[SMCC] Tran Van Khe - Than The Va Su Nghiep Phan 1

Trần Văn Khê - Thân thế và sự nghiệp
I
 
--Trần Quang Hải-- Cái khó nhứt của tôi là viết 
về cha tôi, một người rất nổi tiếng 
trong giới nghiên cứu nhạc Việt Nam và Á châu. 
Nếu viết khen nhiều hơn
chê thì thiên hạ sẽ cho là thiên vị, là người 
trong nhà khen lẫn nhau. Dù ai có muốn nói gì, nghĩ gì, 
đối với tôi không quan trọng. Tôi viết về 
cha tôi
cũng như tôi đã viết về nhiều nhạc 
sĩ, ca sĩ khác. Tôi chỉ ghi những gì tôi biết 
về cha tôi với một cái nhìn khách quan tối đa. 
Nhân dịp Lễ Các Người Cha
(Father's Day), tôi ghi lại một số hình ảnh của 
một người cha, một người thầy và 
một nhà nghiên cứu âm nhạc đã mang lại cho 
nền âm nhạc Việt Nam những
hào quang rực rỡ chói sáng trên thế giới mà chưa 
có ai có thể làm được cho tới ngày hôm nay.
 
I- Thời thơ ấu
 
Đêm rằm tháng 6 âm lịch năm Tân Dậu (1921), chú bé 
Trần Văn Khê chào đời trong một gia đình 
bốn đời nhạc sĩ
 
Cụ cố Trần Quang Thọ trước kia là nhạc 
công Triều đình Huế. Ông nội là Trần Quang 
Diệm, tục danh là Ông Năm Diệm, biết đàn kìm, 
đàn tranh nhưng chuyên đàn
tỳ bà theo phong cách Thần kịnh Cha là Trần Quang 
Triều, mà giới tài tử trong Nam thường gọi 
là Ông Bảy Triều biết đờn nhiều cây, mà 
đặc biệt nhứt là đờn
độc huyền (đàn bầu), và đờn kìm 
(đàn nguyệt). Với đờn độc huyền, 
Ông Bảy Triều đã bắt chước tiếng 
đào thán, tiếng ca nỉ non, nũng nịu của 
một người con
gái, và ông đã chế ra cách lên dây đờn kìm mà ông 
gọi là «dây Tố Lan», thuộc hò nhì, lấy chữ 
xự làm hò mà dây Tồn cao bằng giọng hò trầm, 
thường dùng để
đờn Văn Thiên Tường và Tứ đại oán, 
mà giới tài tử trong Nam đều biết và còn sử 
dụng. Người cô thứ ba Bà Trần Ngọc 
Viện, tục gọi là Cô Ba Viện, trước dạy
nữ công tại trường áo tím, năm 1926 vì 
để tang Cụ Phan Châu Trinh nên bị sa thải, 
về Vĩnh Kim lập gánh hát đồng Nữ Ban, toàn 
diễn viên con gái, con nông
dân vùng Vĩnh Kim, đông Hoà, Long Hưng, đàn tranh rất 
hay và đã truyền ngón cho Trần Văn Khê trong những 
bài Nam Xuân, Nam Ai.
 
Cụ cố ngoại là Nguyễn Tri Phương, đã làm 
đến chức Khâm sai Kinh Lược Nam Kỳ, 
tuyệt thực tử tiết khi Pháp chiếm thành Hà 
Nội lúc Cụ đang giữ chức Tuyên sát
đồng sức đại thần miền Bắc. 
Ngoại tổ là Nguyễn Tri Túc, lúc sinh thời đã nuôi 
rất nhiều nhạc sĩ danh tiếng vùng Cần 
đước, Vĩnh Kim để cho hai người con
là Nguyễn Tri Lạc và Nguyễn Tri Khương học 
các thứ đờn. Ông Nguyễn Tri Khương, cậu 
thứ năm của Trần Văn Khê mà cũng là thầy 
dạy Trần Văn Khê đánh trống
nhạc lễ và trống hát bội, đã sáng tác nhiều 
bản nhạc theo truyền thống như «Yến 
tước tranh ngôn», «Phong xuy trịch liễu» mà Trần 
Văn Khê đã ghi âm vào
dĩa hát CD OCORA số C 56005. Mẹ là Nguyễn Thị Dành 
không được Cha cho học nhạc, nhưng 
thường thích nghe hoà nhạc trong gia đình.
 
Trần Văn Khê chẳng những được may 
mắn sanh trong một gia đình mà hai bên nội ngoại 
đều là nhạc sĩ, mà lại được «thai 
giaó» một cách rất đặc biệt. Nhà phía
bên nội ở gần lò heo, nên người cậu 
thứ năm lầOng Nguyễn Tri Khương đã xin 
phép nội tổ được đem mẹ Trần 
Văn Khê về dưỡng thai trong miếng vườn 
riêng có
trồng nhiều thứ hoa đẹp lại xa lò heo, không 
nghe tiếng heo kêu la khi bị thọc huyết. Mỗi ngày 
ông lại thổi sáo và đàn tranh cho người em gái là 
thân mẫu
Trần Văn Khê nghe mỗi sáng, trưa, chiều. Mắt 
không xem hát bội, không xem đá gà, chỉ thường 
đọc những sách như «Nhị Thập Tứ 
Hiếu», «Gia Huấn Cạ» Sau khi
chào đời, mỗi ngày Trần Văn Khê vẫn 
tiếp tục được nghe đàn sáo của cậu 
Năm Nguyễn Tri Khương, và cậu Mười 
Nguyễn Tri Ân cũng là người thổi ống tiêu 
rất
hay.
 
Sau khi cúng thôi nôi, được ông nội rước 
về ở gần Ông và hàng ngày nghe ông đờn tỳ 
bà, cha đờn độc huyền, cô đờn tranh, chú 
bé đã sống trong một không khí
đầy nhạc. Khách tới, ông nội đờn bài 
Lưu Thuỷ, để cho chú bé Trần Văn Khê 
nhảy cà tưng trong tay người cô hay người 
khách, cho thấy chú bé biết theo nhịp,
hễ ông đờn mau, thì nhảy mau, ông đờn 
chậm thì nhảy chậm.
 
Sáu tuổi đã biết đờn kìm (đàn nguyệt), 
đờn mấy bản dễ như «Lưu Thuỷ», 
«Bình Bánvăn», «Kim Tiền», «Long Hổ Hội».Bảy 
tuổi đã tập cho các chị diễn viên gánh
đồng Nữ Ban của cô Ba Viện hát bài «La Madelon» 
để chưng màn đầu cải lương. Tám 
tuổi biết đờn cò. Mười hai tuổi 
biết đờn tranh và đánh trống nhạc, biết
cùng với người anh họ, anh Ba Thuận, con của 
cậu Năm Khương chơi trò làm chai, xô giàng, khai xá, 
đề phang.
 
Nhưng Trần Văn Khê lại bị mồ côi rất 
sớm. Ba tuổi ông ngoại qua đời. Năm 
tuổi đến phiên ông nội. Mẹ mất năm 9 
tuổi, và năm sau 10 tuổi cha từ trần. Cô Ba
Viện nuôi ba anh em Trần Văn Khê, Trần Văn 
Trạch và Trần Ngọc Sương đến ngày khôn 
lớn. Tuy mới lên 10 tuổi, mà cô ba đã lo việc 
đào tạo con người cho cháụ
Trước hết phải biết đi xe đạp, 
phải đạp đi lần từ nhà ra ngả ba chim 
chim, rồi đi đến Xoài hột, rồi tới 
Mỹ Tho cách nhà 14 cây số. Phải biết lội. Hàng
ngày cô nhờ mấy anh em bà con tập cho lội lần 
đến lúc bỏ bập dừa lội sang sông, cô 
mới cho tắm sông. Rồi cho học võ Thiếu Lâm 
với anh Ba Thuận, với mấy
thày dạy võ trong vùng. Cho học để tự vệ, 
để khỏi sợ ma, mà không cho đi đấu. Cô 
lại mua cho một cây đờn kìm nhỏ vừa tay 
như bên Châu Âu con nít phải đờn
violon 2/4 để khỏi hư ngón. Lúc nào đờn 
chơi, cô cũng nghe và vừa sai là sửa liền.
 
II- Thời kỳ học tập
 
Sơ học
 
10 tuổi đậu Tiểu học. Sang Tam Bình Vĩnh Long 
nhờ người cô thứ năm nuôi. đến Tam Bình, 
Trần Văn Khê được học chữ Hán trong ba 
năm với Nhà thơ và nhà nho
Thượng Tân Thị và trong kỳ Sơ học năm 
1934 tại Vĩnh Long được đậu Sơ 
Học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có 
Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được 
đậu bằng
chữ Hán.
 
Trung học
 
Vào trường trung học Trương Vĩnh Ký năm 
1934, được cấp học bổng. Năm nào 
cũng đứng đầu lớp, và năm thứ 
tư học Pháp văn với ông Champion, được 
chấm đậu kỳ
thi tuyển một học sinh xuất sắc nhứt trong 
năm đệ tứ để được du 
lịch trên chiếc xe lửa xuyên Việt năm 1938 
từ Saigon đến Hà nội, ghé qua Phan Thiết, Tourane
(đà Nảng), Nha Trang, Huế. Thêm một cái may trong 
đời học sinh là được học Việt 
văn và Hán văn với Giáo sư Phạm Thiều.
 
Đậu tú tài phần nhứt năm 1940, thủ khoa 
phần nhì năm 1941, và nhờ vậy được 
Giải thưởng đặc biệt của đô 
đốc Decoux, để đi viếng cả 
nước Cao Miên (Kampuchea)
xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng đế 
Thiên đế Thích và trên đường vềViệt Nam, 
ghé Hà Tiện Nhờ thầy Phạm Thiều giới 
thiệu, được nhà thơ đông Hồ
tiếp đãi trong một tuần, dẫn đi xem 
thập cảnh mỗi nơi được nghe một 
bài thơ hay do thi sĩ đông Hồ đọc để 
vịnh cảnh đẹp.
 
Trong lúc học tại trường trung học 
Trương Vĩnh Ký, đã cùng Lưu Hữu 
Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của 
trường, và dàn nhạc của học sinh trong Câu 
lạc bộ
học sinh mang tên là Scola Club của Hội SAMIPIC 
(đức Trí Thể Dục Nam Kỳ). Trần Văn Khê 
chỉ huy hai dàn nhạc đó, vừa phối khí dàn 
nhạc dân tộc có chen đàn
Tây như mandoline, ghi-ta (guitar), vừa diễn trong khuôn 
khổ dàn nhạc Scola Club, những bài hát Tây loại «Les 
Gars de la Marine», «Sunset in Vienna», vv?làm
trưởng ban tổ chức lễ Ông Táo trước 
ngày lễ nghỉ vào dịp Tết Ta, Tổng thư ký 
hội Thể Thao, và giữ tủ sách của 
trường trong ba năm Tú Tài.
 
Được học bổng của chánh phủ thuộc 
địa, lại được bổng đặc 
biệt của hội SAMIPIC, Trần Văn Khê ra Hà Nội 
học y khoa.
 
Đại Học
 
Tại đại Học Hà Nội, cùng với các bạn 
Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai 
Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành 
Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt
động trong khuôn khổ của Tổng Hội Sinh Viên 
mà Chủ tịch là Dương đức Hiền và sau này 
là Phạm Biểu Tâm.
 
Trần Văn Khê đứng trong ban tổ chức đêm 
hát trường đại học hằng năm, không 
được học nhạc Tây phương bao giờ, 
chỉ học dương cầm (piano) vài giờ với 
Bình
Minh, con gái của đốc Công đức, sau tự 
học piano, mà dám phê bình các nhạc sĩ trong dàn nhạc 
trường đại học, mà phê bình đúng, nên 
được các nhạc sĩ cử
làm chỉ huy dàn nhạc trường đại học. 
Trần Văn Khê thừa dịp đó để có 
thể, ngoài những bản thông thường của 
nhạc Tây phương như «La Veuve Joyeuse», «Marche
Turque», «Monument Musical»,v.v. giới thiệu những bài hát 
thanh niên và lịch sử của Lưu Hữu Phước.
 
Trần Văn Khê và Lưu Hữu Phước tập cho 
học sinh trường Thành Nhân hát bài hát «Thiếu Sinh», các 
cô trường đồng Khánh hát bài «Thiếu Nữ 
Việt Nam», sinh viên
đại Học Hà Nội hát bài «La Marche des Etudiants», và 
đầu năm 1943, dựng ca nhạc kịch «Tục 
Luỵ» (Thơ của Thế Lữ, nhạc phổ 
Lưu Hữu Phước) với nữ sinh trường
đồng Khánh Hà Nội, hè 1943, dựng ca kịch 
«Tục Luỵ» với nữ sinh trường áo tím Nữ 
học đường (sau đổi thành trường Gia 
Long cho tới năm 1975 đổi thành trường
Nguyễn Thị Minh Khai).
 
Trần Văn Khê tham gia phong trào «Truyền bá quốc 
ngữ» trong ban của Bà Hoàng Xuân Hãn, «Truyền bá vệ 
sinh» của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các 
bạn
Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh 
Văn Tiểng tổ chức những chuyến «đi 
Hội đền Hùng», và đi viếng sông Bạch 
đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.
 
(còn tiếp)

 
---------------------------------
Never miss an email again!
Yahoo! Toolbar alerts you the instant new Mail arrives. Check it out.

Other related posts: