...; doanh nghiệp vốn bỏ tiền. 

Tuy nhiên, phương thức này chỉ có thể thực hiện với thể chế rất chặt chẽ. Chống 
tình trạng khi rủi ro xảy ra, doanh nghiệp vốn yêu cầu bảo hiểm trả đền bù. Tức 
là thay vì bảo hiểm nông nghiệp thành ra bảo hiểm vốn. Phương thức thứ ba gọi 
là bảo hiểm theo chỉ số, tức doanh nghiệp bảo hiểm ký hợp đồng với đại diện cả 
một vùng nông thôn. 

Khi rủi ro, thay vì đánh giá thiệt hại từng hộ thì họ sẽ đánh giá thiệt hại cả 
vùng theo một số chỉ số nhất định đã thỏa thuận, rồi đền bù theo mức thiệt hại 
đó. Ví dụ bão làm chết lúa ở một xã, doanh nghiệp đánh giá mức thiệt hại cả xã 
là 30% và sẽ bồi thường cho cả xã đó theo mức này. Việc chia bồi thường cho 
từng hộ sẽ do đại diện nông dân của xã đó tự lo theo thỏa thuận nội bộ từ 
trước, hoặc chia theo mức diện tích gieo cấy của từng hộ... Đây là phương thức 
tối ưu với VN.

* Theo ông, tại sao phương thức này chưa thể vận dụng ở VN?
- Bảo hiểm chỉ số đòi hỏi ít nhất phải có quy hoạch vùng và tổ chức nông dân 
hiệu quả. Năm trước ở Tây nguyên có một vùng trồng mía sạch để xuất khẩu, mía 
này khi có sâu thì không thể dùng thuốc trừ sâu mà phải thả bọ dừa vào vườn mía 
để bọ ăn sâu. Song cạnh vùng mía là những trang trại trồng cây khác cũng bị sâu 
và các trang trại bên cạnh đã phun thuốc trừ sâu khiến bọ dừa của vùng mía ảnh 
hưởng mà chết. 

Ở Tây Bắc có một doanh nghiệp chế biến sữa. Họ giao bò cho các hộ đem về nuôi 
theo quy trình công nghệ của doanh nghiệp đó. Khi doanh nghiệp này mua bảo 
hiểm, cơ quan bảo hiểm yêu cầu phải tiêm phòng bò. Khi tiêm, doanh nghiệp bò 
sữa đã phải bỏ tiền tiêm cho tất cả những con bò khác sống gần chuồng bò của 
mình. Nếu không làm thế, bò của doanh nghiệp có thể lây bệnh của bò "hàng xóm" 
và lúc đó bảo hiểm không hợp tác. 

Qua đó thấy rằng chúng ta phải quy hoạch vùng nào nuôi con gì, trồng con gì? 
Điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật, kinh tế mỗi vùng ra sao? Và tất cả thành viên ở 
vùng đó đều phải tuân thủ. Nếu không có hạ tầng an toàn như thế thì bảo hiểm 
không thể vào cuộc. 

* Để có thể thực hiện bảo hiểm nông nghiệp, chúng ta cần làm gì, thưa ông?
- Có rất nhiều việc thuộc nhiều trách nhiệm nhưng cần nhất là phía Nhà nước với 
những việc sau: tạo dựng hệ thống hạ tầng đảm bảo an toàn nông nghiệp cả về 
pháp lý lẫn thiên tai, dịch bệnh. Ví dụ như quy hoạch vùng, xây dựng các tiêu 
chí kỹ thuật, hệ thống cảnh báo thiên tai, khuyến nông, thú y... 

Nhà nước nên bỏ tiền mua một phần bảo hiểm cho nông dân. Việc này không chỉ 
chia sẻ rủi ro, hỗ trợ bà con mà còn có thể giám sát tranh chấp giữa doanh 
nghiệp bảo hiểm và nông dân khi rủi ro. Đồng thời chúng ta nên xây dựng hệ 
thống thể chế phù hợp khiến doanh nghiệp bảo hiểm luôn phải công bố tỉ lệ, mức 
độ, đối tượng, phương thức... đền bù. Tránh tình trạng gian lận của doanh 
nghiệp cũng như tâm lý trốn mua bảo hiểm nông nghiệp của nông dân. 

Mặt khác, chúng ta cần có hệ thống tiêu chí đánh giá và công bố kết quả chất 
lượng dịch vụ bảo hiểm để nông dân có sự lựa chọn và doanh nghiệp bảo hiểm được 
đánh giá công bằng.

QUANG THIỆN thực hiện

 

Tran Ba Thien
bathien958@xxxxxxxxx

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

Other related posts: