[SMCC] Re: lich su ra doi quan doi nhan dan viet nam

hi Vũ,

quân đội nhân dân là quân giận nhân đôi là quân giận nhân hai là quân hại nhân 
dân

Đố như vậy mà nói không có ý sỉ nhục là ngụy biện. Tội nghiệp cho những người 
lính đã chiến đấu đã hy sinh xương máu và đời mình. Những người ấy muôn đời đều 
được tôn vinh. Tuy rằng ai cũng biết câu: bạc như dân, gian như quân. 

Ý nói dân chúng ít khi nào hài lòng với cái thể chế họ đang sống. Lúc quan còn 
đương thời thì họ đến để xin giấy tờ, để kiện cáo và làm đủ thứ chuyện liên 
quan đến chính quyền. Đến khi quan này mãn nhiệm quan mới lên thì những người 
dân không được hưởng lợi gì từ quan trước nay được quan mới cho hưởng lợi thì 
không tiếc lời mắng nhiếc quan cũ thì đã đành. Cả những kẻ trước xu nịnh quan 
trước nay để lấy lòng quan mới cũng dèm pha trách móc quan cũ như thường. Đấy 
là bạc bẽo như dân.

Lính tráng bao giờ cũng vậy, khi có mặt chỉ huy và có nhiệm vụ cụ thể thì họ 
sẵn sàng hy sinh tính mạng liều chết nhằm đạt được mục tiêu quân sự. Thế nhưng 
nếu thiếu chỉ huy hoặc không có mục tiêu thì sẵn súng ống vũ khí đấy thì không 
đi trộm gà bắt chó biết làm chi đỡ buồn bây giờ. Đấy gọi là gian như lính.

Một người lính làm sai thì không thể đem điều ấy ra mà trách cả một quân đội. 
Nhưng nhiều người lính làm sai thì kẻ đáng trách là chỉ huy của họ. Vì vậy nói 
tới nói lui, Lính lúc nào cũng đáng thương và đáng kính hết.

Đừng trách họ nữa và không nên chế giễu họ như vậy.

Tran Ba Thien
tranbathien@xxxxxxxxx

  ----- Original Message ----- 
  From: Nguyen Hoang Bao Vu 
  To: smcc ; Vu Cong Hao ; TUYET MINH ; tri thuc ; phuong thao ; 
nguyenthangsm@xxxxxxxxx ; Missy's mom ; Kieu Oanh ; Hao Nguyen ; Lan Thanh 
  Sent: Saturday, December 22, 2007 7:15 AM
  Subject: [SMCC] lich su ra doi quan doi nhan dan viet nam


  lịch sử ra đời của quân đội nhân dân Việt Nam 

  Nhân dịp kỉ niệm 63 năm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam 22-12-1944. 
22-12-2007

  Tôi một lần nữa xin được copy những thông tin sưu tằm cho bạn gần xa được dịp 
tìm hiểu lịch sử ra đời, cấu trúc, hoạt động của tổ chức quân đội nhân dân nước 
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

  Nhân đây tôi xin có một câu đố nhỏ cống hiến đến các bạn và rất mong được các 
bạn vận dụng trí thông minh, sáng tạo, khéo léo của mình để trả lời cho vui.

  Lưu ý: câu đố dựa trên hình thức chơi chữ, không có ý bài xích, phỉ báng hay 
bôi nhọ, nhục mạ tổ chức hay cá nhân nào cả nhé.

  Đố rằng: tại sao nói:

  Quân đội nhân dân là quân hại nhân dân

  Mời các bạn tham gia giải

   

  Tài liệu khá dài nên xin bạn để dành đọc khi có nhiều thời gian rảnh rỗi từ 2 
tiếng trở lên.

  Hy vọng những tài liệu dưới đây sẽ có ích cho nhiều bạn đang là học sinh, 
sinh viên và các bạn nghiên cứu về lịch sử.

  Quân đội Nhân dân Việt Nam, tiền thân là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng 
quân, là lực lượng quân đội chính quy của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
  hòa, sau này là của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngày truyền thống là 
ngày

  22 tháng 12 năm 1944.

  Quá trình phát triển

  Tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải 
phóng quân, được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo,
  thuộc huyện Nguyên Bình, Cao Bằng, ban đầu gồm 34 chiến sỹ do Võ Nguyên Giáp 
chỉ huy chung, Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng, còn Xích Thắng, tức Dương
  Mạc Thạch, làm chính trị viên.

  Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, 
Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sát nhập với lực
  lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, 
lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. Lễ hợp
  nhất được tổ chức ngày 15 tháng 5

  năm 1945 tại Chợ Chu ( Thái Nguyên).

  Ngày 16 tháng 8 năm 1945, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Giải phóng quân 
đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như
  làm chi đội trưởng. Sau 7 ngày quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận 
giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân.

  Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội 
quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

  Tháng 11 năm 1945 Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn 
gọi là Vệ quốc quân. Lúc này quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng
  40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc bộ và Trung Bộ.

  Một số chi đội "Nam tiến" để giúp quân dân miền Nam chống lại quân Pháp

  đang tấn công ở Nam Bộ.

  Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 7/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc đoàn 
đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam.

  Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt 
Nam. Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ, đây là đội quân đầu tiên
  của một dân tộc thuộc địa đánh bại một quân đội thực dân trong lịch sử thế 
giới của thế kỷ 20.

  Sau năm 1954, đại bộ phận Quân đội Nhân dân Việt Nam tập kết về miền bắc Việt 
Nam, và được chính quy hóa.

  Ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Chiến khu Đ Quân Giải phóng miền Nam, gọi tắt 
là Giải phóng quân, được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang
  ở miền Nam Việt Nam. Thực chất, đây là lực lượng Vệ quốc đoàn còn ở lại nam 
Việt Nam, kết hợp bộ phận tăng viện của Quân đội Nhân dân của miền Bắc và lực
  lượng chiêu mộ tại chỗ, thành lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải 
phóng miền Nam Việt Nam.

  Năm 1976, nước Việt Nam thống nhất ra đời, Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân 
Giải phóng miền Nam thống nhất thành Quân đội Nhân dân Việt Nam.

  Các trận chiến quan trọng

  List of 20 items

  • Phai Khắt, Nà Ngần 1944

  • Hà Nội 1946

  • Chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947

  • Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng 1949

  • Chiến dịch Biên giới 1950

  • Chiến dịch Hoàng Hoa Thám

  (Chiến dịch đường 18) 1951

  • Chiến dịch Hòa Bình 1952

  • Chiến dịch Tây Bắc 1952

  • Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 (chấm dứt Chiến tranh Đông Dương) •

  Ấp Bắc 1963

  • Chiến dịch Bình Giã cuối 1964 đầu 1965

  • Chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti 1967

  • Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968

  • Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh 1968

  • Chiến dịch đường 9 - Nam Lào 1971

  • Chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (trận Điện Biên Phủ trên không) 
1972

  • Chiến dịch Tây Nguyên 1975

  • Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 (chấm dứt Chiến tranh Việt Nam)

  • Tây Nam 1978-1979 (Chiến tranh Việt- Campuchia)

  • Phía Bắc 1979 (Chiến tranh Trung-Việt 1979)

  list end

  Các tướng lĩnh tiêu biểu

  List of 18 items

  1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh

  2. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí 
Minh

  3. Đại tướng Hoàng Văn Thái

  4. Đại tướng Chu Huy Mân, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, làm đến phó Chủ tịch 
Hội đồng Nhà nước.

  5. Đại tướng Lê Trọng Tấn

  6. Thượng tướng Chu Văn Tấn, chỉ huy Cứu quốc quân

  7. Thượng tướng Trần Văn Trà, tư lệnh Quân giải phóng miền Nam

  8. Thượng tướng Trần Văn Quang

  9. Trung tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh Nam Bộ

  10. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên

  11. Thiếu tướng Dương Văn Dương, Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên

  12. Thiếu tướng Hoàng Sâm, đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền 
giải phóng quân

  13. Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, vị tướng quân đầu tiên

  14. Thiếu tướng Nguyễn Sơn, Lưỡng quốc tướng quân

  15. Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, tướng quân tóc dài, phó tư lệnh Quân giải 
phóng miền Nam

  16. Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, cha đẻ của ngành quân giới

  17. Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện, vị tướng Chính ủy.

  18. Thượng tướng Phùng Quang Thanh, đương kim Bộ trưởng Quốc phòng (từ 2006)

  list end

  Tổ chức

  Lực lượng vũ trang Việt Nam chia làm 3 thứ quân: Chủ lực, Địa phương và Dân 
quân-Tự vệ. Trừ Dân quân-Tự vệ là lực lượng bán quân sự, còn lại là quân đội

  chuyên nghiệp và được tổ chức chính quy.

  Cấp tổ chức của Quân đội Nhân dân Việt Nam từ thấp đến cao là Tiểu đội, Trung 
đội, Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn, Lữ đoàn, Sư đoàn (trước đây gọi là Đại

  đoàn). Cấp cao nhất là Quân đoàn (Binh đoàn), cả thảy có 4 quân đoàn là các 
quân đoàn 1, 2, 3, 4. Đây chính là quân chủ lực cơ động.

  Từ cấp tiểu đoàn trở lên ban chỉ huy gồm cấp trưởng, cấp phó, tham mưu trưởng 
và cấp phó phụ trách công tác chính trị, theo chế độ một thủ trưởng. Trước

  đây, khi thực hiện chế độ "2 thủ trưởng", thì ngoài thủ trưởng quân sự (đại 
đội trưởng, tiểu đoàn trưởng...), từ cấp đại đội trở lên còn có thủ trưởng

  chính trị, được gọi là chính trị viên (ở cấp đại đội và tiểu đoàn) hoặc chính 
ủy (ở cấp trung đoàn trở lên). Cấp thủ trưởng chính trị này từ sau chiến

  tranh chống Mỹ đã chuyển thành cấp phó phụ trách công tác chính trị.

  Tổ chức quân đội chia ra 2 loại: Quân cơ động và quân đồn trú. Quân cơ động 
là lực lượng chủ lực tiến công cơ động, không gắn cố định với địa dư đóng quân.

  Quân đồn trú để bảo vệ địa phương mình đồn trú và xây dựng quân sự địa phương.

  Quân cơ động: Quân đoàn 1, còn gọi là

  Binh đoàn Quyết Thắng, được thành lập ngày 24 tháng 10 năm 1973 tại Ninh Bình.

  Quân đoàn 2, còn gọi là Binh đoàn Hương Giang, được thành lập ngày 17 tháng 5 
năm 1974 tại Thừa Thiên-Huế.

  Quân đoàn 3, còn gọi là Binh đoàn Tây Nguyên, được thành lập ngày 26 tháng 3 
năm 1975 tại Tây Nguyên.

  Quân đoàn 4, còn gọi là Binh đoàn Cửu Long, được thành lập ngày 20 tháng 7 
năm 1974 tại miền Đông Nam Bộ.

  Quân đồn trú: Về mặt địa lý, đơn vị quân sự cao nhất là Quân khu, chỉ huy 
quân địa phương và một số binh đoàn, binh đội trực thuộc. Chức năng cơ bản của
  Quân khu là tác chiến bảo vệ lãnh thổ được phân cho mình, xây dựng nền quốc 
phòng toàn dân ở địa phương tại quân khu. Toàn quốc Việt Nam hiện nay chia
  thành 8 quân khu gồm các:

  quân khu 1 (khu vực vùng núi tả ngạn sông Hồng- vùng Việt Bắc),

  quân khu 2 (khu vực các tỉnh miền núi hữu ngạn sông Hồng – vùng Tây Bắc),

  quân khu 3 (các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ),

  quân khu 4 (các tỉnh Bắc Trung bộ: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, 
Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế),

  quân khu 5 (các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên),

  quân khu 7 (Đông Nam Bộ),

  quân khu 9 (Tây Nam Bộ)

  và quân khu Thủ đô ( Hà Nội và địa bàn xung quanh).

  Theo cơ cấu ngành dọc, Quân đội Nhân dân Việt Nam có Quân chủng chia theo môi 
trường tác chiến và Binh chủng là loại đơn vị kỹ thuật. Hiện nay, Việt Nam

  có 3 quân chủng là: Lục quân, Hải quân, Phòng không-Không quân. Ngoài ra, Bộ 
đội Biên phòng được xếp ngang với các Quân chủng.

  Các chức vụ cao nhất trong Quân đội Nhân dân Việt Nam gồm

  Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, có cấp bậc quân hàm cao 
nhất là Đại tướng.

  Đảng ủy Quân sự Trung ương, gọi tắt là Quân ủy Trung ương, là cơ quan lãnh 
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập
  vào tháng 1 năm 1946.

  Ngoài ra, trong chính quyền Việt Nam có chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng cũng 
thuộc giới quân nhân, và từng có chức vụ Tổng tư lệnh do Võ Nguyên Giáp nắm giữ.

  Cấp bậc quân hàm

  Theo Sắc lệnh số 33 ngày 22 tháng 3 năm 1946 do Chủ tịch Chính phủ nước Việt 
Nam Dân chủ Cộng hòa ký, các cấp bậc của Quân đội Quốc gia Việt Nam được quy
  định như sau:

  List of 5 items (contains 5 nested lists)

  1. Cấp Tướng (3 bậc)

  List of 3 items nesting level 1

  • Đại tướng 3 sao vàng trên nền đỏ

  • Trung tướng 2 sao vàng trên nền đỏ

  • Thiếu tướng 1 sao vàng trên nền đỏ

  list end nesting level 1

  2. Cấp Tá (3 bậc)

  List of 3 items nesting level 1

  • Đại tá 3 lon vàng và 1 sao vàng trên nền đỏ

  • Trung tá 2 lon vàng và 1 sao vàng trên nền đỏ

  • Thiếu tá 1 lon vàng và 1 sao vàng trên nền đỏ

  list end nesting level 1

  3. Cấp uý (4 bậc)

  List of 4 items nesting level 1

  • Đại úy 3 lon vàng trên nền đỏ

  • Trung úy 2 lon vàng trên nền đỏ

  • Thiếu úy 1 lon vàng trên nền đỏ

  • Chuẩn úy (biểu tượng) vàng trên nền đỏ

  list end nesting level 1

  4. Cấp sĩ (3 bậc)

  List of 3 items nesting level 1

  • Thượng sĩ (biểu tượng) đỏ trên nền vàng tươi

  • Trung sĩ (biểu tượng) đỏ trên nền vàng tươi

  • Hạ sĩ (biểu tượng) đỏ trên nền vàng tươi

  list end nesting level 1

  5. Cấp binh (2 bậc)

  List of 2 items nesting level 1

  • Binh nhất (biểu tượng) đỏ trên nền vàng tươi

  • Binh nhì (không có quân hàm)

  list end nesting level 1

  list end

  List of 1 items

  • Quân hàm sĩ quan

  list end

  Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh, chế độ quân hàm chưa được áp dụng, trừ 
vài trường hợp ngoại lệ. Năm 1958, chế độ quân hàm mới chính thức được áp dụng
  đại trà và ổn định từ đó đến nay, trừ một vài thay đổi nhỏ.

  Hệ thống quân hàm sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay có 3 cấp: 
Tướng, Tá, Úy, mỗi cấp có 4 bậc được phân theo số sao: Đại (4 sao), Thượng (3 
sao),
  Trung (2 sao) và Thiếu (1 sao), riêng cấp Úy có thêm bậc Chuẩn úy (sĩ quan 
chuyên nghiệp). Dưới quân hàm sĩ quan là các quân hàm Học viên, Hạ sĩ quan và
  Chiến sĩ. Hạ sĩ quan (cấp sĩ) có 3 bậc: Thượng, Trung và Hạ. Cấp Binh (Chiến 
sĩ) có 2 bậc: Binh nhất và Binh nhì.

  Cấp hàm Thượng tướng, Thượng tá Và Thượng úy

  được quy định từ năm 1958.

  Cấp hàm Thượng tá bị bãi bỏ năm 1983 rồi được khôi phục lại từ năm 1992. Các 
cấp hàm có tên gọi riêng trong hải quân:

  Đô đốc (tương đương Thượng tướng),

  Phó Đô đốc (tương đương Trung tướng),

  Chuẩn Đô đốc (tương đương Thiếu tướng) được quy định lần đầu tiên trong Luật 
sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1981.

  [1] Quân nhân chuyên nghiệp là quân nhân có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất 
định cần cho công tác chỉ huy chiến đấu, do đó làm công tác chuyên môn nghiệp
  vụ dài hạn trong quân đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Sĩ quan chuyên 
nghiệp không làm công tác chỉ huy, quản lý. Cấp hàm thấp nhất của sĩ quan

  chuyên nghiệp là Chuẩn úy và cao nhất là Thượng tá.

  Quân hàm Quân đội Nhân dân Việt Nam có 2 hình thức chính là quân hàm chính 
thức và quân hàm kết hợp. Quân hàm chính thức là cấp hiệu đeo ở trên vai áo.

  Quân hàm kết hợp là phù hiệu binh chủng kết hợp cấp hiệu đeo ở trên ve áo 
(còn gọi là quân hàm dã chiến). Sĩ quan chuyên nghiệp không đeo quân hàm kết

  hợp. Quân hàm Chuẩn úy không áp dụng cho sĩ quan chỉ huy.

  Quân hàm chính thức

  Quân hàm cho biết cấp bậc và quân chủng của quân nhân.

  Màu viền của quân hàm thể hiện các quân chủng:

  List of 3 items

  • Lục quân: màu đỏ tươi.

  • Không quân và Phòng không: màu xanh da trời.

  • Hải quân: màu tím than.

  list end

  Màu nền là màu vàng.

  Riêng quân hàm Bộ đội biên phòng có màu viền là màu đỏ tươi tương tự như Lục 
quân, nhưng có màu nền xanh lá cây.

  Phù hiệu

  Theo quy định năm 1982 thì Quân đội Nhân dân Việt Nam có 25 loại phù hiệu 
binh chủng sau đây:

  List of 25 items

  • Binh chủng hợp thành bộ binh: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.

  • Bộ binh cơ giới: hình xe bọc thép trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.

  • Đặc công: hình dao găm đặt trên khối bộc phá dưới có mũi tên vòng. •

  Xe tăng, xe bọc thép: hình xe tăng.

  • Pháo binh: hình hai khẩu pháo đặt chéo.

  • Hóa học: hình tia phóng xạ trên hình nhân benzen.

  • Công binh: hình cuốc, xẻng trên nửa bánh xe.

  • Thông tin: hình sóng lượn.

  • Bộ đội biên phòng: hình móng ngựa trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.

  • Quân chủng không quân: hình sao trên hai cánh chim.

  • Bộ đội nhảy dù: hình cánh máy bay trên dù đang mở.

  • Quân chủng phòng không: hình hai khẩu pháo đặt chéo.

  • Tên lửa: hình tên lửa trên nền mây.

  • Cao xạ: hình khẩu pháo cao xạ.

  • Ra-đa: hình cánh ra-đa trên bệ.

  • Quân chủng Hải quân: hình mỏ neo.

  • Hải quân đánh bộ: hình mỏ neo trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.

  • Ngành Hậu cần - Tài vụ: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo, dưới có bông 
lúa.

  • Quân y, thú y: hình chữ thập đỏ trên hình tròn.

  • Ngành kỹ thuật: hình com-pa đặt trên chiếc búa.

  • Lái xe: hình tay lái trên díp xe.

  • Ngành Quân pháp: gồm cơ quan điều tra hình sự, tòa án quân sự. Viện kiểm 
sát quân sự, cơ quan pháp chế, và các lực lượng kiểm soát quân sự: hình mộc trên

  hai thanh kiếm đặt chéo.

  • Quân nhạc: hình chiếc kèn và sáo đặt chéo.

  • Thể công: hình cung tên.

  • Văn công: hình ký hiệu âm nhạc và đàn nguyệt.

  list end

  Quy định về chức vụ sĩ quan

  Theo Nghị định số 44/2005/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 5 
tháng 4 năm 2005, quy định nhóm chức vụ chuẩn và cấp bậc quân hàm cao nhất tương
  ứng của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam là:

  List of 9 items

  • Các chức vụ Bộ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị 
có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tướng

  ;

  • Chức vụ Tư lệnh Quân khu, Tư lệnh Quân chủng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng có 
cấp bậc quân hàm cao nhất là Trung tướng

  ;

  • Chức vụ Tư lệnh Quân đoàn, Tư lệnh Binh chủng có cấp bậc quân hàm cao nhất 
là Thiếu tướng

  ;

  • Chức vụ Phó Tư lệnh Quân đoàn, Phó Tư lệnh Binh chủng, Sư đoàn trưởng có 
cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tá

  ;

  • Chức vụ Lữ đoàn trưởng có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thượng tá

  ;

  • Chức vụ Trung đoàn trưởng, Trung đoàn phó có cấp bậc quân hàm cao nhất 
Trung tá

  ;

  • Chức vụ Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn phó có cấp bậc quân hàm cao nhất là 
Thiếu tá

  ;

  • Chức vụ Đại đội trưởng, Đại đội phó có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại úy

  ;

  • Chức vụ Trung đội trưởng có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thượng úy.

  list end

  Tên gọi

  Chữ "nhân dân" trong tên gọi "Quân đội Nhân dân Việt Nam" xuất phát từ mục 
tiêu của nó: "Quân đội Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu,
  sẵn sàng một lòng với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng 
vượt qua, tuyệt đối trung thành với nhà nước, với dân tộc".[

  Trong báo chí Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam thường được viết tắt là 
QĐND. Chữ "Nhân dân" cũng có mặt trong nhiều tên gọi các tổ chức của Việt
  Nam như

  Công an Nhân dân, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao... và cũng là chữ phổ biến 
trong tên gọi các tổ chức của các nước cộng sản.

   

  Name: Nguyen Hoang Bao Vu
  Home: 210C Hiep Binh Chanh tenement. Thu Duc district Ho Chi Minh City Viet 
Nam
  Home Phone: 848-726-2214
  Cell-phone: 848-97-987-8854
  Yahoo ID: nguyenhoangbaovu
  Skype ID: nguyenhoangbaovu
  Loud Talk ID: nguyenhoangbaovu
  Blog: 360.yahoo.com/nguyenhoangbaovu

Other related posts: