[SMCC] VIỆT TỘC LÀ MỘT ĐẠI CHỦNG

    VIỆT TỘC LÀ MỘT ĐẠI CHỦNG 
 

PHỤC HỒI SỰ THẬT LỊCH SỬ

 

PHẠM TRẦN ANH

 

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay. Kể từ 
thời lập quốc, Hán tộc kè thù truyền kiếp của Việt tộc đã không ngừng xâm

lược đánh đuổi dân tộc Việt phải rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn từ vùng châu thổ 
lưu vực 2 con sông Hoàng Hà Dương Tử xuống trụ lại ở phần lãnh thổ Việt Nam

ngày nay. Chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử của Ngô Quyền năm 938 đã mở ra 
một thời kỳ Độc lập tự chủ của dân tộc sau gần một ngàn năm dân tộc Việt bị

Tàu Hán thống trị. Đất nước độc lập tự chủđược hơn một ngàn năm với các triều 
đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn thì thực dân Pháp lại vào xâm chiếm

nước ta. Trong khi toàn dân đang đấu tranh giành độc lập thì đảng Cộng Sản Việt 
Nam đã núp dưới danh nghĩa kháng chiến để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản

đưa dân tộc vào thế khốn cùng nhất trong lịch sử. 

 

Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận 
và thủ đoạn thâm độc quỉ quyệt đã không những dùng mọi phương cách để đồng

hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử 
khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ

hồ. Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ 
của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của một ngàn năm đô hộ của sự nô

dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận 
tâm. Thế nhưng… Lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng

nghìn năm dưới ánh sáng của chân lý khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba 
của nhân loại: “Lịch sử Việt là lịch sử bi hùng của một đại chủng với những

thăng trầm của vận mệnh dân tộc”. 

 

Với những kết qủa khoa học về phân tích cấu trúc di truyền mới nhất, sự thật 
lịch sử đã được phục hồi: Việt tộc là một trong 3 đại chủng lớn của nhân loại.

Sự thật lịch sử này làm đảo lộn mọi nhận thức từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. 
đến nỗi mà một sử gia thời danh J Needham người có công phục hồi sự thật

lịch sử bị che giấu hàng ngàn năm, làm đảo lộn mọi sử sách xưa nay đã phải thốt 
lên: “ Sự thật bị che phủ hàng ngàn năm cùng với ảnh hưởng của ngàn năm

thống trị nô dịch văn hóa khiến ngay cả người Việt cũng ngỡ ngàng, không tin đó 
là sự thật .!!!”. Theo học giả J.Needham thì Protoviets đã mang theo 25

đặc trưng văn hoá lên địa bàn cư trú mới. J. Needham khẳng định rằng: “ những 
nếp sống văn hoá này đem vào Trung Hoa thời Tiền sử mang yếu tố “Biển” rõ

rệt và có thể mô tả bằng một chữ, đó là chữ “VIỆT” mà trước kia thường gọi sai 
lầm là Thái cổ (ProtoThai)”. Học giả lừng danh này còn chú thích rõ chữ

Việt nay là quốc hiệu của một nước vùng Đông Nam châu Á: Nước Việt Nam ngày 
nay. 

 

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự 
thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử

bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một 
dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng

trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị 
Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời

bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại địa bàn Việt 
Nam bây giờ. 

 

Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của 
Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc. Hán tộc với sức

mạnh của tộc người du mục cả đời sống trên lưng ngựa thạo việc chiến tranh nên 
Việt tộc đã bị đẩy lùi xuống phương Nam nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã

thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để hình thành cái gọi là văn minh 
Trung Quốc. Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa

nhận một sự thực là “ Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức 
với muôn dân vậy ..!”. 

 

Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi các nhà Trung Hoa học trong hội 
nghị quốc tế về “Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa” tại Đại học Berkerley

Hoa Kỳ năm 1978 đã xác nhận rằng Di-Việt là chủ nhân của Trung nguyên tức toàn 
thể lãnh thổ Trung Quốc bây giờ. Một sự thực lịch sử nữa cũng được xác nhận

là hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp 
đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy

tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả 
đều là của nền văn minh Bách Việt. Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử

đã ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách 
Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như sau: “Độ lượng

bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của 
phương Nam, người quân tử ở đấy ..! Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến

chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó ..”. 

Chính Hán Hiến Đế một vị vua của Hán tộc, cũng đã phải thừa nhận nước ta là một 
nước văn hiến: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất

nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”. 

 

Trước đây, giới nghiên cứu đưa ra nhiều giả thuyết về cội nguồn phát tích của 
dân tộc Việt. Các nhà nghiên cứu lịch sử thường căn cứ vào những sách sử

duy nhất còn lại của Hán tộc nên nhất loạt cho rằng Việt tộc phát tích từ miền 
Bắc rồi di cư xuống phương Nam. Chính vì vậy, môt số người còn cho rằng

dân tộc Việt là một nhánh của Hán tộc (Tàu) hoặc cho rằng chúng ta phát tích từ 
người Việt ở Triết Giang và Phúc Kiến trong cộng đồng Bách Việt di cư xuống

Việt Nam thời Xuân Thu Chiến quốc như hai học giả Pháp là L’Aurousseau và 
Madrolle. Các nhà nghiên cứu thuộc trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp ở Hà Nội

thì cho rằng người Việt phát tích từ Tây Tạng, thuộc chủng Indonesian ngành 
Mongoloid phương Nam và nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc cho rằng Mã Lai là cội

nguồn dân tộc. Tất cả những luận điểm trên đều không có tính thuyết phục nên 
chúng ta phải tìm về nguồn cội phát tích của tộc Việt từ truyền thuyết đến

hiện thực lịch sử được kiểm chứng bởi văn hoá khảo cổ, dân tộc và ngôn ngữ học, 
kết quả khảo tiền sử và cấu trúc di truyền DNA mới nhất, thuyết phục nhất.

 

 

I. TRUYỀN THUYẾT KHỞI NGUYÊN DÂN TỘC

 

Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự 
hào dân tộc mang tính sử thi của dân tộc đó. Nữ sĩ Blaga Dimitrova cũng

như nhiều học giả ngoại quốc khác đã hết sức ngạc nhiên xen lẫn thán phục khi 
nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, một dân tộc mà huyền thoại và hiện thực đan

quyện hoà lẫn với nhau đến độ khó có thể phân biệt đâu là huyền thoại đâu là 
hiện thực nữa. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về cội nguồn huyết thống Việt

tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn 
của truyền thống nhân đạo Việt Nam.

 

Mỗi dân tộc đều có những truyền thuyết độc đáo mang sắc thái đặc thù biểu trưng 
riêng của dân tộc đó. Vì thế ngay cả những dân tộc mà ngày nay được xem

là văn minh cũng đều có một con vật biểu trưng cho dòng giống như Ấn Độ là voi, 
Tàu là con cọp, Pháp là con gà trống Gaulois, Anh là con sư tử, Mỹ là con

chim Ưng (đại bàng) nên Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ lấy chim đại bàng và Pháp lấy 
con gà làm quốc huy cho cả nước. 

 

Truyền thuyết Rồng Tiên của Việt Nam thoạt nghe có vẻ hoang đường huyền hoặc 
thế nhưng vấn đề là chúng ta phải đặt mình vào thuở ban sơ cách đây mấy ngàn

năm mới thấy rõ Tổ tiên ta đã sống ra sao và suy nghĩ thế nào ở thời cổ đại? Từ 
đó mới có thể hiểu được những gì mà Tổ tiên ta đã gửi gấm cho chúng ta

qua bức thông điệp lịch sử đó. Với những suy nghĩ của thời đại duy lý thì làm 
sao có chuyện trứng nở ra người? Chi Âu Việt của người Việt cổ chọn vật linh

biểu trưng là chim nên mẹ Âu đẻ ra trăm trứng là chuyện bình thường. Nếu mẹ Âu 
(Chim) đẻ ra người mới là chuyện lạ, nên chúng ta phải hiểu đây chỉ là biểu

trưng để diễn tả mẹ Âu Bố Lạc đã khai sinh ra trăm giống Việt mà thôi. Mặt 
khác, chim Phượng Hoàng huyền thoại trên thực tế là con Công của người Việt

tung cánh bay theo hướng mặt trời, vừa diễn tả ý niệm người Việt thiên cư dần 
về hướng Đông xuống miền bể và chim bay lên trời dẫn tới hình tượng “Tiên”

của mẹ Âu. 

 

Theo triết gia Kim Định thì cơ cấu luận thì Sử ký là “sử hàng ngang” ghi chép 
các biến cố, các sự kiện cụ thể với những con người cụ thể theo năm tháng,

còn Huyền sử được gọi là “Sử hàng dọc” mang tính tâm linh biểu thị bằng những 
hình tượng nguyên sơ. Thật vậy, cái biểu tượng uyên nguyên đó có thật như

một lý tưởng nhưng chưa hiện thực được. Đó là những nguyên lý được kết tinh và 
tiềm ẩn trong đời sống tâm linh của một dân tộc như trong huyền sử Rồng

Tiên thì Âu Cơ chỉ là hình tượng nguyên sơ. Mẹ Âu Cơ là chi tộc thờ chim của 
Việt tộc nên việc mẹ đẻ ra một cái bọc trăm trứng là chuyện bình thường cũng

như cái bọc không chỉ nói về cái bọc mà nó biểu tượng cho ý niệm công thể, ý 
nghĩa của 2 chữ “đồng bào” cùng chung một bào thai của mẹ Âu Cơ. Tầm nguyên

ngữ nghĩa của chữ Tiên gồm chữ sơn và chữ nhân, hàm nghĩa người ở trên núi mà 
thôi. Cũng thế trăm con không nhất thiết phải là một trăm mà hàm ý số nhiều

từ đó chúng ta mới có ý niệm “Trăm họ” (Bách tính) và rộng hơn nữa là “Bá 
tánh”. 

 

Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của huyền thoại và truyền thuyết được 
coi như lịch sử dân gian mà đôi khi nó có giá trị trung thực hơn cái gọi

là chính sử của các chế độ độc tài xưa và nay. Beaudelaire một thi sĩ nổi tiếng 
đã nhìn nhận sức mạnh của truyền thuyết huyền thoại vì đó là “Sử cô đọng

của các dân tộc”. Đại văn hào Pháp Victor Hugo khi viết “Truyện kỳ các thời 
đại” ông đã tìm về nguồn cội, khai thác các truyền thuyết thần thoại xa xưa

vì theo ông, đó là “Lịch sử được lắng nghe ở ngưỡng cửa của truyền thuyết. 
Truyền kỳ có phần nào hư cấu nhưng tuyệt đối không có ngụy tạo”. Thật vậy, 
truyền

thuyết tự thân nó không phải là lịch sử biên niên nhưng truyền thuyết là có 
thật, nó phản ảnh những ý nghĩa có thật của một thời lịch sử ban sơ mà người

xưa ký thác vào đó dưới lớp vỏ hư cấu huyền hoặc để truyền lưu gửi gấm cho 
những thế hệ sau. Một triết gia nói: “Tất cả nền minh triết cũng như trí khôn

loài người đều ẩn tàng trong các huyền thoại, truyền kỳ lịch sử dân gian”. Vấn 
đề là phải làm sao hiểu được những lý tưởng uyên nguyên, những tâm linh

sâu thẳm hàm tàng ẩn chứa qua những hình tượng nguyên sơ trong đó. Nói theo 
Jung, một triết gia thời đại thì: “Truyền thuyết huyền thoại hàm chứa những

ý nghĩa lịch sử trung thực nhất, vì nhân vật thần thoại là sản phẩm đúc kết 
biết bao suy tư của một thời đại tạo dựng độc sáng nhưng nó phải chờ thế hệ

sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý giải. Huyền thoại là đạo sống của một 
dân tộc” mà theo Wallace Cliff thì “ Nếu dân tộc nào để mất đi huyền thoại

là đánh mất mạch nối vào nguồn cội quá khứ của tổ tiên và cũng sẽ mất luôn căn 
bản cho việc xây dựng tiền đồ của dân tộc đó”. Thật vậy Laurens va de Post

đã xem huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất vì nó diễn tả tinh thần dân tộc 
ở mức độ cao nhất. Micia Eliado cũng cho rằng “Huyền thoại là gia sản quí

báu nhất vì tính chất thiêng liêng điển hình và mang lại ý nghĩa sống cho cả 
một dân tộc”. Lịch sử đã chứng minh lời của Karl Jung là “Dân tộc nào quên

đi huyền thoại thì dân tộc đó dù là những dân tộc văn minh nhất sớm muộn cũng 
sẽ tiêu vong”. Trong lịch sử loài người, nhiều cộng đồng người đã không tồn

tại được với thời gian vì không có truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc. Huyền 
thoại là di sản thiêng liêng nhất, quí báu nhất mà tiền nhân đã để lại

cho hậu thế. Huyền thoại là mạch sống nối cội nguồn quá khứ với thế hệ hiện tại 
và mai sau, là gia sản cao quí vô giá ghi nhận những cảm nghiệm nội tâm

của người xưa đã thực chứng suốt dòng vận động của lịch sử. Thật vậy, huyền 
thoại Rồng Tiên đã thấm sâu trong lòng mỗi người chúng ta để trở thành đạo

sống của dân tộc Việt. 

 

Với phương pháp nghiên cứu huyền thoại, chúng ta nghiên cứu huyền sử, tìm về 
nguồn cội dòng giống qua những gửi gấm của người xưa là một việc làm hết sức

đúng đắn và cần thiết. Vấn đề đặt ra là với một thái độ nghiêm túc, một phương 
pháp khoa học, nhưng không có quyền áp đặt những suy nghĩ của nhân loại

thế kỷ 21 lên những tư tưởng của người xưa mà chúng ta phải đặt mình hoàn cảnh 
lịch sử thời đó để có thể hiểu được cái gọi là “lịch sử sống động của dân

gian”. Một mặt, phải gạt bỏ những yếu tố thần thoại, loại ra những chi tiết hư 
cấu. Mặt khác, đặt mình vào hoàn cảnh xã hội đời sống tâm linh của người

xưa, mới thấy được cái tinh tuý cốt lõi tiềm tàng trong truyền thuyết để giải 
mã bức “Thông Điệp” hàng ngàn năm lịch sử của tiền nhân. 

 

II. NGUỒN GỐC VIỆT TỘC TRONG THƯ TỊCH CỔ TRUNG QUỐC

 

Chúng ta tự hào là con Rồng cháu Tiên của Bố Lạc Mẹ Âu với thiên tình sử đẹp 
như một áng sử thi mở đầu thời kỳ dựng nước của dòng giống Việt. Truyện họ

Hồng Bàng về khởi nguyên dân tộc, lần đầu tiên được Hồ Tông Thốc chép trong tác 
phẩm “Việt Nam thế chí” vào thế kỷ XIV đời Trần nhưng sách đã bị quân Minh

tịch thu tiêu huỷ nên không còn nữa. Đầu thế kỷ XIV, Trần Thế Pháp và Lý Tế 
Xuyên đời Trần đã chép lại những truyền thuyết dân gian vào bộ sách “LĨNH NAM

TRÍCH QUÁI” và “VIỆT ĐIỆN U LINH” để truyền lưu nguồn gốc giống ḍòng Việt cho 
đời sau. 

 

Đại Việt Sử Lược của một tác giả “Khuyết danh” được xem là bổ sử đầu tiên của 
nước ta nhưng đã bị quân Minh tiêu hủy cùng với các bộ sách sử cổ của Việt

Nam. Bản duy nhất còn lưu giữ trong Tứ Khố Toàn thư Trung Quốc sau khi sử quan 
triều Thanh là Tiền Hy Tộ đã sửa đổi bóp méo nhiều sự kiện lịch sử. Tên

của sách đã bị Tiền Hy Tộ sửa lại là Việt Sử Lược. Việt Sử Lược chép: 

“Xưa Hoàng đế dựng muôn nước thấy Giao chỉ ở xa ngoài cõi Bách việt, không thể 
thống thuộc được bèn chia giới hạn ở góc Tây Nam. Đời Thành vương nhà Chu

(1024-1005 tr. C.N) Việt Thường thị mới đem dâng bạch trĩ, sách Xuân Thu, gọi 
là khuyết địa. Đái ký (Lễ ký Đại Đái, Tiểu Đái chú) gọi là Điêu đề. 

“Đến đời Trang vương nhà Chu (696-682 tr. CN.) ở bộ Gia ninh có người lạ, dùng 
ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn lang,

hiệu là nước Văn lang, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết 
nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương. Việt Câu Tiễn (505-465 tr.

CN.) đã sai sứ tới dụ, Hùng vương chống cự lại. 

“Cuối đời Chu, Hùng vương bị con vua Thục là Phán đánh đưổi mà lên thay. Phán 
đắp thành ở Việt thường, xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với

nhà Chu… Cuối đời Tần, Triệu Đà chiếm cứ Uất lâm Nam hải, Tượng quận, xưng 
vương đóng đô ở Phiên ngung, quốc hiệu là Việt, tự xưng là Vũ Vương”.(1)

 

Mãi đến đời Lê, sử gia Ngô Sĩ Liên mới chính thức đưa thời đại Hùng Vương vào 
bộ ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ. Sử gia Ngô Sĩ Liên viết “Nước ĐẠI VIỆT ta ở về

phía Nam Ngũ Lĩnh, thế là Trời đã chia bờ cõi Nam Bắc hẳn hòi. Thủy tổ của ta 
là con cháu Thần Nông. Trời đã sinh ra vị chân chúa vì thế mới cùng Bắc triều

đều làm chúa Tể một phương…”. Học giả Lê Quí Đôn trong “Kiến văn Tiểu lục” viết 
năm 1777 đã nhận định: “Hồi đầu niên hiệu Khai Hựu (1329-1341) nhà Trần,

Lý Tế Xuyên phụng mệnh chép Việt Điện U Linh tập, ghi đền miếu thờ các vị thần, 
có trình bày hạo khí linh tích 8 vị Đế vương Lịch đại và 12 vị nhân thần.

Sách này lời văn trang nghiêm, sự việc xác thực, cũng tỏ ra tài nhà sử học lành 
nghề. Trong sách có dẫn Giao Châu ký của Tăng Cổn, Sử ký của Đỗ Thiện và

truyện Báo cực. Những sách này đều không còn thấy lưu truyền ..!”.

 

Trong khi đó, một số sách sử cổ Trung Hoa còn ghi chép về cộng đồng Bách Việt 
một thời cư trú ở lãnh thổ TQ bây giờ. Sử triều Thương là triều đại lập quốc

của Hán tộc đã ghi rõ “Đời Cao Tông triều Ân, vượt Hoàng Hà đánh nước Quỉ 
Phương 3 năm mới thắng”. Kinh Thư, Sử Ký Tư Mã Thiên và bộTrúc Thư Kỷ Niên chép

Đời Vũ Định là vị vua thứ 22, lấy hiệu là Cao Tông năm thứ 32, đem quân đánh 
nước Qủi Phương và đóng quân tại Kinh (đất Kinh Việt thuộc châu Kinh sau này.

Thời Xuân Thu Chiến Quốc là nước Sở). 

 

Lãnh thổ tiều Thương lúc đó chỉ vỏn vẹn có hơn 2 tỉnh ở hạ lưu sông Hoàng Hà. 
Chung quanh là cộng đồng Bách Việt trải rộng khắp Trung nguyên tức lãnh thổ

Trung Quốc bây giờ. Thực tế lịch sử này được Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa 
học (Sinology) trên khắp thế giới kể cả Trung Quốc và Đài Loan hội thảo

tại đại học Berkerley Hoa Kỳ năm 1978 thừa nhận là Di Việt làm chủ Trung nguyên 
trước Hán tộc và các triều đại Thương, Chu tiếp thu văn hóa của Di Việt

ở phương Nam. Sự thật lịch sử này được bản đồ National Geographic Company ấn 
hành năm 1991 ghi rõ từ hạ lưu lưu vực sông Hoàng Hà trở xuống là Di Việt

với nền văn minh lúa nước đầu tiên trên thế giới.

 

Sách “Hậu Hán Thư” và sách “Địa lý Chí” chép rõ ràng hơn về cộng đồng Bách Việt 
như sau: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên bảy tám nghìn dặm, người Bách Việt

ở xen nhau, đều có chủng tính”. Tên của các nhóm trong Bách Việt được sách “Lộ 
Sử” tức sử của người Lạc Việt của La Tất đời Tống liệt kê như sau: “Việt

Thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu Nhân, Thả Âu, Cung Nhân, Hải Dương, Mục 
Thâm, Phù Xác, Cầm Nhân, Thương Ngô, Man Dương, Dương Việt, Quế Quốc, Tây

Âu, Quyên Tử, Sản Lý, Hải Quỳ, Tây Khuẩn, Kê Từ, Bộc Cầu, Bắc Đái, Khu Ngô.. 
gọi là Bách Việt. Trong những nhóm Bách Việt ấy thì Dương Việt ở miền hạ lưu

sông Dương Tử, nhóm Thương Ngô ở miền Nam tỉnh Quảng Tây. Nhóm Sản Lý tức Xa Lý 
ở miền Tây Nam tỉnh Vân Nam. Như vậy, theo sử sách Trung Quốc xưa gọi là

Bách Việt là những nhóm người Việt ở rải rác khắp miền Hoa Nam phía Tây gồm cả 
đất Vân Nam, phía Nam gồm cả miền Bắc và Bắc Trung Việt. Sử sách thường

gọi chung là miền Giang Nam và miền Lĩnh Nam”. Trong bộ Sử ký, Tư Mã Thiên sử 
gia chính thống của Trung Quốc viết rõ: “ Đông Việt hay Đông Âu trong thời

Tần Hán đóng đô ở Vĩnh Ninh tức Vĩnh Gia là miền Triết Giang, Mân Việt thì ở 
đất Mân Trung tức miền Phúc Kiến, Nam Việt đô ở Quảng Châu miền Quảng Tây,

Tây Âu (Âu Việt ở phiá Tây) ở phía Nam sông Ly miền Quảng Tây…”. Sách Hoài Nam 
Tử, Thái Tộc Huấn chép về cương vực triều Thương như sau: “ Tả Đông Hải,

hữu Lưu Sa, tiền Giao Chỉ, hậu Hàm Đô” nghĩa là mặt trước (phiá Nam) giáp đất 
Giao Chỉ.(2) 

 

Thư tịch cổ Trung Quốc đã thừa nhận một thực tế lịch sử đó là sự thành lập của 
các quốc gia thời Chiến quốc mà họ gọi là Bách Việt ở vùng Giang Nam. Đông

Việt tức U-Việt (còn gọi là Vu Việt) của Việt Vương Câu Tiễn không chỉ ở Triết 
Giang mà lên tới miền Giang Tô tức Châu Từ, quê hương của gốm sứ Việt cổ

nổi tiếng của chi Dương Việt mà kinh đô là Cối Kê. Trong bộ sách Sử Ký Tư Mã 
Thiên đã viết rõ “ Tổ Câu Tiễn là dòng vua Vũ của nhà Hạ. Câu Tiễn Văn thân

đoạn phát…” nghĩa là cắt tóc xâm mình . Lý Tế Xuyên đã viết “Việt Điện U Linh” 
về nước Việt cổ xưa. Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây, Điền

Việt ở Vân Nam, Quì Việt ở Tứ Xuyên, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt còn gọi là 
Tây Âu ở Quảng Tây, Lạc Việt ở Quảng Tây và Bắc VN.

 

Việt tộc không chỉ cư trú ở vùng lưu vực giữa Hoàng Hà Dương Tử mà còn định cư 
ở mạn Bắc sông Hoàng Hà mà cổ sử Trung Quốc gọi là Bách Bộc. Bách Bộc không

phải tên chủng tộc mà chỉ là tên gọi người Việt cổ dòng Thần Nông phương Bắc ở 
vùng sông Bộc. Sông Bộc bắt nguồn từ cao nguyên chảy qua Hà Bắc vùng giữa

Hà Nam và Sơn Đông rồi chảy vào Hoàng Hà. Theo “Lệ sử dân” thì Bộc tức Bách Bộc 
chi tộc ở vùng sông Bộc. Mặt khác, sách “Nhĩ Nhã” của môn đệ Khổng Tử ghi:

“Rợ Đông Di (Lạc bộ Trĩ) định cư từ lưu vực sông Bộc ra tới biển Đông và lên 
tới cực Bắc Trung Hoa cũng có tục nhuộm răng xâm mình”. Sách Nhĩ Nhã viết

chữ Lạc của Lạc bộ Trĩ giống hệt chữ Lạc trong họ của Lạc Long Quân. Sử Ký Tư 
Mã Thiên và Xuân Thu Tả Truyện viết rõ là vị vua có hiệu là Nhược Ngao là

vị vua Hùng thứ 14 tên thật là Hùng Nghi hiệu Nhược Ngao cai trị vào năm 789 
trước Tây Lịch. Điều này chứng tỏ thời đại Hùng Vương là có thật trong lịch

sử. Sử gia Trung quốc Chu Cốc Thành trong tác phẩm “Trung Quốc Thông sử” thì 
Viêm tộc đã có mặt khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi Hán tộc tràn vào.

Viêm tộc là tộc người do Viêm đế Thần Nông còn gọi là Đế Thần làm chủ toàn cõi 
Trung nguyên đầu tiên. Lúc đó, Hán tộc du mục còn săn bắt, chăn nuôi ở vùng

Tân Cương, Thanh Hải. Sau này, họ tiến xuống dọc theo sông Hoàng Hà đánh chiếm 
đất đai của Viêm tộc. 

 

Sử gia Trung Quốc Mộng văn Thông trong tác phẩm “Cổ sử Nhân Vi” cho rằng “Viêm 
Tộc theo triền sông Dương Tử tràn xuống 7 tỉnh lưu vực Dương Tử Giang là

Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy, Triết Giang. Sau đó, họ 
tiến sang bình nguyên Hoa Bắc, cư trú ở ở lưu vực sông Hoàng Hà gồm 6 tỉnh

Hà Nam, Hà Bắc,Sơn Tây,Sơn Đông, Thiểm Tây, Cam Túc.. Theo thời gian, họ vượt 
qua 5 dãy núi của rặng Ngũ Lĩnh tiến về 5 tỉnh vùng lưu vực sông Việt Giang

là Vân Nam, Quí Châu, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến”. Sách “Hán quan nghi” 
của Ưng Thiệu đời Hán cũng phải thừa nhận một thực tế là: “Khi cổ nhân

mới mở nước ở phương Bắc đã giao tiếp ngay với phương Nam để xây dựng nền tảng 
cho con cháu”. Nếu giao tiếp với phương Nam chỉ thuần túy là ngoại giao

thì làm sao giải nghĩa được câu “để xây dựng nền tảng cho con cháu”? Vì vậy, 
chúng ta phải hiểu là Ưng Thiệu muốn nói tới việc tiếp nhận văn hóa phương

Nam để làm nền tảng cho văn hóa Hán sau này…Đặc biệt, gần đây nhóm Tân học gọi 
là “Nghi cổ phái” do Quách Mạt Nhược thành lập năm 1920 chủ xướng đã bác

bỏ thời Tam Hoàng, Ngũ đế. Sự thật lịch sử này đã được hội nghị Quốc Tế về nền 
văn minh Trung Hoa gồm các nhà Trung Hoa học tổ chức ở Đại học Berkerley

Hoa Kỳ năm 1978 xác định rằng Di Việt làm chủ Trung Nguyên trước tiên, sau đó 
bị Thương Chu đánh đuổi chạy xuống phương Nam. Sử Ký của Tư Mã Thiên chép

rằng Hoàng Đế là người khai mở lịch sử Trung Quốc nhưng sự thật đã xác nhận 
rằng lịch sử Trung Quốc chỉ mới bắt đầu từ triều Thương (1766-1154 TDL) và

các triều Thương Chu của Hán tộc lại chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hoá Di Việt.

 

Sử gia hàng đầu của Trung Quốc hiện nay là Trương Quang Trực (Chang Kwang 
Chih), đã phải thừa nhận một sự thực lịch sử là tuy Trung Quốc là một quốc gia

lớn với một nền văn hoá lớn nhưng nó đã phải thâu nhập tinh hoa của nhiều nền 
văn hoá hoá hợp lại: “Những nền văn hoá địa phương thời tiền sử, sau khi

thống nhất đã trở thành một bộ phận của văn hoá Trung Quốc. Nguồn gốc thực sự 
của Hoa Hán chỉ là phần nhỏ nhưng sau khi triều Tần thống nhất thì dân tộc

cả nước thống nhất ấy là dân tộc Trung Hoa”. Sử gia Trung Quốc Hoàng văn Nội đã 
thừa nhận là quá nửa dân số Trung Quốc ngày nay là người gốc Viêm tộc (Viêm

Việt) bị Hán tộc thống trị đồng hoá thành người Hán. Mới đây thực tế này được 
chính nhà khảo cổ Yong Qang Yao và các đồng nghiệp tại Hàn Lâm viện Trung

Quốc Kunming ở Vân Nam (Yunnan) qua các công trình nghiên cứu khảo cổ 
Phylogeographic Differentiation of Mitochondrial DNA in Han Chinese: “Sự thành 
lập

dân Hán là một tiến trình liên tục bành trướng bằng cách sát nhập nhiều bộ lạc 
và chủng tộc vào dân Hán”.(3) 

 

III. VĂN HOÁ KHẢO CỔ VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC

 

Mỗi dân tộc có một lịch sử tiến hóa mang đậm bản sắc đặc thù của dân tộc đó, 
gắn liền với hoàn cảnh địa lý thiên nhiên, điều kiện khí hậu thổ nhưỡng cùng

với sự phân bổ các loại động vật và thực vật mà cộng đồng sinh sống trong khu 
vực đó. Ngày nay, các nhà nghiên cứu đều công nhận một thực thể “Văn hóa

Đông Nam Á”, bao gồm nhiều dân tộc cư trú trên địa bàn này mà từ xa xưa có cùng 
một cội nguồn lịch sử. Các nhà khảo cổ, Nhân chủng, Địa lý, Lịch sử, Dân

tộc và ngôn ngữ học với các công trình nghiên cứu liên ngành, bằng các phương 
pháp đối chiếu so sánh đã thống nhất một nhận định chung về Đông Nam Á. Đó

là một khu vực địa lý nhân văn trải dài từ vùng chân núi Hi Mã Lạp Sơn 
(Himalaya) xuống Nam Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Cao Miên (Cambodia), Lào, 
Mã

Lai (Malaya) và Nam Dương (Indonesia).

Xét trên phương diện địa lý thiên nhiên, địa lý văn hóa, địa lý chính trị, địa 
lý kinh tế thì tất cả tạo thành một cảnh quan sinh thái nhân văn gọi là

đại đồng văn của một khu vực bao gồm các quốc gia Đông Nam Á kể cả vùng Nam 
Trung Quốc. Hệ thống sinh thái thiên nhiên của khu vực nóng ẩm gió mùa, mưa

nhiều, nhiệt độ cao, ánh sáng nhiều nên đất đai thích hợp cho rất nhiều loại 
thực vật sinh trưởng và phát triển. Đặc biệt, đó là khu vực trồng lúa nước

với đặc trưng “Văn hóa Trống đồng”.(4) Ngày nay, với những di chỉ Khảo cổ, kết 
qủa đo chỉ số sọ của khoa Khảo tiền sử cùng với các công trình nghiên cứu

về Dân tộc và Ngôn ngữ học đối chiếu với nguồn thư tịch cổ cho phép chúng ta 
kết luận là trên vùng đất trải dài từ lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử trở

xuống phương Nam tới tận vùng Đông Nam Á hải đảo gồm Malaysia, Indonesia, 
Philippine, quần đảo Polynesie và cả Mỹ châu nữa là địa bàn sinh sống của một

chủng tộc phát tích từ Hoabinhian tức ProtoViets. 

 

Ngược dòng lịch sử về nguồn cội gốc tích Việt tộc chính là ngược dòng sông Cửu 
Long để tìm về lộ trình thiên cư của người xưa còn để lại ấn tích mà các

nhà Khảo cổ học gọi là văn hoá khảo cổ. Kết hợp với kết quả của khoa Khảo Tiền 
sử, Dân tộc học, Ngôn ngữ học và nhất là Di Truyền học để xác minh tính

hiện thực của truyền thuyết và của các nguồn thư tịch cổ. Mỗi một thời đại có 
một nền văn hoá khảo cổ riêng biệt gồm những di chỉ và tổng số hiện vật rải

rác trong một khu vực nhất định với những nét đặc trưng giống nhau và có cùng 
một trình độ phát triển kỹ thuật vì cùng một thời đại dù những yếu tố thẩm

mỹ đa dạng có phần nào khác biệt nhưng về đại thể, vẫn mang tính thống nhất 
chung của một thực tế lịch sử.

 

Các công trình nghiên cứu khoa học từ Khảo cổ học, Tiền sử học đến Dân tộc học, 
chủng tộc học, ngôn ngữ học và văn hóa học đều thừa nhận nền văn hóa của

các cư dân từ Nam Hoàng Hà xuống tới Đông Nam Á châu là cái nôi sinh tụ của cư 
dân Nam Á chính là cộng đồng Bách Việt (MalayViets). Học giả Andréas Lommel

trong tác phẩm “Tiền sử” (3) đã ghi nhận như sau: “Tất cả miền đất mênh mông từ 
Thái Bình Dương trở lên đến Hoa Nam Trung Quốc đều có cùng một nền văn

hóa. Đảo Bornéo ở Nam Dương (Indonesia) cũng có cùng nghệ thuật như miền sông 
Hoài thuộc Giang Tô miền Nam nước Ngô thời Xuân Thu Chiến Quốc. Đặc tính

văn hóa gắn liền với môi trường sinh sống của thực vật và động vật từ trầu cau, 
cây dâu đến heo, gà, công. Các phong tục tập quán từ nhuộm răng ăn trầu,

xâm mình, cà răng đến lễ hội mừng nước, đua thuyền, vai trò quan trọng của 
trống đồng và cồng chiêng trong các lễ hội dân gian. Đó là khu vực văn hóa Trống

đồng của cộng đồng Bách Việt từ Nam Trung Quốc, Đài Loan, Hải Nam tới Đông 
Dương gồm Việt Miên Lào, Thái Lan xuống tới bán đảo Mallacca, Mã Lai 
(Malaysia),Nam

Dương (Indonesia), Phi Luât Tân (Philippine), Guinée, quần đảo Micronesia và 
Pâques”. 

Theo G. Coedès, Giám đốc trường Viễn Đông Bác cổ thì đặc điểm của chủng 
Indonesian mà chúng tôi gọi là Malaysian như sau(5): 

 

1. Về phương diện tinh thần: có tính cộng đồng về văn hóa đặc trưng bởi những 
yếu tố về mặt tinh thần là tính nhị nguyên luận về vũ trụ.

 

2. Về phương diện vật chất: Làm ruộng cấy lúa, nuôi trâu bò, dung đồ kim khí 
thô sơ, giỏi bơi thuyền …

 

3. Về phương diện xã hội: Phụ nữ giữ địa vị quan trọng, huyết thống mẫu hệ, tổ 
chức xã hội theo nhu cầu tưới nước ruộng.

 

4. Về phương diện tôn giáo: Theo thuyết vạn vật hữu linh, Thờ phụng tổ tiên, 
thờ thần đất, đặt đền thờ trên những chỗ cao, chôn người chết trong các chum

vại.

 

5. Về phương diện thần thoại: Đối lập vũ trụ luận giữa núi và biển, giữa loại 
phi cầm và thủy tộc, giữa người thượng du và người đồng bằng.

 

6. Về phương diện ngôn ngữ: Dùng ngôn ngữ đơn âm với năng lực dồi dào về phát 
triển từ vựng.

 

Ngày nay, giới khoa học chính thức công nhận nền văn hoá Hoà Bình là một nền 
văn hoá cổ đại nhất của nhân loại. Chính điều kiện thiên nhiên thổ nhưỡng

của vùng ảnh hưởng văn hoá Hoà Bình này đã hội đủ những điều kiện để vùng Đông 
Nam Á trải dài từ chân núi Hi Mã Lạp Sơn và Côn Luân xuống tới Nam Á, đã

là một trong những cái nôi sinh trưởng đầu tiên của nhân loại. 

 

Nhà bác học W. G. Wilheim đã kết luận là: “Đông Nam Á đã bắt đầu trồng cây, làm 
đồ gốm và đúc đồ đồng, sớm hơn các dân tộc Cận Đông, Ấn Độ, Trung Hoa tới

cả hàng mấy ngàn năm trong đó Việt Nam là quê hương của nền văn hoá Hoà Bình” 

(6)

. Khoa Cổ nhân học nghiên cứu gần 100 sọ cổ của những người cổ của cư dân Hòa 
Bình-Bắc Sơn ở Thiệu Dương và La Đôi có những nét ở sọ và mặt rất giống người

Việt hiện nay. Chiều cao xấp xỉ 1m58, đầu tròn, mặt tương đối, hai gò má khá 
cao, mũi dẹt vừa phải, mặt hơi vẩu và đặc biệt có người biết nhuộm răng đen.

Điều này chứng tỏ rằng cư dân Hòa Bình Hoabinhian chính là protoviets, người 
tiền Việt.

 

IV. KẾT QUẢ KHẢO TIỀN SỬ VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC

 

Theo khoa Khảo Tiền sử thì cách đây hơn 6 ngàn năm, khi mực nước biển rút dần 
thì từ cao nguyên Côn Luân và Tây Tạng, người Malaynesian tiến dần xuống

Trung nguyên theo lưu vực 3 con sông Hoàng Hà, Dương Tử và Cửu Long. Nhánh 
Malaynesian từ thượng nguồn sông Cửu Long và Dương Tử tiến xuống định cư ở vùng

lòng chảo đất đỏ ở Tứ Xuyên và lòng chảo Dạ Lang. Sách cổ “Kinh Thư” gọi vùng 
đất đỏ Basalte từ châu Kinh sang tới Dạ lang, Tứ Xuyên là XÍCH QUI PHƯƠNG.

Theo truyền thuyết thì đây là nhánh Thần Nông phương Nam đi qua ngã Tứ Xuyên, 
đất bồi đến đâu, Malay-Viets tức Bách Việt định cư tới đó. Địa bàn cư trú

của Bách Việt khắp Trung Nguyên lên tới hạ lưu sông Hoàng Hà mà cổ sử TQ gọi là 
Rợ Đông Di tức Lạc bộ Trĩ của Việt tộc. 

 

Nhánh Malaysian thứ hai mà truyền thuyết gọi là dòng Thần Nông phương Bắc tiến 
xuống định cư ở vùng Tam giang Bắc gồm 3 con sông: Hoàng Hà, sông Vị, sông

Lạc. Tên con sông Lạc này viết với bộ Chuy (điểu) ở Thiểm Tây lập nên các triều 
đại Đế Nghi, Đế Lai, Đế Du Võng, Đế Hoàng mà sử Tàu viết là Hoàng Đế, Thiếu

Hạo, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí. Đế Nghiêu, Đế Thuấn và Hạ Vũ lập ra nhà Hạ của 
Việt tộc. “Kinh Thư” viết rằng tên núi và sông ở vùng Tam giang Bắc là

QUI. Khi vua Nghiêu gả con gái về làm dâu ở nhà họ Ngu ở bến sông Vị, thì Kinh 
thư chép là về khuỷu sông Qui (Vu qui nhuế). Sách cổ “Kinh Thư” gọi vùng

đất Tam giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng và sông Lạc trải dài xuống Tam giang 
Nam gồm 3 con sông: sông Nguyên, sông Tương và sông Dương Tử là Xích Qui

Phương. Cổ thư cũng chép vùng này là Cửa Việt, Giao Chỉ. Theo “Khang Hy Từ 
Điển” thì chữ phương là đòng đòng lúa nên Xích Qui phương là nước Xích Qui trồng

lúa nước. Chính vì vậy, tổ tiên ta, người Việt cổ xưa đã lấy tên vùng đất (địa 
danh) để đặt tên nước thời cổ đại là XÍCH QUI để truyền lưu lại cho đời

sau cái di sản thiêng liêng cao quí của Đế Tổ Thần Nông. Chữ Xích gồm 2 chữ hoả 
(lửa) chồng lên nhau có nghĩa là đỏ nên Thần Nông còn gọi là Xích đế. Chữ

Xích chỉ lửa (màu đỏ) hay quẻ Ly (phương Nam) chỉ nền văn minh tinh thần nên 
được gọi là Xích huyện Thần Châu. Do đó, nước Xích Qui là nước nông nghiệp

ở vùng đất đỏ phương Nam (Xích Qui Phương) của con cháu Thần Nông mà cổ thư gọi 
là Cửa Việt, Giao Chỉ.

 

Kết qủa các công trình nghiên cứu của hàng trăm nhà Khảo cổ và Khảo Tiền sử 
trên khắp Á châu

 

PHẠM TRẦN ANH

http://www.vietlandnews.net/forum/showt ... E1%BB%A6NG

Other related posts:

  • » [SMCC] VIỆT TỘC LÀ MỘT ĐẠI CHỦNG - Nguyễn Khánh Quốc