[SMCC] Re: loi binh!

Cơm hàng quán chợ thiếu chi,
Nếu như muốn chén thì tùy anh em
Chén cho 1 bữa đã thèm
Đến khi căng bụng buông rèm pho pho.
  ----- Original Message ----- 
  From: Nguyen Trung Thai 
  To: smcc@xxxxxxxxxxxxx 
  Sent: Wednesday, December 31, 2008 4:42 PM
  Subject: [SMCC] loi binh!


  anh Quốc ơi! Nhiều món quá đi. Nếu chỉ nghe mà không được thưởng thức thì 
cũng là con số 0 thôi anh ạ!

    ----- Original Message ----- 
    From: Nguyen Khanh Quoc 
    To: SMCC ; chu thu ha ; thienan2000@xxxxxxxxx ; Ha center ; Thanh Tu ; 
Thanh Phong 
    Sent: Wednesday, December 31, 2008 10:11 AM
    Subject: [SMCC] Mon La Mien Nam 4


    Món Lạ Miền Nam 
    4. Khô


    Muốn cách gì đi nữa, tôi yêu thì tôi cứ bảo là tôi yêu. Yêu Sài Gòn quá, 
Sài Gòn 
    ơi, bởi vì Sài Gòn là trời hoa, đất rượu. 

    Rượu uống bất cứ loại nào, bất cứ ở đâu, bất cứ giờ nào. Uống cho kỳ “đã” 
thì 
    thôi. 

    Tôi yêu Sài Gòn là vì rượu ở đây “đã” lắm, rượu đậu nành; rượu Vĩnh Tồn 
Tâm; 
    rượu thuốc uống vào không tê thấp, khỏi đau gan, khỏi sình ruột; rượu đế; 
rượu 
    côngsi; thế rồi lại còn nào là whisky, cognac, nào là rượu Minh Mạng “nhất 
dạ 
    lục giao sinh ngũ tử”, rượu dâu, rượu nếp than..., trăm thứ bà rằn rượu... 
uống 
    vào đã mát cả ruột gan, lại có bao nhiêu thứ nhắm diệu kỳ, 
    hỏi làm sao không hả? 

    Này, anh cứ thử cắt một miếng bần hay miếng cốc, chấm tí ti mắm ruốc, đưa 
cay, 
    có phải sướng cái ông thần khẩu quá lắm không? Khế, ổi xanh, củ kiệu, ba 
con tôm 
    khô hay vài cái xương “xí quách”, ấy thế là ta đã có mấy thứ nhắm lý tưởng; 
để 
    làm cho nổi bật lên cái vị của “chất nước có men” lên rồi. Anh giơ cái ly 
lên 
    mời bạn “Dô!” rồi há hốc miệng ra “ngưu ẩm”. Anh tự nhủ: “Ngày xưa, Đỗ Phủ, 
Lý 
    Bạch uống rượu cũng chỉ ”pho" đến thế là cùng". Và có lúc tự anh không nói 
ra 
    nhưng nghĩ thầm trong bụng “anh là trích tiên, không biết ở trên thiên cung 
có 
    tội gì mà bị đầy đọa ”trần ai" nơi hạ giới, khổ đến thế này, chớ với cái 
tài và 
    cái đức của anh, nhất định là phải nắm cổ thiên hạ mà vật ngã xuống đất 
đen, cấm 
    không cho đứa nào được cất đầu lên 
    để hít thở cái không khí dành cho các siêu nhân - mà chính anh là một". 
“Dô” nữa 
    đi, các bồ! “Dô”! 

    Rượu tốt, đồ nhắm lại ngon, uống cả ngày cả đêm không chán. Nhắm mãi củ 
kiệu, 
    tôm khô, trái cốc, bưởi, xoài và mít chán rồi, ta lại gọi “lỗ tai heo”, bì 
cuốn, 
    hay vài chục đồng phá lấu chấm với “lạp chíu chương”... Món 
    nhậu gì cũng “ba chê”, ấy thế mà bao nhiêu thứ đó đều không có “ki-lô” nào 
cả 
    đối với một món nhậu không tiền khoáng hậu là khô. Có khô đi với rượu, rượu 
mới 
    thực là tuyệt đã! 

    Thế thì không có biết khô là gì không, hỡi ông bạn Bắc Kỳ thân mến? Khô 
không 
    phải là một hình dung từ, nhưng là một danh từ; khô là một biến thể chớ 
không 
    phải là một trạng thái; khô là một thực tế chớ không phải là một 
    phương pháp. 

    Không có một người nào trong chúng ta dạo trên những vỉa hè thành phố Sài 
Gòn 
    lại không từng thấy những ông mặt nghiêm nghiêm như suy nghĩ rất lung về 
thế sự 
    nhân tình, nâng ly rượu lên uống và đưa cay một con tôm kèm củ kiệu. Con 
tôm đó 
    chỉ là một hình thức của khô. Nó là một thí dụ rất nghèo nàn mà người viết 
bài 
    này bất chợt nêu ra, chớ thực ra khô không phải là một món ăn, nhưng là cả 
một 
    hệ thống phì nhiêu, gồm những miếng ngon vật lạ thiên hình vạn trạng... 

    Thực vậy, ăn cóc thì chỉ có cóc thôi, ăn lươn chỉ có lươn thôi, ăn ếch chỉ 
có 
    ếch thôi. Nhưng ăn khô thì là ăn không biết bao nhiêu thứ, vì ở đời này có 
bao 
    nhiêu sinh cầm, gia súc ăn được thì tức là có bấy nhiêu khô chờ đợi ta. 
Nhưng 
    khô mà được người ta thưởng thức, tôn thờ và quí mến nhứt, đó là khô tôm và 
khô 
    cá. Ở đây, phàm ai đã cầm một cốc la-de đưa lên miệng, thẩy 
    đều đã biết khô tôm; ở ngoài Bắc, những hôm mưa dầm gió bấc, chúng ta cũng 
đã 
    từng dùng món đó để đưa cay, nhưng không có gì lạ lắm mà cũng không... phổ 
cập. 

    Lạ là khô cá. Cái thứ mà ta vẫn gọi là cá mắm khô, bán từng ký, từng tạ, 
cái thứ 
    cá mắm khô mà mỗi khi ta qua ngõ Phất Lộc, Hàng Mắm ở Hà Nội, vẫn xông ra 
một 
    mùi tanh tưởi, đến nhức đầu, buồn nôn, ở đây đã thành ra một món ăn rất phổ 
    thông, không đắt tiền lắm, nhưng được thưởng thức đáo để là thưởng thức. 

    Trước khi có chiến tranh, thường người ta chỉ thấy lơ thơ một ít người đàn 
bà 
    ngồi dưới cây đèn bán khô. Tất cả vốn liếng của họ chỉ là một cái mẹt trên 
có 
    một ít khô mực, khô cá đuối, khô cá nhái, khô cá tra, khô cá mặn; kèm vào 
đó, 
    một hòn đá và một cái hỏa lò nho nhỏ bằng đất hay bằng một hộp “bít-quy” 
trên có 
    một cái “mành”. Khách qua đường lên cơn ghiền, kêu một ly “ba xi đế” hay 
một ly 
    rượu thuốc và một miếng khô. Người bán hàng lấy một miếng, tùy theo ngón 
tay anh 
    chỉ, để lên trên mành sắt, nướng phồng rồi đặt lên hòn đá, lấy búa đập cho 
khô 
    giập mặt. Như thế, nó mềm. Khách nhậu lấy ngón tay nhón miếng khô, nhai bỏm 
bẻm 
    như Mỹ nhai kẹo cao su, ực một hơi rượu, rồi móc túi trả tiền đi thẳng, 
không có 
    đôi hồi gì hết. 

    Ấy đấy, trước kia, dưới mắt tôi, người ta ăn khô như thế đấy. 

    Nhưng bây giờ ở Sài Gòn thân yêu, kinh tế liệt giường liệt chiếu, người dân 
ít 
    tiền không dám tự thưởng những món nhắm sang, tôi thấy kỹ nghệ ăn khô tiến 
bộ 
    vượt bực, cùng với nghệ thuật nhậu nhẹt: ngoài la-ve, ba xi đế, bây giờ 
người ta 
    rủ nhau uống bảy mươi hai thứ rượu thuốc khác nhau, mười bốn thứ rượu mạnh 
“lô 
    canh”, rượu cắc kè, bìm bịp, thì cố nhiên khô để nhắm rượu cũng phải phát 
triển 
    tới mức tối đa của nó. 

    Người ta đội thúng đi bán khô, quảy gánh đi bán khô, mở tiệm bán khô. Buồn 
không 
    biết làm gì, mở một cái “ba” có đủ các thứ khô để chiều thị hứng của người 
ta; 
    ngồi nhà hát cũng có trẻ đem khô vào mời; quán cà phê có ca nhạc và “sô” 
cũng để 
    một cái tủ kính bán khô chấm với chanh muối hay là tương ớt. Ối, còn nói gì 
đến 
    các quán ở ngoại ô như Tân Thuận, Lồ Ồ, Xóm Mới, Đồng Quê, Bình Lợi: trên 
là 
    trời, dưới là khô; trông cứ hoa cả mắt, không biết ăn thứ nào, bỏ thứ nào! 

    Tựu trung, khô có thể phân ra làm hai loại chính là khô cá và khô thịt. Hai 
loại 
    này lại chia ra làm nhiều phân bộ. 

    Về loại cá, có khô đồng và khô biển. 

    Về loại thịt, có khô gia súc và khô dã thú. 

    Khô đồng là cá đồng phơi khô, như khô lóc nói, khô thòi lòi, khô tra, khô 
sặt, 
    khô bống kèo... Khô biển là cá biển phơi khô, như khô gộc, khô khoai, khô 
nóc, 
    khô chim, khô đuối, khô nục, khô nù... 

    Ai ăn khô cá luôn thấy ngán thì có khô thịt. Khô thịt, cũng như khô cá, 
chia ra 
    làm hai loại: loại gia súc và loại dã thú. Trong loại gia súc, có khô trâu, 
khô 
    ngựa, khô bò... Người mình không làm nhiều khô vịt, khô gà, khô heo như 
“các 
    chú”, nhưng ăn lạ miệng có khô cóc, khô nhái, khô ếch, khô lươn, khô 
chuột... 

    Lạ miệng hơn một tầng nữa là khô dã thú, có khô nai, khô beo, khô tê, khô 
khỉ, 
    khô cọp. Thứ khô sau cùng này bán tới 80 đồng một ký hồi 1954-1955, ăn chơi 
cho 
    lạ miệng, chứ thực ra dai cứ như là chão rách, mà lại khai, chẳng ra cái 
chết 
    gì. Người ta bảo rằng khô này trị được ban trái, quý gấp trăm thịt cọp 
tươi, 
    viện lẽ khô thụ khí âm dương và lúc phơi khô đã lãnh được nhiều “tia trong 
đỏ, 
    tia ngoài tím” của mặt trời. Thôi, thì cứ tin đi là thực cho cả làng cùng 
vui. 
    Đúng hay không đúng, cái đó để hạ hồi phân giải. Duy chỉ biết rằng ăn cái 
khô 
    này, theo lời các cụ già, phải cữ thịt gà và măng tre; không thế, sẽ sinh 
ra 
    “dòi trong bụng”. Có lẽ vì thế ít có người ham khô cọp. 

    Khô đuối ăn dai khẹc, để lên thớt lấy búa đập cũng vẫn dai. Khô thòi lòi ăn 
bã 
    bà bà. Khô lóc nói, ăn đoảng vị. Bằng vào những nhận xét của người sành khô 
thì 
    ngon nhất là khô chim, khô gộc, khô thiều, khô khoai, khô sặt. Gặp một buổi 
    chiều rảnh rỗi, ngồi ở cửa sổ trông ra trời nước mênh mông, mà lòng lại rầu 
rầu 
    một tí, sầu sầu một tí vì nhớ đến người yêu bạt ngàn mây khói, anh nâng một 
ly 
    rượu “độc ẩm”, nhắm một miếng khô lăng-trình nướng vừa chín tới, anh sẽ cảm 
thấy 
    như mình đã trả được thù đời. Anh nhai khô, cho rượu và khô “liên hiệp” với 
    nhau, “hòa đồng” với nhau, tạo thành một vị the the, ngọt ngọt; anh sẽ thấy 
thế 
    là... hết, ở đời không còn gì đáng kể nữa, “đời đã hại mình thì mình vui 
với 
    rượu và khô: đỡ quá!”. 

    Nhưng dù là khô tra, khô lóc hay khô lăng trình; dù là khô nai, khô cọp hay 
khô 
    ngựa mà nhắm rượu thì cũng không nên dùng mặn. Nhậu, phải dùng khô lạt. 
Rượu tốt 
    mà điểm một miếng khô lạt vào, mới cảm được hết cả cái ngon mùi mẫn của 
khô, cái 
    ngon thấm thía, cái ngon chan chứa không biết bao nhiêu dư vị. Nó thơm, mà 
bùi, 
    hơi ngầy ngậy mà lại mặn, mà lại ngọt như nước mắm nhĩ, nhai mãi không biết 
    chán. 

    Có ai một chiều nào nhàn tản trên con đường Pasteur, ở ngã ba Lê Lợi, có 
thấy 
    hàng toán người tề tựu ở trước chùa Chà như dự một cuộc mết tinh vĩ đại? 
Không, 
    họ không phản đối gì hết mà cũng chẳng yêu cầu gì hết. Khẩu hiệu của họ 
căng lên 
    ở trong lòng: họ ăn, họ uống, và uống và ăn để làm thỏa mãn cái dạ dầy 
nhiều đòi 
    hỏi. Có người đứng ăn; có người ngồi ghế ăn; 
    có người ngồi ở xe máy dầu gác chân lên hè để ăn; có người ngồi xổm trên hè 
để 
    ăn; lại có người hãm xe hơi lại, thò đầu ra ngoài kêu ăn. Họ ăn gì vậy? Ăn 
bánh 
    tôm; ăn bì bún; ăn bánh mì phá lấu; ăn ốc; ăn bánh canh giò heo; nhưng muốn 
gì 
    thì gì, món được người ta thưởng thức nhiều nhất, nồng nhiệt nhất và thành 
tín 
    nhất vẫn là món đu đủ bào, rưới rất nhiều dấm ớt lên trên. 

    Ở cái đất quanh năm nắng chói như đây, tạng người ta nhiệt lắm, lòng lúc 
nào 
    cũng cứ xót như cào: ăn cái món ấy vào mát ruột. Các ông ưa quá, mà các bà 
các 
    cô lại ưa hơn; ăn một đĩa rồi lại muốn ăn đĩa thứ hai, thứ ba... thứ sáu... 
    Chính tôi đã thấy có một bà ăn chơi sơ sơ một lúc sáu đĩa như thế rồi xuýt 
xuýt 
    xoa xoa, chảy cả nước mắt nước mũi mà có vẻ như vẫn còn thèm ăn nữa. Ờ, cái 
món 
    đu đủ bào, trộn dấm ớt đó là gì vậy? - Thưa, đó là khô bò. Đu đủ bào, trên 
đặt 
    mấy miếng khô bò, tưới giấm ớt rồi rắc mấy lá ngò lên trên... đó, chỉ giản 
dị có 
    thế thôi, vậy mà ăn vào... phải biết! Ngon chết người đi được! 

    Tôi giận làm sao cái khô bò, chế hóa thần tình như thế, ăn vào đã lạ miệng, 
lại 
    lành (tuy có vẻ hơi dơ chút xíu!), mà cớ làm sao trong bao nhiêu năm trời, 
người 
    ta không nghĩ khuếch trương món đó, chế ra đu đủ bào, pha giấm ớt và trộn 
với 
    khô cá, khô nai, khô heo rừng? Chưa biết chừng chế hoá khô thành một món 
như 
    thế, ăn còn ngon hơn nữa, và người nào xung phong làm các loại khô ngâm 
giấm ớt 
    như thế sẽ hóa ra “vua khô đóng hộp” theo văn hóa đồ hộp của Mỹ, chưa biết 
    chừng... 

    Trong khi chờ đợi ngày vinh quang đó, khô hãy tạm sống cái đời sống chật 
hẹp 
    trong phạm vi quốc nội. Ngoài việc dùng nhậu nhẹt, khô còn được người ta 
dùng 
    làm các món ăn khác, tuy là để xài hàng ngày, nhưng lúc nào cũng tạo ra 
được 
    những mùi vị mới, lạ hơn. Mỗi món ngon một cách, cũng như mỗi cô gái xinh 
một 
    vẻ, biết kể món nào trước, món nào sau bây giờ?! 

    Đặc biệt Sài Gòn, có lẽ là món gỏi. Cô muốn dùng gỏi khô sặt, gỏi lăng 
trình hay 
    gỏi cá nước, cá lo? Xin tùy sở thích. Miễn là trước khi ăn, phải sửa soạn 
cho đủ 
    gia vị, thiếu một thứ thì kém ngon ngay. Dưa leo, đào lộn hột, rau răm, 
thịt ba 
    chỉ, xoài sống; mấy thứ đó đặt vào trong một miếng bánh tráng đã nhúng sẵn 
vào 
    nước cho mềm; ở giữa đặt mấy miếng khô đừng mỏng, đừng dầy, không to, không 
nhỏ; 
    thế rồi cuốn tất cả lại, chấm thật đẫm giấm ớt, vừa chua vừa mặn, hơi cay 
hơi 
    ngọt. Chà, mát ruột làm sao! Có ai sợ bánh tráng và đào lộn hột ăn đầy, có 
thể 
    dùng giản dị đi một chút mà vẫn thấy “thú vị tơ”: ăn khô với rau diếp cá, 
gia 
    thêm vài khoanh trứng luộc, rưới tương trộn đậu phọng ghiền nhỏ, pha thêm 
chút 
    giấm và điểm vài nhánh tỏi. 

    Giản dị hơn một bực nữa là xoài tượng thái từng lát nhỏ kẹp với một miếng 
khô 
    ăn. Có lẽ ăn như thế để tỏ rằng riêng khô cũng đã ngon quá mất rồi, không 
cần 
    phải thêm gia vị làm gì cho phiền phức, nhưng đành vậy, ăn như thế cũng 
chưa tỏ 
    được cái ngon “độc lập” của khô bằng những ông ở Hậu Giang, buổi sáng, thắp 
một 
    ngọn đèn dầu lên uống nước trà, vừa uống nước, vừa nhắm khô bỏm bẻm... 

    Ăn như thế là ăn theo kiểu “bốn món ăn chơi” của Tầu. Ăn như thế với cơm 
cũng 
    được đi, nhưng không mấy thú. Muốn cho ngon thì nên xắt khô ra cho vào tô, 
chưng 
    lên với mỡ, gia thêm củ hành và đường; chín tới, bắc ra ăn với rau sống, 
chuối 
    xanh; cơm nóng với khô chiên vừa vặn “ăn thùng bất chi thình”. Người Đức, 
người 
    Nhật ăn thịt, ăn cá vẫn thường cho đường vào như thế đấy và bảo giầu chất 
    pờ-rô-tít và li-pít lắm. 

    Ai cho thế là lợ thì nấu kiểu xiêm lọ: khô rửa sạch, thả vào nước sôi, đun, 
rồi 
    cho con mẻ nhồm bắp chuối, bỏ rau om, ngò, chua, lá quế, đợi chín thì bắc 
ra ăn, 
    như kiểu cá om với đậu ván ở Bắc: ngon quá xá, có phải thế không, cô? 

    Bên ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, vợ bới thêm một chén cơm nữa cho 
chồng: 


    Cơm trắng ăn với khô khoai, 
    Chồng hòa vợ thuận, ăn hoài quên no 


    Cứ gì phải ăn vây, yến, bào ngư, gân hươu, tống cú. Cứ gì phải ăn bí-tết, 
    lăng-gút bỏ lò, gà sữa, “canaôsitông”, “cátsulê medông” mới được. 

    Vào khoảng tháng bảy, tháng tám, ở miền Nam nước Việt thường hay có bão 
rớt: tự 
    nhiên trời đương nắng bỗng sa sầm hẳn xuống, rồi gió, rồi mưa, rồi vừa mưa 
vừa 
    gió, như đổ cửa, đổ nhà đến nơi. 

    Gặp những buổi gió thảm mưa sầu như thế, hạ bức châu liêm xuống mà vặn ngọn 
đèn 
    hồng lên, cô thủng thẳng kể cho chồng nghe cách làm khô ở “trong này” thì 
bữa ăn 
    càng nổi vị: 

    - Làm cái khô này cũng công phu lắm, anh à. Về khô đồng, không có gì lạ 
lắm, 
    cũng như khô thịt vậy; nhưng làm được cái khô biển, quả là tử công phu. Ờ, 
hôm 
    nào rảnh, vợ chồng mình về Rạch Giá thăm ngoại, em sẽ đưa anh đi xem làm 
khô 
    biển, vui đáo để. 

    “Một buổi chiều kia, đứng trên bờ biển trông ra muôn trùng mây nước, anh sẽ 
thấy 
    có những đoàn thuyền lớn, nhỏ tiến vào trong bến, y như những thuyền mơ 
trong 
    bài hát giao duyên. 

    “Đó là những thuyền đánh cá ở xa về. Thường thường, thuyền nào cũng đầy 
nhóc cá. 
    Em là con nhà nghèo, sinh đẻ trên sóng nước, nên lúc nhỏ không có ngày nào 
em 
    không có mặt lúc các thuyền đánh cá trở về, để chuyển cá lên bờ giúp người 
ta 
    lấy bữa ăn và mót cá về cho gia đình dùng đỡ khổ. 

    “Ở miền duyên hải, rau cải thiếu thốn, người ta hàng ngày chỉ sống ròng với 
cá 
    thì trời thương, biển lúc nào cũng thừa cá để nuôi người, cũng như mẹ hiền 
lúc 
    nào cũng có sữa cho con bú. Thôi thì đủ các phân loại, các hình thức, các 
kích 
    thước, không thể nào tưởng tượng được: có cá cưa, có cá điện, có cá sư, có 
cá 
    lép, lại có thứ cá người - bởi vì mặt mũi nó y hệt người ta vậy... 

    - Ủa, có cá người? Vậy ra người ta không đánh lừa anh sao? 

    - Anh nói gì? Ai đánh lừa anh và đánh lừa gì vậy? 

    - Phải, anh ta cứ tưởng là người ta đánh lừa... Người ta đây là một nhà văn 
Y 
    tên là Curzio Malaparte. 

    - Anh nói gì, em không hiểu. 

    - Em cứ yên, để anh kể đầu đuôi câu chuyện cho mà nghe. Hồi còn ở bưng 
ngoài 
    Bắc, anh có đọc một cuốn hồi ký nhan đề là “Làn da” (La peau) của nhà văn 
sĩ nói 
    trên, trong có chừng mươi lăm kỷ niệm diễn ra hồi thế chiến thứ nhì kết 
thúc, 
    quân đội Đồng minh đến giải phóng cho nước Ý bị “chà đạp dưới gót của độc 
tài 
    phát xít Mussolini”. Đại diện cho Đồng minh lúc ấy có 
    ba vị anh hùng ghê gớm: Roosevelt, Staline và Churchill. 

    Được cái hân hạnh độc nhất vô nhị trên đời là được tam anh đến viếng thăm 
để 
    đánh dấu ngày giải phóng cho dân tộc Ý, tân chánh phủ Ý do Đồng minh chỉ 
định 
    ngầm mặc dầu tan tác xác xơ vì bom giải phóng của Đồng minh, mặc dầu kiệt 
quệ 
    không còn đủ cơm mà ăn, đủ áo mà mặc, mặc dầu xác người vẫn còn chất đống 
lên ở 
    ngoài đường vì được xe tăng giải phóng đè lên bẹp dí như tờ giấy, cũng cố 
gắng 
    treo đèn kết hoa, lấy hơi tàn ra hét lên những khẩu hiệu “Đồng minh muôn 
năm! 
    Quân đội giải phóng muôn năm!”. 

    - Anh càng nói, em lại càng không hiểu. 

    - Thì anh đã nói hết đâu! Tân chính phủ Ý, lúc ấy quả là sống trong cái 
chết, 
    nhưng cứ phải theo đúng nghi lễ văn minh, tổ chức một bữa tiệc sang trọng 
để 
    thết các vị anh hùng giải phóng cho nước Ý đáng thương. Nhưng muốn cho bữa 
tiệc 
    sang trọng, lấy gì ra để mời ăn bây giờ? Sau một cuộc thảo luận kéo dài một 
buổi 
    chiều và một nửa đêm, các nhà tân hữu trách Ý quyết định: nước Ý, đến khi 
được 
    giải phóng, không còn một cái cóc khô gì cả, trừ một hải học viện nuôi toàn 
các 
    giống cá quí kỷ niệm của các Tổng thống Mỹ, Thủ 
    tướng Anh, Pháp, Nga... lúc Ý còn là đồng minh của họ. 

    Các nhà hữu trách Ý bèn cho bắt một ít cá quý nhất trong hải học viện để 
làm 
    tiệc đãi các vị anh hùng giải phóng. Sau mấy món ăn chơi, nhà bếp bưng ra 
một 
    cái đĩa to bằng một cái giường trẻ con, hình bầu dục, do hai người khiêng 
lễ mễ. 
    Đĩa trắng bóng, chung quanh là hành lá, ớt, rau cải bầy mỹ thuật như là một 
thảm 
    cỏ xanh. Hai người trịnh trọng đặt lên bàn. Quan khách liếm môi vì món ăn 
hứa 
    hẹn. Ở giữa đĩa có một con cá 
    rất to. Mọi người giương mắt lên chưa kịp nhìn thì ở đầu bàn, một bà người 
Mỹ, 
    bí thư của Tổng thống Roosevelt hét lên một tiếng rồi ngất xỉu trên bàn 
tiệc. 
    Mọi người đổ xô lại cứu. Đến khi bà Mỹ kia tỉnh lại thì bà chỉ giơ tay ra 
hiệu 
    không nói được. Sau mãi, hỏi ra mới biết là bà sợ... bà kinh tởm... bà gớm 
ghiếc 
    cái con cá quý mà tân chánh phủ Y đã trịnh trọng làm thịt để 
    mời đồng minh xơi. “Cất ngay đi... tôi không thể trông thấy con cá này 
đâu... 
    chính là người ta đã làm thịt người cho chúng ta ăn... thịt một đứa con gái 
    nhỏ... Phải, không phải là cá... đây chính là một đứa con gái nhỏ”. 

    Malaparte, cũng ngồi dự bữa tiệc lịch sử ấy, lễ phép đứng dậy trình bày: 

    - Thưa quí vị, thưa quí bà, tôi nhất định đây là con 
    cá. Chúng tôi gọi nó là cá người (nhân ngư). Nó là con cá quý nhất trong 
hải học 
    viện của nước chúng tôi. Nước chúng tôi trải qua một cuộc chiến tranh nhơ 
bẩn, 
    thực quả không còn gì hết, chỉ còn có con cá này là quí nhất nên chúng tôi 
tâm 
    thành đem làm thịt để thết các ngài là những vị anh hùng lịch sử đã đem bom 
đạn 
    đến diệt phát xít để giải phóng cho đất nước khốn nạn của chúng tôi... Xin 
mời 
    các ngài xơi thử... 

    Bà bí thư người Mỹ giẫy lên đây đẩy: 

    - Không, nhứt định không. Đây không phải là con cá. Đây chính là người, một 
đứa 
    bé con mà họ giết thịt để mi chúng ta ăn. 

    Muốn giải thích cách gì cũng không thể được, nhà văn Malaparte bèn đề nghị 
đem 
    vứt đi cho người dân Ý bị đói khổ vì chiến tranh lấy mà ăn, nhưng bà bí thư 
Mỹ 
    cũng vẫn không chịu: bà bắt phải làm một cái nghĩa địa để chôn con cá. 

    Nhà văn Malaparte cười mà nước mắt chảy ròng ròng, chắp tay lại thưa lên: 

    - Thưa quí bà, thưa quí vị, đến giải phóng nước chúng tôi, quí vị không tự 
biết 
    là vô tình đã đem đến cho chúng tôi một bài học: quí vị nhân đạo không để 
đâu 
    cho hết, quí vị thương người không để đâu cho hết, hơn thế lại thương cả 
đến con 
    cá nữa, và muốn chúng tôi làm một cái nghĩa địa để chôn cá cho mồ yên mả 
đẹp. 
    Chúng tôi rất thấm thía về bài học nhân đạo ấy, nhưng kia kìa, các ngài 
nhìn qua 
    cửa sổ ra ngoài đường mà xem: nhà cửa bị san bằng, xác người chất đống 
không ai 
    chôn cất, con chó cũng như con người đều đói trơ xương; chúng tôi sống 
không có 
    miếng cơm cho vào miệng, chết không có một mảnh đất để chôn, thế thì còn 
đào đâu 
    ra tiền để làm một cái nghĩa địa chôn cá, theo tinh thần siêu đẳng của 
người Mỹ 
    văn minh, giàu có và đầy một tấm lòng nhân đạo? 

    Ấy đó, câu chuyện chỉ có thế thôi. Nhiều lúc anh đã muốn quên đi, không ngờ 
hôm 
    nay em nhắc đến cái giống cá người thành thử lại phải nhớ lại và tự hỏi: 
“Vậy ra 
    người ta không đánh lừa anh sao?”. 

    Nguyên do là vì đọc câu chuyện trên của văn hào Malaparte, hơn hai mươi 
năm, nay 
    anh vẫn yên trí là Malaparte nói đùa và bịa ra câu chuyện “nhân ngư” để nói 
xỏ 
    các vị anh hùng giải phóng cho nước Ý... Ai ngờ lại thật... Mà ngay ở nước 
ta 
    cũng có giống cá người... Thế thì ở nước Ý người ta giết con cá người làm 
thịt 
    mời chủ mới, người Mỹ nhân đạo không chịu ăn thịt con cá người, bắt làm 
nghĩa 
    địa để chôn, còn ở nước ta, người ta đem cá người ra làm gì? 

    - Ôi chao, cá người, cá điện, cá thu, cá lép, cá sư, cá gì thì cũng đem cân 
ngay 
    tại thuyền để chở đi bán ở khắp các nơi trong nước và xuất cảng. Nhưng muốn 
bán 
    bao nhiêu đi nữa thì cá vẫn cứ là thừa mứa, thành ra người ta phải tìm cách 
làm 
    mắm, làm khô. Chỉ có khô 
    mới giữ được lâu thôi. 

    “Cá ở các thuyền bốc lên được chở về vựa; tại đây, có những người đàn bà 
chuyên 
    môn ngồi xẻ cá ra, bỏ ruột rồi rửa bằng nước biển chất lên cả đống như là 
núi 
    vậy. 

    “Sáng hôm sau, cá đó được đem ra phơi trên những giàn tre ở bãi biển thành 
những 
    hàng dài tăm tắp, có khi tới một cây số, hoặc treo lên cho tới khi vừa bủng 
thì 
    đem xuống rửa đi, rồi xát muối, phơi nữa, phới kỳ cho bao giờ khô teo đi 
mới 
    chịu thôi. Rửa nước rồi phơi như thế là để cho cá mềm, chớ mổ cá xong mà 
cho vào 
    thùng thông ngay, ngâm muối một vài đêm rồi phơi lên ba bốn nắng, khô sẽ 
cứng 
    nhắc như đá, ăn không cẩn thận, có thể gẫy răng luôn”. 

    Tôi vốn không phải là người ưa cá. Đến tận lúc lớn lên, tôi tập mãi mới 
biết ăn 
    chả cá; ngoài ra cá kho, cá rán, cá chưng hay canh cá nấu với rau cải bỏ 
mấy lát 
    gừng, tôi ăn không chịu, chỉ bởi lẽ có thành kiến cá tanh, nhất là cá mặn, 
cá 
    mắm thì tôi sợ quá. 

    Vậy mà một hôm kia, tôi đã liều ăn khô. Đó là một buổi sáng mùa thu. Ở Lái 
    Thiêu, một cô bạn và tôi nằm trong một vườn măng nằm ngửa mặt lên trời xem 
mây 
    bay rồi chợt ngủ lúc nào không biết. Đến lúc tỉnh dậy thì trời đã xế trưa, 
bụng 
    đói, mà chung quanh không có hàng quán, hàng quà nào hết. Nhân câu chuyện 
nói 
    chơi, ông chủ vườn đem đến cho chúng tôi hai bát cơm 
    nguội, mỗi bát có để một miếng khô cá lép. 

    Lúc đó, vườn vắng tanh, ở ngoài kia trời nắng chói. Chúng tôi bưng bát lên 
ăn 
    thấy ngon không biết chừng nào. Từ lúc bấy giờ tôi mới biết rằng cơm nóng 
ăn với 
    khô đã ngon quá đi rồi, nhưng ăn khô với cơm nguội lại càng ngon vượt mức, 
ngon 
    không thể nào nói xuể. Và cũng từ đó tôi mới hiểu tại sao có những cô con 
gái 
    Bắc, “ở ngoải” thì không ăn được cá mắm, cá mặn mà vào đến trong này lại 
nghiện 
    khô, mỗi tháng ba mươi ngày thì cả ba mươi ngày chỉ ăn cơm với khô thôi 
cũng cứ 
    ngon đi. 

    Sự thay đổi kỳ lạ đó, hiện giờ tôi vẫn còn đang tìm hiểu. Trong khi chưa 
biết 
    kết luận ra sao, tôi chỉ biết cười khì lúc thấy má con Châu, con Khương, 
con 
    Giao suốt ngày đe dọa lũ con, thò có đồng nào thì lại lẻn ra chợ mua khô 
bò, khô 
    mực... về để ăn với nhau một cách vô cùng thích thú. Các cái chú Ba Tàu làm 
tiền 
    thật tài tình. Một miếng khô tí xíu, chỉ bằng cái móng tay, đem gói vào một 
cái 
    túi nhỏ ngoài đề nhãn hiệu “Hai con voi” “Ba con chuột”... bán một đồng, 
tính ra 
    đắt vàng trời, ấy thế mà trẻ con cứ mua nườm nượp suốt ngày. Thấy thế, ông 
Mỹ 
    cũng làm khô gói vào giấy bạc, trông khoa học không chịu được, rồi đến ông 
Mã 
    Lai A, ông Đại Hàn, ông Nhựt Bổn đều có khô gói giấy tung ra thị trường, ăn 
dỗ 
    tiền của trẻ con mỗi năm không ít. 

    - Cứ gì trẻ con! Mình mắng trẻ cho có lệ, cứ chính mình ăn khô gói giấy 
cũng 
    mê... Này không biết ngoại quốc họ cho thêm cái chất gì vào khô mà nó lại 
ngon 
    khác hẳn “khô chân phương” của người mình thế nhỉ? Chồng không biết trả lời 
vợ 
    ra sao. Cả hai cùng nhìn nhau, không nói và hình như có một lúc cả hai cùng 
nhớ 
    lại có một buổi sáng mùa thu nào đó, trong một cái vườn măng ở Lái Thiêu, 
có một 
    người đàn ông và một người đàn bà - lúc ấy còn là bạn - cùng ngồi trên một 
cái 
    chiếu trải dưới đất ăn cơm nguội vớ

Other related posts: