[SMCC] Tran Van Khe - Than The Va Su Nghiep Phan 3

Trần Văn Khê - Thân thế và sự nghiệp
III
 
VI- Sau khi đậu Tiến sĩ Văn Khoa
 
Tháng 8 năm 1958: dự hội nghị quốc tế 
đầu tiên tại trụ Sở UNESCO Paris. Tham luận 
và Hoà nhạc chung một chương trình với Ravi Shankar 
(Ấn độ), Ebadi và
Hossein Malek (Ba Tư), Yuize Shinichi (Nhựt Bổn) và Yehudi 
Menuhin (Mỹ gốc Ngă danh cầm thế giới 
về vĩ cầm (violon/violin)
Năm 1959: Hội Singer Polignac cho học bổng một 
năm để nghiên cứu và phổ biến nhạc 
Việt Nam và nhạc châu Á tại Paris. Sáng lập Trung Tâm 
Nghiên cứu nhạc
đông Phương (Centre d'Etudes de Musique Orientale / Center of 
Studies for Oriental Music). Giữ chức Giám đốc học 
vụ và Giáo sư nhạc Việt Nam. Từ năm 1979
chủ tịch Trung tâm kiêm Tổng giám đốc học 
vụ đến năm 1989. Trung tâm này giải tán khi 
Trần Văn Khê hưu trí, sau 30 năm hoạt 
động.
 
Từ khi đậu Tiến sĩ đến lúc về 
hưu năm 1987, các hoạt động đi vào 5 
hướng chánh:
 
1. Nghiên cứu âm nhạc
 
Năm 1960, được bổ nhiệm vào Trung Tâm nghiên 
cứu khoa học Pháp (Centre National de la Recherche Scientifique / 
National Center for Scientific Research)
với chức Tùy viên (attaché de recherche), 1964 lên chức 
Chuyên viên nghiên cứu (chargé de recherche), năm 1968 lên 
chức nghiên cứu sư (mâitre de recherche),
và từ năm 1971 lên chức Giám đốc nghiên cứu 
(Directeur de recherche).
 
Đề tài nghiên cứu: trước hết là âm nhạc 
truyền thống Việt Nam rồi đi lần 
đến đề tài «đối chiếu nhạc 
cụ, nhạc lý và ngôn ngữ âm nhạc các nước 
Châu Á». Trong
mỗi đề tài đi dài trong thời gian và rộng 
trong không gian. Trong thư viện tìm thư mục, trong các 
Bảo tàng viện nghe các băng từ, dĩa hát làm 
phiếu, và
nhứt là đi diền dã (recherche sur le terrain / field 
research), và tự ghi âm, chụp ảnh trên thuộc 
địạ Mỗi năm báo cáo kết quả và 
phải có ít nhiều bài đăng
trong các tạp chí chuyên môn.
 
Phải tham gia giảng trong các trường đại 
học, và tham luận tại các hội nghị quốc 
tế.
 
Không thể đi sâu vào chi tiết, nhưng chỉ 
đưa ra vài con số điển hình:
 
· Trần Văn Khê đã đăng trong 27 năm làm 
việc, gần 200 bài đa số viết bằng 
tiếng Pháp, một số nhỏ bằng tiếng Anh có 
một số bài được dịch ra tiếng 
đức, tiếng
Trung quốc, tiếng Ả Rạp trong đó có hơn 130 
bài đăng trong từ hai ba chục đến cả 
trăm trang đánh máy, và những bài đăng trong 
tạp chí Le Courrier de l'Unesco
được dịch ra hơn 15 thứ tiếng.
 
· Trần Văn Khê được các nước mời 
hay được Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp và 
UNESCO phái đi dự gần 200 hội nghị quốc 
tế trên 67 nước trên thế giới.
 
· đã tựghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao 
đổi với nghệ nhân, nghệ sĩ Việt Nam, 
trên 300 giờ âm nhạc Châu Á, châu Phi, chụp hơn 8.000 
tấm ảnh, dương bản,
ảnh màu hoặc đen trắng về sinh hoạt âm 
nhạc tại Việt Nam và tại nhiều nước 
đãi qua, thu thập được gần 500 dĩa hát 
của các nước trên thế giới, thực hiện
được hơn 15 dĩa hát về âm nhạc 
truyền thống Việt Nam, 4 dĩa được 5 
giải thưởng lớn của Hàn lâ m viện dĩa 
hát Pháp, năm 1960, 1970, dĩa hát đức quốc năm
1969, Diapason dór của tạp chí chuyên về giới 
thiệu và phê bình dĩa hát tại Pháp, và Giải các nhà phê 
bình dĩa hát tại đức quốc năm 1994.
 
· đã thực hiện nhiều phim ngắn dài về dân 
tộc nhạc học như phim vềlối hát cổ 
điển Dhrupad( Ấn độ), vếong Sheng Trung 
quốc (Sanh hầu), đàn Gu Quin (cổ cầm
Trung quốc), đàn tranh Việt Nạm
 
2. Giảng dạy trong các trường đại học
 
Từ năm 1963 dạy trong Trung Tâm Nghiên cứu nhạc 
đông Phương, dưới sự bảo trợ 
của Viện Nhạc Học Paris (Institut de Musicologie de 
Paris / Institute of Musicology)
môn thực tập đàn tranh và lớp lý thuyết, ngôn 
ngữ âm nhạc các nước Châu Á đến năm 1980 
chỉ lo vềhành chánh và tổ chức chương trình 
giảng dạy.
 
Từ năm 1965 được mời dạy một 
lớp về âm thanh, thang âm điệu thức trong các 
truyền thống tại châu Á.
 
Từ năm 1970 đến sau dạy môn dân tộc 
nhạc học cho lớp cử nhân và Cao học. Có cả 
Séminaire cho các thí sinh Tiến sĩ. GS Trần Văn Khê 
chỉ đạo nghiên cứu, đỡ
đầu và làm giám khảo cho hơn 50 thí sinh bảo 
vệ tiểu luận án cao học và luận án tiến 
sĩ về nhạc châu Á châu Phi. Trong số đó chỉ 
có một tiến sĩ Việt Nam
là Nguyễn Thuyết Phong là có thời gian được 
dạy âm nhạc Việt Nam tại trường 
đại học Kent bên Mỹ.
 
Ngoài ra còn giảng ba năm cho trường Cao học Khoa 
học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales), 
giảng nhiều lần tại Nhạc viện Paris 
lớp về
nhạc cụ Châu Á của bà bá tước Genivieve de 
Chambure, và được thỉnh giảng trên 15 
đại học năm châu, chỉ nhắc đến 
một vài nơi như Hàn Lâm viện List tại Budapest,
đại học Varsovie, đại học Vicenza, Venise, 
Tehe'ran (Ba Tư), Tây Nam Úc châu, Perth, Trường nhạc 
Algerie, 3 lần tại đại học Hawaii, 2 lần 
UCLA, Los Angeles,
Carbondale (Southern Illinois), 3 lần tại Nhạc Viện Hà 
nội, và nhiều lần tại lớp thể nghiệm 
dạy nhạc dân tộc trên cấp đại học 
của Viện Nghiên cứu âm nhạc
và múa do cố GS Lưu Hữu Phước làm Viện 
trưởng, v.v.
 
GS Trần Văn Khê thường nói trong 20 năm vừa 
qua đã «đốt đuốc tìm học trò». Và trong 
nhiều buổi thuyết trình Giáo sư có nhắc 
đến người môn sinh theo dõi
và thực hiện được một số công trình mà 
Giáo sư mơ ước là Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy 
Hoan, giảng viên đờn tranh tại Nhạc viện 
Thành Phố HồChí Mịnh
 
3. Nhạc sĩ truyền thống Việt Nam
 
Tuy Giáo sư Trần Văn Khê dạy về nhạc 
học, nhưng vẫn không quên mình là nhạc sĩ 
truyền thống. Trong các hội nghị quốc tế, 
thường được mời tham dự với hai
tư cách: người nghiên cứu tham luận trong các 
buổi họp và tối còn đàn như một nghệ 
sĩ.
 
· Trần Văn Khê còn dự rất nhiều nhạc 
hội, liên hoan âm nhạc Châu Á như Nhạc Hội Rennes, 
Royan bên Pháp, Ajaccio tại đảo Corsica, Bá Linh bên 
đức, Pamplona,
bên Tây ban nha, Venise, Roma bên Ý, Bratislava vàBrno (Tiệp Khắc), 
Shiraz (Ba Tư), Sao Paulo bên Nam Mỹ, Wellington bên Tân Tây Lan, 
v.v.
 
· Trần Văn Khê đã dạy đờn tranh trong Trung 
Tâm Nghiên Cứu Nhạc đông Phương và kết 
quả rõ nhứt là hai người con của Giáo sư, 
Trần Quang Hải và Trần Thị
Thủy Ngọc đều biết đờn tranh và đã 
dạy lại cho nhiều trẻ em và thanh niên Việt Nam 
tại Pháp. Riêng Trần Quang Hải rất có khiếu 
về âm nhạc. Tốt nghiệp nhạc
viện Saigon về vĩ cầm (học với nhạc 
sĩ đỗ Thế Phiệt), sang Pháp học rất 
giỏi về đàn tranh, đỗ đầu các cuộc 
thi về nhạc Ba Tư, nhạc Ấn độ, 
nhạc Trung quốc,
lý thuyết và thực tập. Trần Quang Hải là 
nhạc sĩ Việt Nam thực hiện 3 dĩa 33vòng 
về đàn tranh và dân ca Việt Nam với người em 
cô cậu Hoàng Mộng Thúy từ
năm 1975 tới 1978, 7 dĩa 33 vòng về nhạc Việt 
Nam với vợ là nữ ca sĩ Bạch Yến (từng 
nổi tiếng qua bài đêm đông của nhạc sĩ 
Nguyễn Văn Thương và các thể
loại nhạc thời trang bằng tiếng ngoại 
quốc. Trần Quang Hải tổng cộng làm 15 dĩa 33 
vòng, 8 CD về nhạc Việt Nam, và 10 CD cộng tác 
với các nhạc sĩ khác,
và là người Việt Nam duy nhứt được hai 
giải thưởng dĩa hát của Pháp (giải 
thưởng Hàn lâm viện Charles Cros / Grand Prix du Disque de 
l'Académie Charles
Cros năm 1983 và năm 1996). Trần Quang Hải vừa là 
nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học, làm việc cho 
Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp (viết 4 quyển sách,
300 bài viết về nhạc Á châu và hát đồng song 
thanh, giảng dạy tại trên 100 trường 
đại học tại 60 quốc gia ), vừa là nhạc 
sĩ trình diễn nhạc dân tộc Việt
Nam (tham dự trên 140 đại hội liên hoan nhạc 
cổ truyền). Trần Quang Hải trở thành một 
chuyên gia về hát đồng song thanh nổi tiếng 
nhứt thế giới sau 32
năm nghiên cứụ Ngoài ra còn được tặng 
cho danh hiệu là «Vua Muỗng «(Le Roi des Cuillers / The King of 
Spoons) sau khi thắng giải tại một đại 
hội liên hoan
nhạc dân tộc tại tỉnh Cambridge (Anh quốc) 
năm 1967, và «Người đánh đàn môi giỏi 
nhứt thế giới «(The Best Jew's Harp player in the World) 
trong một đại
hội liên hoan thế giới về đàn môi (The 3rd World 
Festival of Jew's Harp) tại tỉnh Molln (Áo quốc) năm 
1998 với trên 300 nghệ nhân đàn môi giỏi nhứt trên
thế giới tham dự Trần Quang Hải vừa là con 
và là học trò có khiếu nhứt của Trần Văn 
Khê, vừa bảo vệ truyền thống âm nhạc gia 
đình (đời thứ 5), vừa phát
huy nhạc truyền thống thế giới qua sự giao 
lưu âm nhạc trình diễn trên các sân khấu đại 
nhạc hội trên thế giới từ trên 30 năm 
qua.Con đường của Trần Quang
Hải hoàn toàn khác con đường của Trần 
Văn Khê nhưng cả hai đều hướng về 
nhạc dân tộc. Trần Thị Thủy Ngọc, con gái 
út của Trần Văn Khê, rất chăm học đàn
tranh, luyện tập rất kỹ và nắm vững 
truyền thống gia đình. Cô Thủy Ngọc đã giúp 
đỡ người cha trong việc dạy nhạc 
Việt và đàn tranh tại Trung tâm nghiên
cứu nhạc đông phương gần 10 năm 
trời và đã cộng tác với hai dĩa nhạc 
Việt Nam với cha của cô. Hiện nay Thủy Ngọc 
làm việc cho một toán nghiên cứu đông
Nam Á của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học 
Pháp.Tại Pháp, Trần Văn Khê có ba môn sinh người 
Pháp, Nelly Felz, André Lant, và Kim Lý,đã học đờn tranh
rồi sau đó tiếp tục học với ái nữ là 
Trần Thị Thủy Ngọc. Cả ba đều 
đờn được các hơi Bắc, Quảng, 
Nhạc, Xuân, Ai, đảo, Oán.
 
· Nhạc sĩ truyền thống Trần Văn Khê đã 
thực hiện những dĩa hát trong đó nhạc sĩ 
đờn độc tấu, vừa đờn vừa ca 
những bản xưa như «Bắc Cung Ai», đờn hoà 
với
con gái Trần thị Thủy Ngọc, con trai Trần Quang 
Hải, với bạn tri âm là nhạc sư Nguyễn 
Vĩnh Bảo và nữ nhạc sĩ đàn tranh Nguyễn 
thị Hải Phượng. Nhạc sĩ có
giới thiệu những cách tùy hứng đờn 
nguyệt (đờn kìm), đờn tranh trong một 
dĩa hát mang tên là «Âm nhạc truyền thống mới» 
(Nouvelle Musique Traditionnelle/New
Traditional Music). đây là sự phối hợp giữa 
Trần Văn Khê (đờn kìm, đờn tranh, trống) 
với Trần Quang Hải (muỗng, sinh tiền). Cả 
hai người đã thử tìm một
hướng đi cho nhạc cổ truyền Việt Nam, 
biến đổi cách rao, cách phát triển bài bản 
dựa theo tùy hứng như trong nhạc Jazz, nhạc 
Ấn độ, thêm vào đó tiết tấu
cho hấp dẫn dựa theo chu kỳ tiết tấu 
(cycles rythmiques /rhythmical cycles). Cuộc thể nghiệm 
đầu tiên tại đại hội liên hoan nhạc 
cổ truyền tại tỉnh Shiraz
(Ba Tư) giữa đàn kìm và muỗng đã gặt hái 
một sự thành công ngoài sức tưởng 
tượng. Sau vài năm thử thách tại các đại 
nhạc hội, hoà tấu với sự phụ hoạ 
tiếng
gõ song lang của Trần Thị Thủy Ngọc, một 
thể loại mới cho nhạc cổ truyền Việt 
Nam được thành hình. Năm 1973, hãng dĩa OCORA 
của Pháp mời ba cha con thu
một dĩa nhạc cổ truyền Việt Nam theo 
thể loại mới. Sau ba năm bị «ngâm» trong học 
tủ, dĩa 33 vòng «Âm nhạc truyền thống mới» 
được xuất bản, đánh dấu một
bước đường mới trong việc vạch 
một hướng đi mới lạ cho nhạc 
Việt. Từ đó, Trần Văn Khê có dịp về 
Việt Nam mang ý kiến này về xứ, thử thách 
với các nhạc
sĩ trẻ (đặc biệt nhóm nhạc gõ Phù 
đổng) và được giới trẻ tiếp 
nhận và phát triển mạnh mẽ. Một dĩa CD khác 
với các thể loại ngâm thơ cổ, thơ mới 
và ca những
bài cổ như Ngũ đối hạ, Nam Xuân với 
sự cộng tác của con gái Trần Thị Thủy 
Ngọc
 
· Giáo sư Trần Văn Khê đã nhận lời 
thuyết trình cho Thanh niên yêu nhạc Thuỵ Sĩ, Nam 
Tư, cho các đài phát thanh, đài truyền hình nhiều 
nước trên thế giới
về nhạc Việt Nam.
 
· 43 nước trên thế giới đã mời GS Nhạc 
sĩ Trần Văn Khê thuyết trình và biểu diễn âm 
nhạc truyền thống Việt Nam
 
4. Nhiệm vụ quốc tế
 
Giáo sư Trần Văn Khê là thành viên của nhiều 
hội nghiên cứu âm nhạc trong nước Pháp, Mỹ, 
Trung Quốc, và trên trường quốc tế:
 
· Hội nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)
· Hội âm nhạc học (Société Francaise de Musicologie) (Pháp)
· Hội dân tộc nhạc học Pháp (Société Francaise 
d'Ethnomusicologie) (Pháp)
· Hội âm nhạc học quốc tế (Société Internationale 
de Musicologie)
· Hội dân tộc nhạc học (Society for Ethnomusicology) 
(Mỹ)
· Hội nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ )
· Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for 
Asian and Pacific Music)
· Hội quốc tế giáo dục âm nhạc (International 
Society for Music Education)
 
· Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học 
Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc với 
phương pháp đối chiếu (International Institute for 
Comparative Music Studies
(Đức)
· Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền 
thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ 
tịch (Mỹ)
· Hội đồng quốc tế âm nhạc (International 
Music Council / UNESCO), nguyên ủy viên ban chấp hành, nguyên phó 
chủ tịch, đương kim Chung sanh hội 
trưởng danh
dự (Pháp)
· Viện sĩ thông tấn, Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa 
Họ, Văn chương, Nghệ Thuật
 
Từ 14 năm nay, thành viên ban giám khảo quốc tế 
Giải thưởng cho cổ nhạc thế giới 
của đài phát thanh Insbruck (Áo quốc)
 
Từ 27 năm nay, thành viên và từ 10 năm nay chủ 
tịch ban tuyển lựa quốc tế của Diễn 
đàn âm nhạc châu Á do Hội đồng quốc tế 
âm nhạc tổ chức
 
Ban giám đốc của chương trình viết lại 
lịch sử âm nhạc thế giới (UNESCO đề 
xướng và tài trợ)
 
Với nhiều nhiệm vụ đó, GS Trần Văn Khê 
trong 36 năm nay đã tham dự rất nhiều Hội 
nghị quốc gia Pháp, đức, và Hội nghị 
quốc tế. Tất cả gần 200 hội nghị 
cử
hành trong số 67 trên thế giớị
 
Xin đơn cử một số thí dụ:
 
Hội nghị các hội quốc tế
 
1. Hội đồng quốc tế âm nhạc (Unesco), Paris 
1958; Paris 1960; Roma 1962; Hambourg 1964; Rotterdam 1966; New York 1968; 
Moscou 1971; Geneva 1973; Ottawa,
Montreal 1975; Bratislava, Praha 1977; Perth, Merbourne, Sydney 1979; Budapest 
1981; Stockholm 1983; Berlin Est 1985; Brasilia 1987; Paris 1989.
 
2. Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền 
thống, Jerusalem 1961; Honolulu 1977; Oslo 1979; Seoul 1981; New York 
1983; Stockholm-Helsinki 1985; Berlin Est 1987;
Schladming (Áo) 1989.
 
3. Hội quốc tế âm nhạc học, Copenhague 1972; 
Berkeley (Mỹ) 1977; Strasbourg (Pháp) 1982.
 
4. Hội quốc tế giáo dục âm nhạc, Perth 1979; 
Varsovie 1980.
 
5. Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc theo 
phương pháp đối chiếu, Berlin 1965, 1967, 1971, 
1986, 1989
 
6. Diễn đàn âm nhạc châu Á, Paris 1969; Paris 1971, Alma Ata 
(Nga sô) 1975; Manila (Phi luật tân) 1976; Bagdad 1979; Bình 
Nhưỡng (Bắc Hàn) 1983; Ulan Bator
(Mông cổ) 1985; Thành phố HồChí Minh 1990; Bombay 1993.
 
+ đề tài: Bảo vệ và giới thiệu truyền 
thống âm nhạc
 
Teheran 1967; Berlin 1968; Berlin 1969; Lisbonne 1971; Montreal 1975; Manila 
1976; Manila 1978; Baghdad 1979; Brest 1982; Wellington (Tân Tây Lan) 1982;
Madagascar 1985; Dakar 1985.
 
+ đề tài: Các phương tiện truyền thống 
và âm nhạc
 
Tokyo 1961; Jerusalem 1963; Paris 1967; Hyderabad (Ấn độ) 
1978; Baden Baden (đức) 1980; New York 1983; Tây Bá Linh, 1986.
 
+ đề tài giáo dục âm nhạc
 
Teheran 1967; Tây Bá Linh 1969; Perth (Úc châu) 1979; Varsovie 1982; Budapest 
1982; Cannes 1984; Nice 1985; Paris 1988.
 
Giải thưởng, Huy Chương, Bằng Danh Dự
 
* 1938: Bỗng du lịch Saigon-Hànội-Saigon trên 
đường xe lửa xuyên Việt, cho học sinh 
xuất sắc các trường trung học miền Nam.
 
1941: Bỗng Toàn quyền đô đốc Decoux, cho học 
sinh đậu Thủ khoa Tú tài phần nhì và 
được toàn thể Giáo sư của lớp 
đề nghị
 
* 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc 
tại Liên hoan Thanh niên Budapest.
 
* 1960: Giải thưởng lớn của Hàn lâm viện 
dĩa hát Pháp (Grand prix de l'Academie du Disque Français) Giải 
thưởng đại Học Pháp (Prix des Universit('s de 
France).
Dĩa hát về nhạc Việt Nam của Boite à Musique 
số BM LD 365.
 
* 1969: Deutscher Schallplatten Preis, Giải thưởng dĩa 
hát đức quốc cho Dĩa về nhạc Việt Nam 
Truyền thống miền Trung, dĩa Barenreiter Musicaphon 
số BM 30
LD 2022. Dĩa UNESCO Collection
 
* 1970: Giải thưởng lớn Hàn lâm viện dĩa hát 
Pháp (Grand Prix du disque de l'Academie du Disque Français), Prix de 
l'Ethnomusicologie (Giải thưởng dân tộc
nhạc học), dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022, 
UNESCO Collection.
 
* 1974: được cử làm hội viên danh dự 
của hội nghệ sĩ ái hữu và được 
bằng ban khen của hội do ba nghệ sĩ lớn 
trong bộ môn cải lương ký tên: Năm Châu, Phùng
Há, Kim Cương.
 
Huy chương bội tinh hạng nhứt của chánh 
phủ Việt Nam cộng hoà
 
Văn hoá bội tinh hạng nhứt của bộ giáo 
dục Việt Nam cộng hoà
 
* 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dư (Docteur en musique, 
honoris căusa đại học Ottawa (Canada)
 
* 1981: Giải thưởng âm nhạc của Unesco ? Hội 
đồng quốc tế âm nhạc (Prix Unesco ?CIM de la 
Musique)
 
* 1991: Officier de l'Ordre des Arts et des Lettres. Ministère de la Culture et 
de l'Information du Gouvernement francais (Huy chương về 
Nghệ Thuật và Văn
Chương của Bộ Văn Hoá Chánh phủ Pháp).
 
* 1993: Cử vào Hàn Lâm Viện Châu Âu về Khoa Học, 
Văn Chương, Nghệ Thuật. Viện Sĩ thông 
tấn, Membre correspondant de l'Académie européenne des Sciences,
des Lettres et des Ạrts
 
* 1993: được Tổng Thống Pháp Francois Mitterrand 
mời tháp tùng chuyến công du của Tổng thống 
tại Việt Nam
 
* 1994: Giải thưởng của các nhà phê bình đĩa 
hát đức quốc (Deutscher SchallplattenKritik Preis)
 
* 1995: Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc 
nhạc học (Koizumi Fumio Prize for Ethnomusicology, Nhựt 
Bổn)
 
* 1998: Huy chương Vì Văn Hoá Dân Tộc Bộ Văn 
Hoá (CHXHCNVN)
 
* 1999: tháng 5 dương lịch: Tiến sĩ danh dự 
đại học Monoton (Nouveau Brunswick, Canadă
 
* 1999: Tháng 8 dương lịch: Huân chương Lao 
động hạng nhứt do Chủ Tịch Trần 
đức Lương cấp (CHXHCNVN)
 
Danh sách dĩa hát do Trần Văn Khê đờn hay thu thanh 
điền dã:
 
· 1950-1952: 14 dĩa 78 vòng do hãng dĩa ORIA sản xuất bên 
Pháp, phát hành bên Việt Nam, gồm có 28 bản tân nhạc 
của các nhạc sĩ Lê Thương, Phạm Duy, Võ 
đức
Thu, Hoàng Quý, Thẩm Oánh, Hùng Lân, Nguyễn Hữu Ba, Hoàng 
Quý, Lưu Hữu Phước, vv?Lấy bí danh là ca sĩ 
Hải Mịnh
 
· 1959: «Musique du Vietnam»(Nhạc Việt Nam), hãng La Boite a 
Musique số LD 365 (17cm/33 vòng), Paris. Grand Prix de l'Academie du 
Disque Français 1960.
Prix des Universites de France (Giải thưởng Hàn lâm viện 
Dĩa hát Pháp 1960)
 
· 1969: «Viet Nam 1», hãng Barenreiter Musicaphon số BM 2022 (30cm/33 
vòng), collection Unesco, Kassel, đức. Deutscher Schallplatten Preis 
1969 (Giải thưởng
dĩa hát đức 1969), Grand Prix de l'Acad('mie du Disque Français 
1970 Prix d'ethnomusicologie (Giải thưởng Hàn lâm viện 
Dĩa hát Pháp 1970 Giải thưởng Dân
tộc nhạc học )
 
· 1970: «Viet Nam 2», hãng Barenreiter Musicaphone số BM 2023 (30cm/33 
vòng), collection Unesco, Kassel, đức.
 
· 1972: «Musique du Viet Nam, Tradition du Sud» (Nhạc Việt Nam, 
truyền thống miền Nam với Nguyễn Vĩnh 
Bảo và Trần Văn Khê), hãng OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng),
Paris.
 
· 1972: «South Viet Nam, Entertainment Music» (Miền Nam Việt Nam, 
Nhạc Tiêu Khiển với Nguyễn Vĩnh Bảo), hãng 
Philips số 6586 028 ( 30cm/33 vòng) collection
Unesco: Musical Sources, Hoà Lan.
 
· 1972: «Inde du Nord / Pandit Ram Narayan/ Le Sarangi» (Ấn độ 
miền Bắc/ Nhạc sư Ram Narayan / đàn Sarangi), hãng 
OCORA số OCR 69 (dĩa 30cm/33 vòng), Paris.
Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.
 
· 1972: «Narendra Bataju, Sitar/Surbahar» (Nhạc sĩ Narendra Bataju/ 
đàn Sitar và Surbahar), hãng CETO SELAF ? ORSTOM số W 751, Paris. 
Lời dẫn giải: Trần
Văn Khê.
 
· 1976: «Viet Nam: Nouvelle Musique Traditionnelle» (Việt Nam: Nhạc 
cổ truyền kiểu mới, với Trần Văn Khê, 
Trần Quang Hải, Trần thị Thủy Ngọc), hãng 
dĩa
OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng), Paris.
 
· 1978: «Viet Nam / Ca Trù and Quan Họ» hãng EMI ODEON số 
064-183113 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Atlas Musical, Venise, Ý 
đại lợi.
 
· 1979: «Hát chèo / Vietnamese Traditional Folk Theatre», hãng Philips số 
658 6035 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Sources Musicales, Amsterdam, Hoà
Lan.
 
· 1983: «Viet Nam, Instruments et ensembles de musique traditionnelle» 
(Việt Nam, Nhạc khí và Ban nhạc cổ truyền), hãng 
ARION số ARN 38783 (30cm /33 vòng),
Paris
 
· 1985: «Viet Nam, Court Theatre Music» (Việt Nam, nhạc tuồng 
hoàng giă, hãng EMI ?ODEON số 260 2821 (30cm / 33 vòng), collection 
Unesco: Musical Atlas
 
· 1985: «Musique du Vietnam» (Nhạc Việt Nam), hãng ACCT (Agence de 
Coopération Culturelle et Technique) số 18110 (30cm/33 vòng), Paris.
 
· 1990: «Viet Nam / Hat Cheo», hãng AUVIDIS số đ8022 (dĩa CD), 
collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa «Hat Cheo/Vietnamese 
Traditional Folk Theatre»
của hãng Philips số 6586035 (30cm/33 vòng). Một băng 
cassette của CD này được xuất bản cùng 
một lúc.
 
· 1991: «Viet Nam / Ca Tru & Quan Ho», hãng AUVIDIS đ8035 (dĩa CD), 
collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa cùng tên của 
hãng Emi-Odeon số 064-183113
(30cm / 33 vòng). Một băng cassette của CD này 
được xuất bản cùng một lúc.
 
· 1994: «Viet Nam: Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe», dĩa 
OCORA số C 580043 (dĩa CD), Paris. được giải 
Diapason dÓr. Tái bản của dĩa OCORA
số 68 (30cm/ 33 vòng, năm 1972)
 
· 1994: «Viet Nam / Poésie et Chants / Tran Van Khe & Tran Thi Thuy Ngoc» 
(Việt Nam / Ngâm thơ và Hát), hãng OCORA số C 560044 (dĩa 
CD), Paris.
 
· 1995: «Viet Nam / Le Dan Tranh: Musique d'Hier et d'Aujourd'hui» (Việt 
Nam / đàn Tranh: Nhạc quá khứ và hiện taị» 
với Nguyễn Thị Hải Phượng và Trần 
Văn
Khê, hãng OCORA số 560045 (dĩa CD), Paris. Grand Prix de la Critique 
Allemande (Giải thưởng Phê Bình đức), CHOC de la 
revue Le Monde de la Musique.
 
· 1996: «Viet Nam / Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe», hãng 
AUVIDIS số đ8049 (dĩa CD), collection Unesco, Paris.
 
· 1998: «Viet Nam / Improvisations/ Tran Van Khe, Tran Quang Hai, Tran Thi Thuy 
Ngoc», hãng OCORA số C 580070 (dĩa CD), Paris. Tái bản 
của dĩa OCORA số
558 512 (30cm / 33 vòng, năm 1976).
 
· 1997: «Viet Nam Ca Tru», hãng INEDIT số W 260070 (dĩa CD), Paris. 
Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.
 
· 1997: «Viet Nam: Tradition de Hue» (Việt Nam: Truyền thống 
Huế/ Nhạc cung đình và Nhạc thính phòng), hãng INEDIT 
số W 260075 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn
giải: Trần Văn Khê.
 
· 1998: « Viet Nam: Tradition du Sud» (Việt Nam: Truyền thống 
miền Nam), hãng AUVIDIS đ8070 (dĩa CD), collection Unesco, 
Paris. Tài liệu thu thanh và lời
dẫn giải: Trần Văn Khê & Nguyễn Hữu Ba.
 
· 1998: «Viet Nam: Musique bouđhique» (Việt Nam: Nhạc 
Phật giáo), hãng INEDIT số ??. (dĩa CD), Paris. Lời 
dẫn giải: Trần Văn Khê.
 
Phim
 
Một số phim do Trần Văn Khê thực hiện và 
một số phim về Trần Văn Khê
 
1. Một phim về kỹ thuật hát Dhrupad của Ấn 
độ điệu thức Raga Todi do hai anh em Dagar trình 
diễn, do trung tâm GRM (Groupe de Recherche Musicale của ông
Pierre Schaeffer), Paris, 1964. Một phim về cách lên dây đàn 
Tanpura Ấn độ và một phim về kỹ thuật 
đánh trống Pakhawaj và chu kỳ tiết tấu Chautala 
với
12 đơn vị.Một đoạn phim về cách 
đọc thơ và sau đó hát theo thể điệu 
Dhruapd và những thí dụ hát theo thể điệu Dhrupad, 
Kheyal và Thumrị
 
2. Phim «Histoire du riz», phần 1 về sắc tộc Ifugao 
ở Phi Luật Tân, phần 2 ở Việt Nam, phim nói 
bằng tiếng Pháp do Trần Văn Khê đọc. 
Thực hiện bởi Điier
Mauro và Hồ Thủy Tiện Sản xuất: Orchidees.
 
3. Phim «Dis moi, Philippines» do Trần Văn Khê đọc 
tiếng Pháp và do Eric Dazin thực hiện. Sản xuất: 
Orchidees.
 
Tài liệu băng thu thanh
 
1. Les Traditions musicales de l'Asie (Truyền thống âm nhạc Á 
châu ), nói tiếng Pháp
 
2. Le Dhrupad: un art vocal de l'Inde du Nord (Dhrupad: nghệ thuật 
hát Ấn độ miền Bắc), nói tiếng Pháp
 
3. Le Tabla et les cycles rythmiques dans la musique hindoustane (Trống 
Tabla và chu kỳ tiết tấu trong nhạc ấn theo 
trường phái hindoustane), nói tiếng
Pháp.
 
4. La musique arabe (Nhạc ả rạp), 6 tập, với 
sự cộng tác của Giáo sư Amnon Shiloah, nói tiếng 
Pháp.
 
Băng Video
 
Với sự cộng tác của cơ quan thính thị 
của trường đại học ParisĐauphine, INALCO 
(viện quốc gia ngôn ngữ và văn minh đông 
phương) đặc biệt với Guy Senelle,
Điier Tauin và Paul Hervé.
 
1. Le Sheng, orgue à bouche avec Cheng Shui Cheng (đàn Sanh Hầu 
với nhạc sĩ Cheng Shui Cheng). Quá trình lịch sử, 
cách chế tạo nhạc khí. Diễn giả: Trần
Văn Khệ Khái quát về «Sanh Hầu ở Á châu»
 
2. Le Quin, cithare chinoise à 7 cordes sans chevalets (đàn Cổ 
Cầm 7 dây không có nhạn với các nữ nhạc sĩ 
Liu, Yip Ming Mei). Quá trình lịch sử, kỹ thuật
đàn, một vài bài cổ điển của đàn tranh 
cổ cầm. Diễn giả: Trần Văn Khê.
 
3. Le «Dan Tranh», cithare vietnamienne à 16 cordes (đàn Tranh Việt 
Nam 16 dây ) với sự cộng tác của Trần Thị 
Thủy Ngọc. Quá trình lịch sử, miêu tả, kỹ
thuật đàn, một vài bản cổ truyền. Giải 
thích về điệu thức theo truyền thống 
miền Nam, đối chiếu với các loại đàn 
tranh Trung quốc, Nhựt Bổn, đại Hàn và
Mông Cổ.
 
4. Le «Dan Tranh», cùng một đề tài nhưng với bài 
bản khác. Với sự cộng tác của Trần 
Thị Thủy Ngọc. Trình bày và giải thích bằng 
tiếng Pháp: Trần Văn Khê,
thực hiện cho Trung tâm nghiên cứu nhạc đông 
Phương.
 
Tài liệu thu hình video tại Việt Nam:
 
1. Nhạc dân gian và tuồng ở Việt Nam năm 1982
 
· Lễ Giỗ Tổ Cải lương miền Nam ở 
TP HồChí Minh (29/09/1982)
· Trích đoạn tuồng «Thần nữ dựng ngũ 
linh kỳ»(29/09/1982)
· Nhạc dân gian vùng Huế (làng Xuân Long) (29/09/1982)
· Hát Tuồng, truyền thống Quảng Nạm Trang 
điểm, đọng tác, đấu võ (25/10/1982)
· Hát Tuồng, truyền thống Bình định: Nhạc, 
Diễn xuất, minh hoạ đọng tác, những cách 
ngâm do ông Võ Sĩ Thừa biểu diễn (27/10/1982)
· Tuồng dân gian Hát Bài chòị Minh hoạ và trích 
đoạn một vài tuồng cổ truyền (18/10/1982)
· Viếng thăm nữ nghệ sĩ nhân dân Phùng Há (tháng 
11, 1982)
 
Đời sống âm nhạc ở Việt Nam năm 1987
 
· Tiết tấu cổ truyền dùng trong múa và tân nhạc 
với Văn Thinh
· Sáng chế cây đờn độc huyền Lạc 
Cầm phối hợp chung với đàn tranh 12 dây và 2 
đàn kìm 4 dây do Mạc Tuyên sáng tạo Trình bày và thể 
nghiệm minh hoạ do các
nhạc sĩ và giáo sư nhạc của trường âm 
nhạc Hà nộị Giáo sư Lưu Hữu Phước 
và Trần Văn Khê dẫn giải (17/11/1987)
· Nhạc truyền thống và dân ca trong các lớp mẫu 
giáo ở Củ Chi, và trường Lê Lợi (VN) (27 /11/1987)
· Buổi hoà nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương, 
nhóm Tao đàn do Phạm Thúy Hoan, giáo sư trường Âm 
nhạc HCM xếp đặt đặc biệt cho Giáo 
sư Trần Văn Khê (29/11/1987)
· độc tấu đàn tranh do Hải Phượng 
đàn những bản cổ truyền và sáng tác mới 
của Phạm Thúy Hoan (30/11/1987)
· Nhóm đàn gõ Phù đổng tại Sài Gòn (04/12/1987)
· Lễ đặc biệt dành cho GS Trần Văn Khê do 3 
nhóm trẻ «Tiếng Hát QuêHương», «Tao đàn», «Bình 
Thạnh» (06/12/1987)
· Dạ Hội nhạc cổ truyền Việt Nam tại 
toà Tổng Lãnh Sự Pháp tại Việt Nam. Phần 
giới thiệu bằng tiếng Pháp: Trần Văn Khê 
(07/12/1987)
· Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại Montreal 
(Canada, ngày 19 và 27 tháng 4, 1987.
Thu hình video năm 1989:
· 5 chương trình nhạc truyền thống Việt Nam 
cho Viện nghiên cứu âm nhạc và múa được 
chiếu trên đài truyền hình tại Sài Gòn (5 tháng 3, 1989) 
với GS Trần
Văn Khê là diễn giả và với sự tham gia của 
nhạc sĩ Phạm Đức Thành (đàn bầu) và nhóm 
Phù đổng (nhạc cụ gõ).
· Buổi họp của nhóm nhà thơ Quỳnh Dao do nhà 
thơ Tôn Nữ Hỷ Khương tổ chức vinh danh 
GS Trần Văn Khê (2 tháng 9, 1989) (video NTSC)
· Lưu Hữu Phước, cuộc đời, sự 
nghiệp, nghệ thuật, thuyết trình bởi Trần 
Văn Khê với minh hoạ của nhiều nhóm nhạc 
sĩ tại nhà hát Thành phố (Sài Gòn) vào
hai ngày 11 và 12 tháng 9, 1989 (6 giờ phim video)
· Đêm Trung Thu do bà Phạm Thúy Hoan tổ chức và GS 
Trần Văn Khê trong vai tùy hứng Ông Tiên Già (phim video NTSC)
· Hội nghị quốc tế âm nhạc tại Osaka 
với bài tham luận bằng tiếng Anh «International 
Reception of Music in VietnameseTradition» (22/07/1990), tham gia bàn
tròn về «International Recepion in Music» (24 tháng 7, 1990) (phim video 
NTSC)
· Hội nghị về nhạc Á châu và Thái Bình Dương 
tại Kobe (Nhựt Bổn) (28 tháng 7, 1990) (phim video NTSC)
· Lễ 70 tuổi của GS Trần Văn Khê do hội các 
nhà thơ Gia đình Quỳnh Dao do nhà thơ nữ Tôn 
Nữ Hỷ Khương tổ chức tại Sài Gòn(14 
tháng 11, 1990) (phim video
NTSC)
· Giới thiệu nhạc đàn tài tử miền Nam do 
Trần Văn Khê thuyết trình do đài Truyền hình 
Cần Thơ thực hiện (16 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
· Đêm vinh danh GS Trần Văn Khê do nhóm Tiếng Hát Quê 
Hương tổ chức (16 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
· Buổi nói chuyện của GS Trần Văn Khê về các 
hoạt động của giáo sư ở hải ngoại 
tại Thùy Khương trang (22 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
· Kỷ niệm Nguyễn Tri Phương, ông cố 
ngoại của GS Trần Văn Khê tại phường 
Bửu Hội, tỉnh Biên Hoà (Đồng Nai ) (2 tháng 12, 
1990) (phim video NTSC)
· Chương trình âm nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê 
Hương cho đài truyền hình (1 và 2 tháng 12, 1990) (phim 
video NTSC)
 
Ngoài ra từ 1991 tới nay (2001) hàng trăm chương 
trình phim video đã được thực hiện tại 
Việt Nam.
 
Về băng thu thanh, GS Trần Văn Khê đã thu trên 600 
giờ nhạc cổ truyền Việt Nam về ca trù, hát 
chèo, hát tuồng, ca Huế, nhạc cung đình Huế, 
đàn tài tử miền
Nam rất hữu ích cho việc nghiên cứu lịch sử 
nhạc Việt sau này.
 
Sách mới
 
· 2000: "Văn Hoá với Âm Nhạc Dân Tộc", Nhà Xuất 
Bản Thanh Niên, 158 trang, Việt Nạm
 
Tiểu luận của GS Trần Văn Khê về cải 
lương, ca trù, Tán Tụng trong nhạc Phật giáo, nét 
nhạc dân tộc trong nhạc Lưu Hữu Phước, 
và một vài nhận xét về những
nghệ sĩ trẻ Phương Phương,
 
Nguyễn Thanh Hằng và Ea Solạ
 
· 2000: "Trần Văn Khê & Âm Nhạc Dân Tộc", Nhà Xuất 
Bản Trẻ, 432 trang, Việt Nam
 
Sách gồm có hai phần: hồi ký và bút ký ghi lại 
những kỷ niệm của tác giả ở Việt Nam 
và hải ngoại qua âm nhạc trong thời gian 50 năm, 
và khảo cứu với 10
bài viết về ngôn ngữ và âm nhạc Việt / Á Châu, 
dân ca Quan Họ, đàn đá Khánh Sơn, cải 
lương với ưu và nhược điểm, và liên 
hệ giữa âm nhạc và kiến trúc.
 
· 2001: "Hồi ký Trần Văn Khê: ướm mầm 
trổ nụ "tập 1, Nhà Xuất bản Trẻ, 303 trang, 
Việt Nam"
 
Giai đoạn đầu tiên của GS Trần Văn Khê 
từ lúc sơ sinh tới lúc đi vào kháng chiến. Lúc 
nhỏ học ở Pétrus Ký, gặp Xuân Diệu, Huy 
Cận, Phạm Duy, và hoạt động
lúc học trường thuốc ở Hà nội cùng với 
Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ. Có liên hệ 
với giai đoạn sơ khai của lịch sự tân 
nhạc Việt Nạm
 
· 2001: "Hồ i ký Trần Văn Khê: đất khách quê 
người", tập 2, Nhà Xuất Bản Trẻ, 287 trang, 
Việt Nam
 
Giai đoạn đi sang Pháp năm 1949 đưa tới 
việc đậu xong tiến sĩ âm nhạc và phát huy 
vốn cổ nhạc Việt ở hải ngoại (Pháp và 
các diễn đàn hội nghị quốc tế) cho
tới đầu thập niên 70.
 
Xin xem thêm về sự nghiệp âm nhạc của GS 
Trần Văn Khê:
 
Prof. Dr.Tran Van Khés Homepage:
 
www.philmultic.com/tran
 
Tôi sẽ phát triển thêm về khía cạnh nghiên cứu 
nhạc Á châu cũng như ảnh hưởng của GS 
Trần Văn Khê trong ngành dân tộc nhạc học 
(ethnomusicology) trên thế
giới trong một dịp khác.
 
Trần Quang Hải
(Paris/ Pháp)

       
---------------------------------
Fussy? Opinionated? Impossible to please? Perfect.  Join Yahoo!'s user panel 
and lay it on us.

Other related posts: