[SMCC] Tran Van Khe - Than The Va Su nghiep Phan 2
- From: Nguyen Khanh Quoc <khanhquoc78@xxxxxxxxx>
- To: SMCC <smcc@xxxxxxxxxxxxx>
- Date: Sat, 23 Jun 2007 14:32:22 -0700 (PDT)
Trần Văn Khê - Thân thế và sự nghiệp
II
III- Lập Gia đình và Hoạt động Xã hội
Năm 1943, Trần Văn Khê lập gia đình với
Nguyễn Thị Sương, người bạn gái
học cùng lớp Triết ở trường Pétrus Ký. Bà
Sương là một trong bốn nữ sinh học ban
Tú Tài của trường con trai Pétrus Ký vì lúc đó
trường Áo Tím không có lớp trình độ trung học
nhị cấp như bây giờ. Nguyễn Thị
Sương rất giỏi về triết lý,
bài viết đã từng được trên đài phát
thanh. Lúc đó còn đang học trường thuốc,
Trần Văn Khê nghe lời người cô Trần
Ngọc Viện, người đã lo cho ăn học
từ nhỏ
tới lớn, để lập gia đình, với hy
vọng có con trai nối dòng họ Trần. Trong gia đình
họ Trần, thân phụ Trần Văn Khê đã qua
đời sớm, để lại hai trai là Trần
Văn Khê và Trần Văn Trạch (từ trần năm
1994 tại Paris, Pháp). Nếu không may hai cậu trai ấy
qua đời mà chưa có con trai nối dòng thì dòng họ
Trần sẽ tuyệt.
Nghe theo lời của cô, Trần Văn Khê chịu lập
gia đình. Trần Văn Khê yêu cô Nguyễn Thị
Sương, bạn học cùng lớp Tú tài ở
trường Pétrus Ký, người con gái thuỳ
mị, dễ thương, học giỏi nhứt bên phía
nữ, con gái đầu lòng của ông Hanh (Nguyễn Văn
Hanh), giáo viên tại Saigon và sau đó làm đốc học
tại Thủ Đức. Vào
mùa hè năm 1943, sau mấy năm đeo đuổi hình bóng
người con gái miền Nam kiều diễm, hiền hòa,
Trần Văn Khê đã cùng Nguyễn Thị Sương
sánh duyên, mang lại
cho dòng họ Trần 4 đứa con: hai trai (Trần Quang
Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại
Paris, Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở
Saigon) và hai
gái (Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại
Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nữ nhạc
sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu
đông Nam Á của trung tâm quốc
gia nghiên cứu khoa học ở Paris). Sự hy sinh cao
cả của người vợ hiền suốt thời
gian tranh đấu cho đất nước đã giúp cho
Trần Văn Khê làm tròn sứ mạng của
một thanh niên yêu nước có đủ thì giờ tranh
đấu. Từ 1949 khi Trần Văn Khê lên
đường sang Pháp để lại quê nhà một
vợ, 3 con thơ dại và một đứa con còn nằm
trong bụng mẹ, người vợ đã trở thành cô
giáo dạy Pháp văn và Anh văn để nuôi và dạy
dỗ 4 con cho tới ngày trưởng thành. Sự hy sinh
đó đã được đền bù xứng
đáng là các con ngày nay đều thành danh, mang lại cho
đất nước những tiếng thơm tốt
đẹp qua những thành quả gặt hái khắp
năm châu bốn biển của con trai
đầu lòng Trần Quang Hải.
Mùa thu năm 1943, sau khi thi đậu đầu từ
năm thứ nhứt đến năm thứ nhì
trường Thuốc, đã bắt đầu chuẩn
bị thi ngoại trú (Externe des Hơpitaux) thì nhiều
sự
kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học
để trở về Nam. Thứ nhứt là tại
vấn đề sức khoẻ: bị rét rừng rất
nặng. Trần văn Khê không có vi trùng lao trong
cơ thể thử theo cách tiêm dưới da (intra dermo)
cũng không thấy có vi trùng, thì khi học đến
những bịnh truyền nhiễm, thì không đủ
sức để kháng cự.
Thứ hai là lúc đó có phong trào «Xếp bút nghiên.» Lưu
Hữu Phước đặt nhạc và Huỳnh Văn
Tiểng viết lời bản nhạc «Xếp bút nghiên»
đã được các sinh viên thời
đó hát hăng say.
?.Lúc quê hương cần người
Dứt là tơ vương
Giã trường lên yên ?
Nhiều bạn trong đó có Lưu Hữu Phước và
Huỳnh Văn Tiểng đã rời nhà trường, không
phải lên yên ngựa mà lên xe đạp đi về Nam
bằng xe đạp. Trần Văn Khê lúc
đó đau rét rừng mới hết, còn yếu, nên
về Nam bằng xe lửa.
Lý do thứ ba là lúc ấy bắt đầu có nạn
đói tại miền Bắc. Trần Văn Khê và Lưu
Hữu Phước định về Nam để lập
một gánh hát sinh viên đi các tỉnh vừa giới
thiệu
bài hát thanh niên, lịch sử của Lưu Hữu
Phước, vừa góp tiền mua gạo gởi ra cứu
đói ngoài Bắc. Và gánh hát không chuyên nghiệp và lưu
động của sinh viên
đã đi trong mấy tháng tại các tỉnh miền
đông và miền Tây để hát.
Về Nam, cùng với các bạn sinh viên, Trần Văn Khê
tham gia tổ chức «Đêm Lam Sơn» tại Saigon,
để ủng hộ học sinh trại «Suối Lồ
Ồ». Rồi tham gia phong trào
«Thanh Niên Tiền Phong» đầu năm 1944, Trần Văn
Khê dạy học tại hai trường tư lớn
nhứt tại Saigon: trường Lê Bá Cang và trường
Nguyễn Văn Khuê.
Ngày 13 tháng 5 dương lịch, năm 1944, Trần Quang
Hải, con trai đầu lòng của Trần Văn Khê ra
đời tại nhà bảo sanh Thủ Đức. Lưu
Hữu Phước đã viết một ca khúc
«Trần Quang Hải bao nỗi mừng» để chào
mừng con trai đầu tiên của người bạn
chí thân của mình. Đứa cháu trai nối dòng họ
Trần.
Các trường tản cư xuống tỉnh.
Trường Pétrus Ký do Giáo sư đặng Minh Trứ làm
Giám đốc, được chuyển về Bến Tre.
Trần Văn Khê trong khi chuẩn bị dạy
trường
ấy, dạy học trường tư thục của
bác sĩ Nguyễn Văn Còn.
Lúc ấy, ngoài việc dạy học, còn tham gia Ban tuyên
truyền của tỉnh Bến Tre cùng với Đặng
Ngọc Tốt, đi các nơi trong tỉnh Bến Tre, Sa
đéc. Anh Đặng Ngọc
Tốt diễn thuyết, Trần Văn Khê hát các bài
nhạc của Lưu Hữu Phước để
nhắc lại những trang lịch sử oai hùng của
dân tộc Việt Nam.
Sau ngày 9 tháng 3, năm 1945, Nhựt đảo chánh, Trần
Văn Khê cùng các bạn sinh viên đại Học Hà
nội, ủng hộ «Chánh phủ cá", «Chánh phủ cách
mạng lâm thời "
và thành lập nhóm «Hoàng Mai Lưu» (Huỳnh Văn Tiểng,
Mai Văn Bộ và Lưu Hữu Phước). Lúc đó
Trần Văn Khê bắt đầu quen biết Phạm
Duy, và giới thiệu Phạm Duy
cho Lưu Hữu Phước.
IV- Tham Gia Kháng Chiến
Từ tháng 8, năm 1945, Ông Phạm Văn Bạch lúc
ấy làm chánh chủ tỉnh Bến Tre đã ký giấy cho
Trần Văn Khê lên chợ Thiên Hộ gặp Huỳnh
Văn Tiểng, lúc đó làm Phó
Chủ tịch ủy ban kháng chiến Nam bộ.
Trước khi vào khu kháng chiến, Trần Văn Khê
đưa gia đình về Vĩnh Lọng Tại đó
gặp Phạm Duy lúc Duy theo gánh hát cải lương
«Đức Huy ? Charles Miều» đêm đêm
hát tân nhạc giữa hai màn cải lương. Mỗi
đêm sau khi vãn hát, Trần Văn Khê và Phạm Duy gặp
nhau nói chuyện về nhạc mới.
đến chợ Thiên Hộ, Trần Văn Khê
được Huỳnh Văn Tiểng ký tên bổ
nhậm làm «Nhạc trưởng quân đội Nam bộ»
với cấp đại đội trưởng trong
Cộng hòa vệ binh.
Lưu Hữu Phước đã cùng Trần Văn Khê
đặt các điệu kèn cho quân đội để
thay thế các giọng kèn Tây thổi lúc sáng thức
dậy, lúc chào cờ, lúc đi ngủ, v.v. Lưu
Hữu Phước tình nguyện đi làm thuốc súng và
lựu đạn với Nguyễn Mỹ Ca tại Hoả
Lựu (Rạch Giá). Trần Văn Khê đi kháng chiến,
mà hiếu hòa, không ưng cầm súng,
nên đi khắp nơi thay đổi các điệu kèn
quân đội, tổ chức đoàn quân nhạc gồm
các nhạc sĩ công giáo làng Lương Hòa. đi khắp
vùng đồng Tháp, Chợ Thiên Hộ,
đi đến Hậu giang, các tỉnh Sóc Trăng,
Bạc Liêu, đi đến Cà Mau, Năm Căn, Cái
Nước vừa giúp ban tuyên truyền Nam bộ trong
việc huy động toàn dân kháng chiến,
vừa thâu tiền lẻ để giúp nhà thương quân
y, như nhà thương ở Lẫm Biện Tú, vùng Cái
Nước do bác sĩ Nguyễn Tú Vinh cai quản. Ủy
lạo chiến sĩ ngay mặt trận,
đàn và hát cho thương binh nghe những điệu hát
câu hò dân gian, và nhứt là những bài nhạc của Lưu
Hữu Phước.
Tháng 3, năm 1946, đứa con trai thứ nhì Trần Quang
Minh ra đời. Như vậy là Trần Văn Khê đã
làm cho cô ba Viện an lòng nơi chín suối. Gia đình
họ Trần đã
có con trai nối dòng rồi! Và lúc ấy cả gia đình
của Trần Văn Khê đều tản cư
đến Cái Nước, nên chưa lo xong việc nhà, không
cùng đi ra Bắc với Lưu Hữu Phước,
và bác Tôn đức Thắng được.
Vì thế, cuối năm 1946, thay vì ra Bắc, Trần
Văn Khê trở về thành. Nhưng về để tham
gia với nhóm «kháng chiến tại thành» do kiến trúc
sư Huỳnh Tấn Phát,
sau Mai Văn Bộ chỉ huy, bằng cách viết báo cho
nhóm Thống Nhứt, liên lạc với các giới nghệ
sĩ cải lượng Lúc ấy Trần Văn Khê
vừa viết cho báo Thần Chung,
Việt Báo, tạp chí Sông Hương, tạp chí Mai,
vừa dạy Anh Văn tại hai trường Huỳnh
Cẩm Chương, Ngô Quang Vinh, và mở lớp dạy
tư Anh văn tại nhà. Được phái
cho phận sự phê bình âm nhạc và sân khấu, Trần
Văn Khê lúc ấy gặp gỡ rất thường càc
đào kép cải lương như Tư Chơi, Năm
Châu, Bảy Nhiêu, Duy Lân, và hằng
tháng gặp các anh có cả anh Tư Trang để bàn
về sự phát triển của cải lương.
Năm 1948, các tổ kháng chiến tại thành bị
lộ, Trần Văn Khê bị bắt vàgiam tại khám
Catinat cùng một lúc với các giáo sư tư thục
Nguyễn Văn Hiếu (sau này
là Bộ trưởng Văn Hoắ, Trần Thọ
Phước (sau này là Giám đốc Air Vietnam ở đông
Nam Á ). Năm ấy vào mùa thu, con gái đầu của
Trần Văn Khê chào đời.
V- Những Năm đầu Tiên trên đất Pháp
Năm 1949, vì bị lộ nên Trần Văn Khê, sau khi bàn
với các bạn, rời nước Việt Nam sang Pháp,
vừa «lánh nạn», vừa du học.
Tới Pháp với hai bàn tay trắng, một bộ
đồ vải tropical, và bản hợp đồng
với các báo kể phía trên để làm «phóng viên.» Trần
Văn Khê lúc ấy thành ký giả chuyên
nghiệp, có được thẻ nhà báo chuyên nghiệp do
sở Thông tin Pháp cấp cho.
Vừa tới Pháp tháng 5, thì tháng 8 cùng đi với học
sinh Việt Nam tham dự Liên hoan thanh niên tại Budapest
(HungGia Lợi). Cùng với anh Nguyễn Ngọc Hà (hiện
giữ chức Phó trưởng ban Việt kiều trung
ương), tổ chức chương trình văn nghệ
giới thiệu nước Việt Nam đang tranh
đấu dành tự do. Trần Văn Khê dự thi nhạc
cụ dân tộc, với hai cây đàn cò và đàn tranh,
được Giải nhì, sau Liên Xô, đồng hạng
với Mông Cổ, trước Hung Gia lợi và Bảo Gia
lợi. đồng thời Trần Văn Khê
được anh đại diện Kháng chiến Việt
Nam từ chiến khu sang Miến điện để
đi Bupadest, tặng «Lá cờ thi đua» vì đã giới
thiệu có hiệu quả nhứt trong đoàn, tinh
thần kháng chiến anh dũng của dân tộc Việt
Nam cho thanh niên nhiều nước biết. Sau chuyến
đi Budapest, Trần Văn Khê mất học bổng
sắp được để học Khoa báo
chí tại đại học Michigan, và không được
thẻ tạm trú tại Pháp, mỗi ba tháng phải lên
sở cảnh sát Paris trình diện.
Tự làm việc để sinh sống, từ năm 1949
tới 1951 đọc các báo Pháp để viết tiết
mục «điểm baó», làm phóng viên về các sinh hoạt
Việt kiều, và viết du ký, phóng
sự, và cắt gởi về toà soạn những bài báo xã
thuyết về chánh trị quốc tế, và chánh trị
liên hệ đến Việt Nam. Nhân làm báo, mới thi vào
trường chánh trị
nổi tiếng là «Sciences Po» Paris thử chơi.
được đậu vào năm thứ nhì của
trường, Trần Văn Khê học hai năm trong môn
Giao dịch quốc tế, và học thêm Anh văn
tại đại học văn khoa Paris.
Tiền học nhờ báo bên nhà hàng tháng chuyển ngân.
Nhưng báo thường bị đóng cửa. Trần
Văn Khê phải đi đờn mỗi tối thứ
năm, và tối chủ nhựt tại hiệu cơm «La
Paillote» của bà Từ Bá Hòa để được
một bữa cơm ngon và chút ít tiền túi. Trong năm
sau, mỗi cuối tuần, giới thiệu đờn cò,
đờn tranh tại nhà hàng «Bồng
Lai» của ông Bùi Văn Tuyền, tại vùng Champs Elysées. Ghi
âm cho hãng dĩa hát ORIA, hơn 30 bài nhạc mới của
Lưu Hữu Phước, Phạm Duy, Võ đức Thu,
Nguyễn
Hữu Ba, Lê Thương, Hùng Lân, với bí danh là Hải
Minh (tên của hai đứa con trai ghép lại ).
Ngày 10 tháng giêng năm 1950, con gái út của Trần Văn Khê
ra đờị Trần thị Thủy Ngọc sanh
tại tỉnh Vĩnh Lọng Lúc ấy Trần Văn Khê
đã ở Pháp hoạt động văn
nghệ cho Hội Ái hữu Việt Kiều do GS Phạm
Huy Thông làm hội trưởng, chơi thân với nhà
viết báo Khuông Việt, nhà thơ Nguyễn Văn Cổn,
Lê Văn Sáu, lúc ấy là
sinh viên trường Chánh trị và đại học
văn khoa (cựu giáo sư đại học sư
phạm Sài Gòn). Trần Văn Khê khi rời Việt Nam
đi sang Pháp thì vợ mới cấn thai có
10 ngày. Đứa con gái út mở mắt chào đời không
thấy mặt cha và cũng không biết cha cho tới
năm 1969 mới được sang Pháp để nhìn
thấy mặt cha lần đầu.
Mùa hè năm 1950, Trần Văn Khê sang La Haye, Hòa Lan học
về luật quốc tế, một khóa với Lê Thành Khôi
(từng làm giáo sư đại học Paris, người
viết quyển Histoire
du Vietnam được nổi tiếng)
Hè năm 1951, thi đậu ra trường Chánh trị Khoa
giao dịch quốc tế. Nhờ đậu hạng 5, nên
được tuyển vào ngạch thư ký quốc
tế cho Liên Hiệp Quốc, năm ấy họp
đại hội tại Paris.
Trong khi chờ đợi nhậm chức vào mùa thu 1951, thì
tháng 8, hai tháng sau khi đậu bằng Chánh trị, bị
đưa vào nhà thương Cochin, bị giải phẩu
gấp và từ đó
đến tháng 10 năm 1954, phải bị sống «bên
lề cuộc đời», đi từ bịnh viện
này, đến trung tâm dưỡng bịnh nọ, bị
giải phẩu 4 lần, và đã phải uống, và
bị tiêm
bao nhiêu thứ thuốc có thể chữa bịnh này gây
bịnh khác. Ba năm hai tháng, mới được
trở về cuộc sống bình thường. Nhưng
cũng nhờ bị «nhốt» trong nhà thương
mà Trần Văn Khê có cơ hội, có thì giờ
đọc bao nhiêu sách tại thư viện Paris. Ghi tên
soạn luận án Tiến sĩ đại học Paris
năm 1952, Trần Văn Khê được các
ủy viên văn hóa (délégué culturel) của các nhà
thương dành cho sinh viên như Centre de Cure Universitaire
tại rAie sur l'Adour, Postcure Universitaire
tại vùng Sceaux, ngoại ô Paris, lo việc mượn, và
trả sách.
Từ năm 1954, ra khỏi nhà thương, cho đến
1958, theo học khoa nhạc học và chuẩn bị
luận án Tiến sĩ dưới sự chỉ
đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile
Gaspardone, và André Schaeffner.
Ngoài ra Trần Văn Khê làm nhiều công việc để
mưu sống. đáng kể nhứt là bốn việc sau
đây:
1. Thực hiện 52 buổi nói chuyện bằng tiếng
Việt cho đài BBC Luân đôn với các đề tài âm
nhạc kịch nghệ và chuyện cổ tích Việt Nam
2. đóng phim cho hãng «Arthur Rank Corporation» bên Anh. Phim tên là «A
Town Like Alice» (Một thành phố giống như Alice Springs,
một thành phố giữa sa mạc
bên châu Úc). Phim dựa theo tiểu thuyết của Nevil
Shute, Pháp dịch tên phim là «Ma vie commence en Malaisie»
(đời tôi bắt đầu từ Mã Lai ). đóng vai
đại
uý Nhựt Sugaya, cai quản trại tù binh Anh và Úc. đóng
chung với Peter Finch và Virginia Mac Kennạ Phim
được lựa chiếu tại Liên hoan phim Cannes
năm 1957.
3. Trong phim Pháp «La Rivière des Trois Joncques» (Ba chiếc thuyền
trên con rạch), phim gián điệp. Trần Văn Khê
đóng hai vai: vai chánh cảnh sát trưởng
Việt Nam trong cơ quan phản gián điệp, vai
phụ: ông già Tàu bán đồ cổ. đóng với Jean
Gaven và Dominiques Wilms.
4. Lồng tiếng phim «Gengis Khan» trong vai Thừa
tướng Kao Lịnh Vai do tài tử Mỹ James Mason
đóng. Tiếng Pháp do Trần Văn Khê nói.
Còn lồng tiếng cho phim «Tarzan nỗi giận» trong vai
Rokov do dược sĩ Nguyễn Trọng Thu, người
tiền phong trong việc lồng tiếng phim ngoại
quốc ra tiếng Việt
chủ trương, và hai phim Mễ Tây Cơ do Vạn Ý
Phim phát hành. Giám đốc: ông Huỳnh Tấn đốc.
Lồng tiếng phim cho mấy chục phim Mỹ chuyển
sang tiếng Pháp cho các hãng Kikoine, Hen, vv?. đóng phim
quảng cáo cho xe Renault 4, cho hãng rượu Martini,
v.v.
Tháng 6 năm 1958: đậu Tiến sĩ Văn Khoa (Môn
Nhạc Học) đại học Sorbonnẹ Tối ưu
với lời ban khen của giám khảo (Mention Très Honorable
avec félicitations
du Jury). Luận án chánh: Âm nhạc truyền thống
Việt Nam (La musique vietnamienne traditionnelle/The Traditional
Vietnamese Music). đề tài phụ: 1. Khổng
Tử và âm nhạc (Confucius et la Musique/Confucius and Music). 2.
Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam (Place de la
musique dans la société vietnamienne
/ Place of Music in the Vietnamese Society).
(còn tiếp)
---------------------------------
Get the Yahoo! toolbar and be alerted to new email wherever you're surfing.
Other related posts:
- » [SMCC] Tran Van Khe - Than The Va Su nghiep Phan 2