[SMCC] dam gio ông Vo Van Kiet
- From: "Tran Ba Thien" <tranbathien@xxxxxxxxx>
- To: <smcc@xxxxxxxxxxxxx>
- Date: Fri, 29 May 2009 17:35:04 +0700
Thứ Sáu, 29/05/2009, 12:24 (GMT+7)
Kỷ niệm một năm ngày mất nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt
Sức hấp dẫn kỳ lạ của ông Sáu Dân
TTCT - “Đừng sợ sự không tròn trịa. Chỉ nên sợ mấy thứ này: dốt mà không chịu
học, làm chuyện gì cũng lớt lớt, thiếu ngay thẳng, trộm cắp, thờ ơ với việc
chung”. Tác giả của câu nói đầy cá tính và chân thành ấy đã rời xa thế giới
thực tại của chúng ta đúng một năm rồi. Nhiều người vẫn nhớ ông, thương ông như
một con người đáng kính, đáng quý nhưng không tròn trịa...
Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm hỏi các chiến sĩ thanh niên xung phong thi
công tuyến đường Rừng Sác, huyện Cần Giờ, TP.HCM - Ảnh: N.C.T.
So với những người cùng thời, có lẽ ông Sáu Dân là người được giới cầm bút đề
cập đến nhiều nhất. Nếu tính cả những bài viết về ông từ khi ông còn ở cương vị
trọng trách cao nhất của TP.HCM và sau đó là người đứng đầu Chính phủ, cho đến
khi ông đã thôi hết các chức vụ nhưng vẫn không ngừng làm việc như một nhà
nghiên cứu và hoạt động xã hội độc lập, thì số lượng ấy đủ để làm thành nhiều
cuốn sách chắc chắn có sức thu hút người đọc.
Tạo được sức hấp dẫn đích thực cho các cây bút đích thực, đó là điều mà ông Sáu
và một số rất ít nhà lãnh đạo khác ở Việt Nam trong khoảng hơn nửa thế kỷ qua
đã làm được. Làm được không có nghĩa là cố tạo ra. Làm được, ở ông Sáu (và một
số người lãnh đạo khác) đó chính là tự làm ra mình trong cuộc sống, như nhận
xét về ông của ông Trần Việt Phương - người có cơ hội sớm được làm việc và làm
việc lâu với những người lãnh đạo cao nhất của đất nước.
Đi tận nơi, nghe trực tiếp, giải quyết dứt khoát
Cuộc sống mà ông Sáu tự làm ra mình trong đó có biết bao tình huống và những
khúc quanh, thử thách ông trong cách xử lý, đương đầu và vượt qua. Đã nhiều lần
ông nói với những người cộng sự gần gũi rằng đứng bên ông trong những lúc nan
giải của công việc bao giờ cũng có hình ảnh, tiếng nói của người dân đủ mọi
tầng lớp mà ông luôn tìm dịp gần gũi và luôn thật sự lắng nghe.
Nghe dân, dù họ đang ở hoàn cảnh nào, vị thế nào, với ông đó là cách tốt
nhất để hiểu con người, để nắm bắt được thực tế cuộc sống và từ đó đưa ra được
những kiến giải thiết thực, cụ thể. Nghe dân ở ông Sáu là cái cách nghe trực
tiếp, nghe chăm chú, nghe để học hỏi, để đối chiếu và đối thoại. Tuyệt nhiên
không phải cái cách nghe cho có lệ, nghe qua người khác và tin theo đó không
cần qua kiểm chứng.
Hồi công trình thủy điện Trị An đang thi công, ông Sáu là ủy viên Bộ Chính trị,
bí thư Thành ủy. Chạy gạo cho dân thành phố, tìm cách giữ chân các chuyên gia
giỏi của chế độ cũ để họ không vượt biên, lo nguồn thuốc chữa bệnh cho dân...
Công việc chồng chất như chực xô ngã người cầm trịch. Vậy mà cứ cách tuần ông
lại chạy lên Trị An. Lái xe cho ông hồi đó là anh Minh còn nhớ rõ 5 giờ chiều
từ Sài Gòn đi, tối làm việc và nghỉ đêm ngay tại công trường, 4 giờ sáng hôm
sau khởi hành về. Không phải ông đi kiểm tra.
Thiếu tướng Trần Văn Danh, Ba Trần - người ông chọn làm tổng chỉ huy xây dựng
thủy điện Trị An, đã cho ông niềm tin rất lớn về công tác điều hành. Ông đi Trị
An thường là vì ông muốn trực tiếp động viên tập thể kỹ sư, công nhân làm việc
tại đây.
Lý do khác, quan trọng hơn, ông muốn trực tiếp nghe anh em nhận xét, góp ý thêm
cho công tác quản lý. Bởi vì ông biết chắc một công trình thủy điện lớn lần đầu
tiên triển khai thực hiện ở miền Nam sau ngày giải phóng dù quản trị kỹ đến đâu
cũng khó bao quát hết. Nhờ những chuyến đi như thế, rất nhiều chi tiết công
việc đã được điều chỉnh kịp thời, đảm bảo hoàn thành công trình về tiến độ lẫn
chất lượng, và thật khác với hiện nay, không có hiện tượng thanh toán gian lận,
“rút ruột” công trình.
Một câu chuyện khác. Khoảng năm 1978-1979, ông Sáu từng ngồi sau một bức màn
ngăn giữa hai căn phòng ở báo Tuổi Trẻ (trụ sở lúc đó còn ở 12 Duy Tân) để nghe
các ca sĩ nói với các nhà báo về một bức bối đáng báo động: Sài Gòn giải phóng
hơn một ngàn ngày rồi mà nhu cầu thưởng thức âm nhạc của người dân vẫn chưa
bình thường. Phòng trà ca nhạc đóng cửa hết, người ta muốn đi nghe nhạc chẳng
biết ngồi ở đâu và sẽ được nghe những bản nhạc nào. Những nghệ sĩ càng nói càng
hăng vì chẳng có lãnh đạo nào ngồi đó để họ phải e dè.
Sau cuộc ngồi nghe bí mật đó của ông Sáu, hàng loạt tụ điểm ca nhạc ngoài trời
đã được tổ chức trong khắp thành phố. Câu chuyện về vở Hà My của tôi của Đoàn
kịch nói Hà Nội cũng vậy. Vở diễn này chỉ trích mạnh mẽ những tiêu cực ẩn chứa
trong công tác tổ chức cán bộ và vì vậy đã bị đánh giá khá nặng nề. Thậm chí
một vài cán bộ có thẩm quyền đã đề nghị tạm ngưng diễn. Nghe chuyện, ông Sáu
mời soạn giả Lê Duy Hạnh và vài anh em làm công tác sân khấu đến nói cho ông
nghe về vở kịch. Rồi ông chỉ đạo ngành văn hóa mời Đoàn kịch nói Hà Nội mang vở
này vào Sài Gòn. Ông đã trực tiếp đi xem, ngồi trọn buổi.
Sau đó ông chính thức đánh giá: sớm nói thẳng cái chưa tốt trong bộ máy chúng
ta để sửa đổi và phòng ngừa thì có gì bất lợi đâu. Vở kịch rất tốt, nó làm cho
người xem phải day dứt vì trong sân khấu và cũng là cuộc đời ấy, người tốt bị
cái xấu xa giả danh điều tốt đẹp ở ngay trong bộ máy làm cho điêu đứng cùng
cực. Sau “cú hích” đó của ông Sáu, Sài Gòn nô nức đến rạp với Hà My của tôi,
xem và bàn luận say sưa, cứ thế suốt một thời gian dài... Giới sáng tác sân
khấu, cứ như thể được bật đèn xanh, bắt đầu cựa quẫy tìm lối thể hiện mới...
Không căn cứ vào sự tròn trịa
Cái cách tiếp cận cuộc sống và công việc như vậy đã trở thành phong cách ông
Sáu Dân. Và phong cách ấy đã khiến cho rất nhiều người dễ gần ông và muốn gần
ông. Cán bộ, trí thức, văn nghệ sĩ..., dẫu có khác nhau thế nào về lứa tuổi,
chức vụ, trình độ, cảnh ngộ, cá tính thì tất thảy đều cảm thấy có thể bộc bạch
với ông từ chuyện chung đến chuyện riêng. Tất thảy đều nhận được từ ông sự cảm
thông về cảnh ngộ, sự chia sẻ về những khó khăn và sự hàm ơn về những đóng góp
cho sự nghiệp chung.
“Nếu “học đòi trí thức” mà bớt dốt, mà có lợi hơn cho công việc chứ không
phải để làm bộ và bị anh em có thực học lột tẩy thì cũng nên học đòi!”
VÕ VĂN KIỆT
Phong cách ông Sáu Dân trong công việc là vậy. Còn trong cuộc sống đời thường,
những người cùng sống hoặc từng tiếp xúc đều nhận ra ở ông một cách ứng xử rất
riêng. Cái gì cần cho bản thân, hợp với bản thân là ông chọn. Không cần nhìn
ngang nhìn ngửa để điều chỉnh cho “vừa mắt” ai đó.
Ông thường nói với những người thân thỉnh thoảng quây quần bên ông: “Con người
ta sanh ra đâu có ai tròn trịa hoàn toàn. Bản tánh khác nhau, sở thích khác
nhau, nhu cầu khác nhau cũng làm cho sự không tròn trịa của mỗi người có khác.
Đừng sợ sự không tròn trịa. Chỉ nên sợ mấy thứ này: dốt mà không chịu học, làm
chuyện gì cũng lớt lớt, thiếu ngay thẳng, trộm cắp, cửa quyền, thờ ơ với việc
chung”.
Ông chọn xe đạp và tennis để giải trí và rèn luyện sức khỏe. Việc ông sớm chọn
tennis từ đầu những năm tám mươi cũng từng làm cho người này người khác nói ra
nói vào. Ông Sáu thích đọc sách. Sở thích và cũng là nhu cầu ấy của ông không
có nhiều người biết. Người ta nghĩ đơn giản ông học vấn không cao, trách nhiệm
công việc lớn, sao có thời gian, nhu cầu về sách? Những người đồng liêu với ông
có cách suy nghĩ ấy có lẽ không hề biết với ông sách vừa là sở thích, vừa là
công cụ bồi bổ tri thức.
Thủa tráng niên, thời gian dành tất cả cho cuộc chiến đấu, ông đâu có điều kiện
đọc sách theo sở thích. Sau giải phóng 1975, là chủ tịch ủy ban quân quản và
sau đó là bí thư thành ủy, công việc ngập lút đầu nhưng ông vẫn tìm được thời
gian cho sách. Nghe giới thiệu có cuốn nào đang được người đọc chú ý, ông bảo
người thân cận kiếm liền cho ông. Có cuốn ông “gặm” (cách ông nói) cả tháng mới
xong.
Có cuốn ông đọc liền một mạch, rồi đọc đi đọc lại. Chuyện thường ngày ở huyện
của Oveskin, Thao thức của Alechxan Kron, Đôi bờ... là những cuốn ông đã đọc
như thế. Gặp lúc có chút giờ rảnh, ngồi với những người bạn vong niên, ông hồn
nhiên và hăm hở chia sẻ những câu, những đoạn ông tâm đắc vì nó như vận vào vừa
khít với thực tiễn còn quá nhiều trăn trở, bối rối mà ông đang cùng với nhiều
người có trách nhiệm xem xét, tháo gỡ.
Cái cách ông mê sách và thật sự trân trọng sách như một công cụ chuyển tải tri
thức được anh em cán bộ thân cận và anh em trí thức đánh giá cao. Nhưng cũng có
những người, ít thôi, bóng gió dè bỉu sau lưng, cho ông là “nông dân mà học đòi
trí thức”.
Ông biết và lại bình thản nhắc những người gần gũi khi họ phản ứng với thái độ
đó: “Không sao cả, họ nghĩ vậy cũng có cái lý. Mình là nông dân thiệt, ham học
là để bớt dốt, để đỡ cản trở anh em trong công việc mà thôi. Có thể cái sự
không cam chịu “nông dân một bề” của mình làm cho một vài ai đó không hiểu hoặc
không thích. Nhưng mà nếu “học đòi trí thức” mà bớt dốt, mà có lợi hơn cho công
việc chứ không phải để làm bộ và bị anh em có thực học lột tẩy thì cũng nên học
đòi!”.
Kết thúc những lần “tiếp thu ý kiến đóng góp” theo kiểu “rất chi là Sáu Dân”
như vậy, bao giờ ông cũng cười rất tươi. Nụ cười của ông, giống như các nhà
nhiếp ảnh đã nhiều lần ghi lại được: một chút giễu cợt, rất nhiều bao dung và
thành tâm. Đã có người nhận xét phong cách sống của ông hiện lên rất rõ trong
nụ cười có sức thu hút đặc biệt ấy.
Dấn thân như sự sinh tử tinh thần
Nhớ về ông Sáu Dân trong những chặng đường hoạt động ở vị trí lãnh đạo, nhiều
người đã nhấn mạnh đến sự dấn thân rất nổi bật ở ông. Dĩ nhiên là không phải
chỉ mình ông có sự dấn thân ấy. Trong hàng ngũ những lão thành cách mạng, trước
ông và sau ông đã có rất nhiều người chịu dấn thân. Trong lao tù, trên chiến
trường, trong lòng địch. Không có sự dấn thân của những người yêu nước ở các vị
trí khác nhau thì chắc chắn không thể có độc lập dân tộc năm 1945 và hòa bình,
thống nhất đất nước năm 1975.
Ông Sáu Dân cũng ở trong số đông đó trong những chặng lịch sử đó. Nhưng sự
nghiệp cách mạng lâu dài và đặc biệt ở nước ta cũng đã đòi hỏi ở người cách
mạng như ông Sáu Dân những cách dấn thân mới, day dứt tâm can hơn, quyết liệt
hơn, tựa như sự sinh tử tinh thần. Biết gạt bỏ định kiến với những người một
thời ở bên kia chiến tuyến để phát huy tốt nhất khả năng của họ cho đất nước.
Dám chịu trách nhiệm để cùng anh em “xé rào”, “bung ra” trong bối cảnh cơ chế
quản lý xơ cứng gây ngột ngạt cho đời sống kinh tế, xã hội những năm cuối thập
niên bảy mươi. Dám nghĩ tới và kiên trì vận động thực thi những giải pháp có
lợi cho đoàn kết dân tộc, cho dù những giải pháp ấy vấp phải rào cản tư duy lớn
đến thế nào (như việc bình thường hóa hoạt động thăm viếng, di dời mộ phần ở
nghĩa trang quân đội chế độ cũ trước 1975...).
Dám đề xuất những cải cách lớn về chính trị để Đảng thật sự là Đảng của những
lợi ích toàn dân tộc (như vấn đề làm mới sự chuẩn hóa cán bộ lãnh đạo; như việc
thay đổi cách đề cử, bầu cử trong Đảng và Quốc hội...). Chủ động đặt vấn đề cơ
chế hóa và thực hiện một cách linh hoạt sự đóng góp trực tiếp của đội ngũ
chuyên gia cho sự điều hành của Chính phủ (Tổ chuyên gia tư vấn). Chấp nhận
những hiểu lầm cay nghiệt, những xúc phạm nặng nề bóng gió hoặc công khai trên
báo chí nước ngoài, ông Sáu Dân đã nhẫn nại đi đến phút cuối cuộc dấn thân mới
mẻ và đầy thử thách đó.
Ráng mà sống tử tế với nhau
Ảnh: Thanh Đạm
“Những định kiến rồi sẽ phải qua, nếu không thì cộng đồng dân tộc làm sao
liền lạc, mạnh mẽ được”
VÕ VĂN KIỆT
Gần đến ngày giỗ đầu của ông Sáu Dân (ngày 31-5-2009), có một gia đình người
Việt sống ở Montreal (Canada) nhớ thương ông và thắp nhang vọng về cho ông. Đôi
vợ chồng ấy cưới nhau năm 1980 ở TP.HCM và đến năm 1993 chính thức đi định cư
theo diện bảo lãnh gia đình.
Hai mươi chín năm trước, khi chàng trai hai mươi hai và cô gái hai mươi lăm ấy
quyết định kết hôn, họ vấp phải sự phản đối gay gắt của đàng trai (bao gồm mẹ
và tất cả bạn bè, đồng chí của cha mẹ). Lý do cụ thể và đơn giản: đàng trai là
gia đình một cán bộ cao cấp trong quân đội cách mạng đã hi sinh năm Mậu Thân
1968, đàng gái là gia đình một trung tá chế độ cũ đang đi học tập cải tạo chưa
được tha về.
Hai gia đình khác biệt chính trị như vậy, cho tụi nó lấy nhau thì làm sao mà
quan hệ sui gia bình thường được! Không thể cho chúng nó lấy nhau! Không có
người mang trầu cau sang nhà gái dạm hỏi, chàng trai tự mình thưa với người sẽ
là mẹ vợ tương lai: “Con chỉ có một mình sang đây xin cưới và nhất định sẽ cưới
Th. làm vợ vì con yêu cô ấy”. Thấy nét mặt buồn buồn của người mẹ và giọt nước
mắt tủi thân của người mình yêu, chàng trai nghĩ mãi không biết phải làm cách
gì để “chính thức hóa” cuộc hôn nhân “tréo ngoe” của mình trước khi liều tổ
chức đám cưới không có sự tham dự của đàng trai.
Rồi chàng trai được ông Sáu Dân nhắn: “Bây tới gặp tao, đưa luôn nhỏ đó tới cho
tao gặp”. Vừa mừng vừa lo, chàng trai nghĩ ông từng là cấp trên, là đồng chí
của cha mình, bây giờ lại đang là bí thư Thành ủy, ông vun vào cho thì coi như
đám cưới sẽ được “ký”, không phải “cưới chui” nữa. Bằng như ngược lại thì không
biết sẽ còn khó khăn thêm cỡ nào. Tòa nhà 56 Trương Định không xa quận 10 bao
nhiêu mà chàng và nàng đạp xe trong ngao ngán, cảm giác đi hoài không tới.
Trong ánh nắng chiều đang nhạt đi trên các khóm lá trong vườn, ông Sáu niềm nở
đón đôi khách trẻ, hỏi cặn kẽ chuyện học hành, chuyện tình yêu của hai đứa.
Nghe đến đoạn chàng là đoàn viên thanh niên cộng sản được phân công giúp đỡ,
cảm hóa những bạn có cha là sĩ quan chế độ cũ đang đi học tập cải tạo trong đó
có nàng, ông phá lên cười ha hả: “Rồi, rồi, mày cảm trước còn hóa gì nữa!”. Sau
tiếng cười vui, ông im lặng một lúc rồi nói như cái cách cha nói với con, rằng
ông tin hai đứa yêu nhau thật lòng, ông ủng hộ cuộc hôn nhân này, nhưng muốn cả
hai phải thấy trước những khó khăn tinh thần do sự khác biệt giữa hai gia đình
để mà cùng nhau chịu đựng, cùng nhau vượt qua. Ráng mà sống tử tế với nhau,
đừng có mỗi lúc mệt mỏi trước các thử thách của cuộc sống lại trách móc làm khổ
nhau và khổ cho cả những người đã ủng hộ lựa chọn của mình.
Sau cuộc gặp đó với đôi trẻ, ông Sáu còn gặp bà mẹ của chàng trai. Ông nói thật
ngắn, thật rõ ràng, vừa như an ủi, vừa như kêu gọi và thuyết phục người vợ liệt
sĩ đồng đội của ông: “Chị à, tụi nó yêu nhau thiệt lòng, dám chấp nhận những
thiệt thòi có thể có khi đến với nhau trong bối cảnh định kiến còn nặng nề và
có lẽ còn khá lâu dài. Thương con thì nếu chưa nhiệt tình tán thành cũng đừng
cản trở nó. Những định kiến rồi sẽ phải qua, nếu không thì cộng đồng dân tộc
làm sao liền lạc, mạnh mẽ được hả chị. Vả lại, chị nghĩ coi, mình nói không
phân biệt đối xử với những người khác chính kiến, khác lựa chọn chính trị và
hiện nay đang ở lại với đất nước. Nói thì dễ, nhưng khi cái chuyện tréo ngoe đó
rơi vô chính gia đình mình thì mình xử đâu có ngon như nói! Nếu ai cũng vậy,
làm sao người ta thực tin mình, thực tâm muốn sống lâu dài với mình trên đất
nước này, phải không chị. Tôi ủng hộ tụi nó đến với nhau, chị đừng giận tôi
nghe. Nếu có khó khăn gì thì cứ cho tôi biết”.
Người mẹ, người vợ liệt sĩ ấy không hề phiền đến ông Sáu một lần nào sau cuộc
gặp gỡ đó. Những lời ông nói, với bà, giống như một điểm tựa tinh thần mạnh mẽ
để vượt qua những đàm tiếu dai dẳng trong chính những người bạn cùng gia cảnh
cán bộ. Thật may mắn, cha mẹ vợ của con trai bà thật sự là những người tử tế
một cách không cần phải cố gắng lên gân. Quan hệ sui gia êm ả suốt gần ba chục
năm qua, như thể chưa từng có một trở ngại, cách biệt nào.
Thằng cháu nội đầu lòng năm nào, nay đã tốt nghiệp đại học, xấp xỉ tam thập.
Sống ở xứ người, nó vẫn thấy tấm ảnh ông nội sĩ quan liệt sĩ Việt cộng của nó
được treo lớn trong nhà, các bác các cô và ông bà ngoại không bao giờ có cử chỉ
gì làm nó buồn về ông nội nó. Và câu chuyện cha mẹ nó được tác thành bởi một
con người như thế nào nó cũng đã được nghe. Nó không xem ông Sáu Dân là Ông Thủ
Tướng. Chàng trai trẻ đến độ yêu đương, trước những xao động của tình cảm và
thời cuộc trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, đôi lúc đã thoáng hình dung
ra ông - người mà cha mẹ cậu luôn kính trọng. Cậu thấy ông là một con người
thật đặc biệt, một người có sức hấp dẫn những người trẻ như cậu....
(26-5-2009)
NGUYỄN THẾ THANH
Các bạn muốn đọc thêm các bài của ông Võ Văn Kiệt viết hoặc các bài viết về ông
Kiệt thì xin vào cái link này nha...
uyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt
Tran Ba Thien
tranbathien@xxxxxxxxx
Other related posts:
- » [SMCC] dam gio ông Vo Van Kiet - Tran Ba Thien