[SMCC] Re: Tieng Viet: De Ma Kho

Hi Vũ,

cái hiện tượng biến âm trong tiếng Việt thì có nhiều nhà ngôn ngữ nhìn nhận 
rồi. Và cũng nói thêm rằng rất nhiều ngôn ngữ khác cũng có hiện tượng biến âm 
xảy ra khi ngôn ngữ ấy trải dài hay trải rộng ở một vùng lảnh thổ lớn. Giọng 
Bắc Trung Nam của tiếng Việt hay giọng Anh, Mỹ, Úc của tiếng Anh là những ví dụ.

Khi xảy ra biến âm như béo và véo, nhéo, nhiều người cho rằng gốc của từ ấy 
xuất phát từ nơi có truyền thống cỗ hơn, ví dụ theo giọng miền Bắc mới đúng. 
Kiểu lập luận ấy cũng bị giới ngôn ngữ phê phán là hồ đồ. Họ đưa ra một kết 
luận tương đối hơn. Nếu có các từ đồng nghĩa và biến âm thì khả năng xuất phát 
từ nơi có truyền thống lâu đời cao hơn. Chỉ nói là khả năng cao hơn tức không 
phải tuyệt đối.

Cái vụ vợ hay bợ thì cũng có nhiều người phản đối lắm rồi. Anh nhớ hồi còn nhỏ, 
khi ông nội còn sống, có lần nghe lóm các cụ nói chuyện với nhau và cũng đã 
dùng chữ chồng là úp lên và vợ là bợ đỡ cái úp lên ấy. Nhưng đấy là lúc các cụ 
bông đùa với nhau chứ không phải để nói với tụi mình. Bởi vì nếu vợ là bợ thì 
tại cái nơi sử dụng phụ âm b thay cho v hẳn phải gọi vợ của họ là bợ. Nhưng chỗ 
ấy không gọi thì đúng là ông Hưng Quốc này xỉn quá rồi. 

Còn cái vụ nói nuốt chữ trong tiếng Anh mình biết rồi đấy vậy tiếng Việt có 
không? có nhiều người nhìn nhận là có và một số nhà ngôn ngữ chưa nhìn nhận. 
Cái chữ hăm lăm là hai mươi lăm cũng là một trường hợp biến âm xuất phát từ 
hiện tượng nuốt chữ. Biến âm trong nuốt chữ được dùng để rút gọn khi đàm thoại. 
Những từ trong tiếng Việt thường bị nuốt khi nói là từ: mà, thì, cho, để, mươi, 
đồng theo nghĩa là tiền đấy. Ví dụ, ngoài chợ khi mua bán họ nói giá một món 
hàng là hai mươi ừm. Cái ừm này chỉ ầm ừ trong cổ họng thôi. Anh mắng em thì 
nói tao à gặp mày phá lần nữa thì chết ứ tao đấy. chữ à thay cho mà và ứ thay 
cho với trong câu vừa rồi. 

Có lẽ ông Hưng Quốc này được học trường Tây và bị thực dân nhồi sọ kỹ lắm nên 
ông không tin rằng cái tiếng mẹ đẻ của ông có chung cội nguồn với các ngôn ngữ 
trong vùng như tiếng Mã lai, Thái, Quảng đông... Lúc nào ông tìm được một từ 
đồng âm, đồng nghĩa của tiếng mẹ đẻ và một thứ ngôn ngữ khác, ông cho ngay rằng 
từ ấy xuất phát từ thằng cha hàng xóm chứ không phải ở cái xó bếp nghèo hèn của 
mẹ ông. Ta thấy các số từ 1 đến 5 trong tiếng Việt giống tiếng cam bu chia 
nhưng đừng nói rằng nó xuất phát từ bên Miên nhé. Hãy nghĩ rằng vài ngàn năm 
trước, 2 ngôn ngữ ấy có chung một bà mẹ. Chính cái kiểu vọng ngoại của những 
người theo Tây học thời trước đã sản sinh ra cái ý tưởng hàm thinh là làm thinh.

Tran Ba Thien
tranbathien@xxxxxxxxx
  ----- Original Message ----- 
  From: Nguyen Hoang Bao Vu 
  To: smcc@xxxxxxxxxxxxx 
  Sent: Friday, September 14, 2007 6:32 AM
  Subject: [SMCC] Re: Tieng Viet: De Ma Kho


  mới đầu đọc bài này tôi thấy có cái gì hơi khó chịu về việc giải thích một số 
từ ngữ kiểu nói trại.
  Theo tôi thì kiểu nói trại là có chứ không hề không vị dụ như sóc Trăng Nha 
trang hoặc trong mâm ngũ quả thì dừa đu đủ xoài thể hiện cái kiểu trại ngầm của 
vừa, đủ xài  mà vừa thì người miền nam đọc là dừa đó thôi. riêng cái từ lặng 
thinh, làm thinh hay vợ chồng là trại của bợ chồng thì có lẽ coi lại. các từ 
bụ, thay cho vú, đại thể như thế thì nó là phương ngữ chứ không phải nói trại 
đâu.
  thôi thì để rõ thêm vấn đề chúng ta hãy tìm hiểu xem anh Nguyễn Hưng Quốc là 
ai đi rồi hãy tiếp tục thảo luận vì ở vn mình hay có cái vụ chuyên gia kỉ xảo 
điện ảnh lại bàn về kỉ xảo dùng ngôn ngữ hay chuyên viên ngôn ngữ lại bàn về 
thủ thuật trong Microsoft Word hoặc nghệ sĩ hài bình luận thể thao để rồi anh 
chuyên viên thể thao lại đi bàn về luật giao thông lắm
  Name: Nguyen Hoang Bao Vu
  Home: 210C Hiep Binh Chanh tenement. Thu Duc district Ho Chi Minh City Viet 
Nam
  Home Phone: 848-726-2214
  Cell-phone: 848-97-987-8854
  Yahoo ID: nguyenhoangbaovu
  Skype ID: nguyenhoangbaovu
  Blog: 360.yahoo.com/nguyenhoangbaovu

    ----- Original Message ----- 
    From: Tran Ba Thien 
    To: smcc@xxxxxxxxxxxxx 
    Sent: Thursday, September 13, 2007 10:54 PM
    Subject: [SMCC] Re: Tieng Viet: De Ma Kho


    Hi,

    còn chữ thình lình và bất thình lình thì sao đây? 

    Làm thinh là làm ra thinh lặng cho nên nó phải đồng nghĩa với nín thinh tức 
là nín để thinh lặng.

    Ông Nguyễn Hưng quốc này sao lại thấy hàng ngoại như hàm thinh lại quên mất 
các qui luật nuốt chữ trong tiếng Việt rùi nhỉ. đi khám ở bác sĩ thì nói khám 
bác sĩ. Thế nên làm cho thinh lặng thì nói làm thinh là theo luật nuốt chữ 
thôi. 

    Mấy phần sau ông viết hay đấy, nhưng phần đầu thì tui thấy không ổn. Mà có 
ổn hay không thì cũng vậy thôi. Bởi vì tui nói làm thinh kiểu này, ông thích 
giải thích kiểu khác thì có gì để mà phân xử đây?

    Chắc ông Hưng Quốc này nhậu cũng cỡ bạn Khánh Quốc bởi vì chỉ dân nhậu mới 
thích phân tích và thảo luận về từ ngữ tiếng Việt thôi. 
    Tran Ba Thien

    ha ha ha
    tranbathien@xxxxxxxxx
      ----- Original Message ----- 
      From: Nguyen Khanh Quoc 
      To: SMCC 
      Sent: Wednesday, September 12, 2007 10:34 PM
      Subject: [SMCC] Tieng Viet: De Ma Kho


      TIẾNG VIỆT: Tiếng Việt Dễ Mà Khó

      Tiếng Việt vừa dễ vừa khó, đúng hơn, dễ mà lại khó. Dễ đến độ rất hiếm 
người Việt Nam nào cảm thấy có nhu cầu phải sắm một cuốn Từ Điển Tiếng Việt 
trong
      nhà. Dễ đến độ bất cứ người nào trưởng thành ở Việt Nam cũng đều có thể 
tưởng là mình thông thái, và nếu muốn, đều có thể trở thànhà nhà văn được. Thế
      nhưng, chỉ cần, một lúc thảnh thơi nào đó, ngẫm nghĩ một chút về tiếng 
Việt, chúng ta bỗng thấy hình như không phải cái gì chúng ta cũng hiểu và có thể
      giải thích được.

      Trước đây, có lần, đọc cuốn Trong Cõi của Trần Quốc Vượng, một nhà nghiên 
cứu sử học, khảo cổ học và văn hoá dân gian nổi tiếng ở trong nước, tới đoạn ông
      bàn về hai chữ "làm thinh", tôi ngỡ đã tìm thấy một phát hiện quan trọng. 
Theo Trần Quốc Vượng, "thinh" là thanh, âm thanh, hay là tiếng ồn. "Nín thinh"
      là kiềm giữ tiếng động lại, là im lặng. Thế nhưng "làm thinh" lại không 
có nghĩa là gây nên tiếng động mà lại có nghĩa là... im lặng. Cũng giống như chữ
      "nín thinh". Trần Quốc Vượng xem đó như là một trong những biểu hiện của 
Phật tính trong ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam: "nín" và "làm" y như nhau; có và
      không y như nhau; ấm và lạnh cũng y như nhau (áo ấm và áo lạnh là một!); 
"đánh bại" và "đánh thắng" y như nhau. Quả là một thứ tiếng "sắc sắc không 
không",
      nói theo ngôn ngữ Phật giáo, hay "huyền đồng", nói theo ngôn ngữ của 
Trang Tử. (1)

      Thú thực, đọc những đoạn phân tích như thế, tôi cảm thấy mừng rỡ và thích 
thú vô hạn.

      Thế nhưng, chẳng bao lâu sau, đọc bài viết "Tìm nguồn gốc một số từ ngữ 
tiếng Việt qua các hiện tượng biến đổi ngữ âm" của Lê Trung Hoa, tôi lại bàng 
hoàng
      khám phá ra là chữ "làm thinh" thực chất chỉ là biến âm của chữ "hàm 
thinh" trong chữ Hán. "Hàm" có nghĩa là ngậm (như trong các từ: hàm ân, hàm 
oan, hàm
      tiếu, hàm huyết phún nhân...). "Hàm thinh" là ngậm âm thanh lại, không 
cho chúng phát ra, tức là không nói, tức là... im lặng. (2) Y như chữ "nín 
thinh".
      Nhưng sự giống nhau ở đây chỉ là sự giống nhau của hai từ đồng nghĩa, chứ 
chả có chút Phật tính hay Trang Tử tính gì trong đó cả.

      Tôi mới biết là mình mừng hụt.

      Một ví dụ khác: về hai chữ "vợ chồng".

      Trước đây, đã lâu lắm, đọc cuốn Ngôn Ngữ và Thân Xác của Nguyễn Văn 
Trung, tôi thấy tác giả giải thích hai chữ "vợ chồng" đại khái như sau: "Chồng" 
là chồng
      lên nhau, nằm lên nhau. Còn chữ "vợ"? Nguyễn Văn Trung chỉ viết bâng quơ, 
trong câu chú thích in cuối trang: "chữ vợ phải chăng là vơ, vớ, đọc trại đi,
      theo giọng nặng; nếu thế, chữ vợ chỉ thị việc quơ lấy quàng lên, vơ vào, 
phù hợp với việc chồng lên trong hành động luyến ái?" (tr. 40)

      Đọc đoạn ấy, tôi hơi ngờ ngờ, nhưng rồi cũng bỏ qua, không chú ý mấy. Gần 
đây, tôi sực nhớ lại vấn đề ấy khi đọc cuốn Phương Ngữ Bình Trị Thiên của Võ 
Xuân
      Trang. Tôi được biết là ở Bình Trị Thiên, thay vì nói cái "vai", người ta 
lại nói cái "bai"; thay vì nói đôi "vú", người ta lại nói đôi "bụ"; thay vì nói
      "vải", người ta lại nói "bải"; thay vì nói "vá" áo, người ta nói "bá" áo; 
thay vì nói "vả" (vào miệng) , người ta lại nói "bả" (vào miệng), v.v... Qua
      những sự hoán chuyển giữa hai phụ âm V và B như thế, tự dưng tôi nảy ra ý 
nghĩ: phải chăng nguyên uỷ của chữ "vợ" là... bợ? "Vợ chồng" thực ra là "bợ 
chồng"?

      Tôi càng tin vào giả thuyết trên khi nhớ lại, trong tiếng Việt hiện nay, 
có cả hàng trăm từ nguyên thuỷ khởi đầu bằng phụ âm B đã biến thành V như thế.
      Nhiều nhất là từ âm Hán Việt chuyển sang âm Việt. Ví dụ: trong chữ Hán, 
chữ "bái" sang tiếng Việt thành "vái"; chữ "bản" sang tiếng Việt thành "vốn" và
      "ván"; chữ "bích" sang tiếng Việt thành "vách"; chữ "biên" sang tiếng 
Việt thành "viền"; chữ "bố" sang tiếng Việt thành "vải"; chữ "bút" sang tiếng 
Việt
      thành "viết"; chữ "bà phạn" sang tiếng Việt thành "và cơm", v.v...

      Theo Nguyễn Tài Cẩn, trong cuốn Giáo Trình Lịch Sử Ngữ Ấm Tiếng Việt (sơ 
thảo), quá trình hoán chuyển từ B đến V kéo dài khá lâu cho nên hiện nay thỉnh
      thoảng cả hai biến thể B/V vẫn còn tồn tại song song với nhau, như: băm 
và vằm (thịt); be và ve (rượu hay thuốc); béo và véo; bíu và víu, v.v...

      Chúng ta biết là hiện tượng tồn tại song song của hai biến thể như thế 
không phải chỉ giới hạn trong hai phụ âm B và V. Theo nhiều nhà ngôn ngữ học, 
ngày
      xưa, từ khoảng thế kỷ 17 trở về trước, trong tiếng Việt có một số phụ âm 
đôi như BL (blăng, blời...), ML (mlầm) hay TL (tlánh). Đến khoảng thế kỷ 18, các
      phụ âm đôi ấy dần dần rụng mất. Điều đáng chú ý là khi những phụ âm đôi 
ấy rụng đi thì chúng lại tái sinh thành một số phụ âm khác nhau. Ví dụ phụ âm 
đôi
      TL sẽ biến thành TR hoặc L, do đó, hiện nay, chúng ta có một số chữ có 
hai cách phát âm và hai cách viết khác hẳn nhau, cùng tồn tại song song bên 
nhau,
      đó là các chữ tránh và lánh; trộ và lộ, trồi và lồi, trêu và lêu, trũng 
và lũng, trộn và lộn, trọn và lọn, trệch và lệch, trèo và leo, tràn và lan, 
v.v...
      Trong khi đó phụ âm đôi ML sẽ biến thành L hoặc NH, bởi vậy, chúng ta 
cũng có một số từ tương tự, như lầm và nhầm, lời và nhời, lẽ và nhẽ, lát và 
nhát,
      lạt và nhạt, lớn và nhớn.(3) Trong những cặp từ tương tự vừa kể, có một 
số chữ dần dần bị xem là phương ngữ hoặc là cách nói cổ, càng ngày càng ít nghe,
      như các chữ Nhớn, Nhời, và Nhẽ. Thay vào đó, chúng ta sẽ nói là lớn, lời 
và lẽ. Tuy nhiên, những chữ khác thì cho đến nay cũng vẫn còn tồn tại khá phổ
      biến, ví dụ chúng ta có thể nói là rượu lạt hoặc rượu nhạt; nói lầm lẫn 
hoặc nhầm lẫn; nói một lát dao hay một nhát dao đều được cả.

      Đặt trong toàn cảnh mối quan hệ giữa hai phụ âm B và V cũng như quá trình 
biến đổi phụ âm đầu như thế, chúng ta sẽ thấy ngay giả thuyết cho nguồn gốc của
      chữ "vợ" trong "vợ chồng" là "bợ" rất có khả năng gần với sự thật. "Vợ 
chồng" như thế, thực chất là "bợ chồng". "Bợ": từ dưới nâng lên; "chồng": từ 
trên
      úp xuống. Danh từ "bợ chồng" diễn tả tư thế thân mật giữa hai người nam 
nữ khi ăn ở với nhau. Cách gọi tên khá thật thà như thế kể cũng thú vị đấy chứ?

      Qua các trường hợp biến đổi từ "hàm thinh" thành "làm thinh" và từ "bợ 
chồng" thành "vợ chồng", chúng ta tiếp cận được một hiện tượng rất phổ biến 
trong
      tiếng Việt: hiện tượng biến âm. Biến âm không phải chỉ vì nói ngọng, kiểu 
"long lanh" thành "nong nanh" hay "nôn nao" thành "lôn lao" như một số người
      ở một số địa phương nào đó. Biến âm cũng không phải chỉ vì phương ngữ, 
kiểu "về" thành "dề" như ở miền Nam, hay "nhà" thành "dà" như ở một số làng 
huyện
      ở miền Trung, "trung trinh" thành "chung chinh" như ở miền Bắc. Điều đáng 
nói hơn là những hiện tượng biến âm xuất phát từ những quy luật nội tại của ngôn
      ngữ, những sự biến âm có mặt ở mọi vùng đất nước và nếu không tự giác và 
tốn công truy lục, chúng ta sẽ không thể nào tái hiện được nguyên dạng của nó.
      Chúng ta dễ ngỡ biến âm là chính âm. Dễ ngỡ nó tự nhiên là thế. Ví dụ, để 
diễn tả tâm sự buồn nào đó dần dần giảm nhẹ đi, chúng ta hay dùng chữ "nguôi
      ngoai". Đúng ra là "nguôi hoai". Trong các từ điển cổ, "hoai" có nghĩa là 
phai nhạt. Nghĩa ấy, cho đến bây giờ chúng ta vẫn dùng trong chữ "phân đã hoai".
      "Nguôi hoai" là từ ghép chỉ sự phai dần của một nỗi buồn, một niềm đau. 
Tương tự như vậy, chữ "yếu ớt" chúng ta hay dùng ngày nay là do chữ "yếu nớt".
      "ớt" thì không có nghĩa gì cả. Trong khi "nớt" có nghĩa là sinh thiếu 
tháng, vẫn còn dùng trong từ "non nớt". "Yếu nớt", do đó, có nghĩa là yếu đuối, 
là
      non nớt. Chữ "nói mớ" thật ra là biến âm của chữ "nói mơ", nói trong giấc 
mơ. "Nước miếng" thật ra là biến âm của "nước miệng", nước chảy ra từ miệng,
      cùng cách kết cấu với các chữ nước mắt hay nước mũi. Chữ "to tát" hiện 
nay tất cả các từ điển đều viết với chữ T ở cuối, TáT; nhưng trong Đại Nam quốc
      âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của thì lại viết chữ TáC kết thúc bằng C: "to 
tác", kèm theo lời định nghĩa là: thô kệch, lớn tác. Mà chúng ta đều biết chữ 
TáC
      có nghĩa là tuổi hay vóc dáng, như trong các từ tuổi tác, tuổi cao tác 
lớn, hay ngày xưa người ta nói bạn tác, tức bạn hữu; trang tác, tức cùng lứa, 
cùng
      tuổi với nhau. (4)

      Các con số đếm, nơi rất cần sự chính xác, cũng không thoát khỏi luật biến 
âm. Như số 1, chẳng hạn. Đứng một mình là một. Đứng trước các con số khác cũng
      là một. Nhưng khi đứng sau các con số khác, trừ số 10, nó lại biến thành 
"mốt": hai mươi mốt; ba mươi mốt, bốn mươi mốt. Những chữ "mốt" ấy chính là biến
      âm của "một". Nhưng không phải lúc nào "mốt" cũng có nghĩa là một: "Mốt" 
trong một trăm mốt hay trong một ngàn mốt, một triệu mốt... không phải là một.
      Con số 5 cũng vậy. Đứng một mình là năm. Đứng trước các số khác cũng là 
năm. Nhưng khi đứng sau các số, từ 1 đến 9, nó lại biến thành "lăm": mười lăm,
      hai mươi lăm... Con số hai mươi lăm ấy lại được biến âm thêm một lần nữa, 
thành hăm nhăm. Số ba mươi lăm cũng thường được biến âm thành băm nhăm. Từ số
      bốn mươi lăm trở lên thì chỉ có một cách rút gọn là bốn lăm; năm lăm, sáu 
lăm, bảy lăm, tám lăm, và chín lăm chứ không có kiểu biến âm như hăm nhăm và
      băm nhăm. Con số 10, cũng vậy. 10 là mười. Nhưng từ 20 trở lên thì "mười" 
biến thành "mươi": hai mươi, ba mươi, bốn mươi... Dấu huyền bị biến mất. Có 
điều,
      "mươi" không phải lúc nào cũng có nghĩa là mười. Trong nhóm từ "mươi cái 
áo", chẳng hạn, "mươi" lớn hơn hoặc nhỏ hơn mười: một con số phỏng định, ước 
chừng,
      bâng quơ.

      Con số còn thay đổi được, huống gì những từ khác. Như từ "không", chẳng 
hạn. Phủ định điều gì, người ta có thể nói "không", mà cũng có thể nói "hông", 
nói
      "khổng", nói "hổng". Xuất hiện trong câu nghi vấn, chữ "không" ấy có thể 
có thêm một biến âm khác là "hôn": "nghe hôn?" Chưa hết. Một số âm vị trong cụm
      "nghe hôn" ấy bị nuốt đi; "nghe hôn" biến thành "nghen", rồi đến lượt nó, 
"nghen" lại biến thành "nghén" hay bị rút gọn lần nữa, thành "nhen", rồi "hen",
      rồi "hén", rồi "nhe", v.v...

      Như vậy, biện pháp biến âm trở thành một biện pháp tạo từ. Đã có từ 
"vậy", chỉ cần thay dấu nặng bằng dấu huyền, chúng ta có từ mới: "vầy" (như vầy 
này!).
      Đã có từ "lui hui", người ta tạo thêm các chữ "lúi húi" rồi "lụi hụi". Đã 
có từ "chừ bự", người ta tạo thêm các từ mới: chư bư, chừ bư, chừ bử, chử bử,
      chứ bứ, chự bự. Đã có "trật lất", người ta tạo thêm: trết lết, trét lét, 
trớt lớt, trớt huớt... (5) Đã có từ "ngoại" vay mượn từ chữ Hán, chúng ta tạo
      thêm hay từ khác: "ngoài" để các quan hệ không gian cũng như thời gian và 
"ngoái" để chỉ quan hệ về thời gian: "năm ngoái".

      Biện pháp biến âm như vậy đã dẫn đến một hiện tượng khá thú vị trong 
tiếng Việt: hiện tượng từ tương tự, tức những từ hao hao gần nhau về cả ngữ âm 
lẫn
      ngữ nghĩa, chẳng hạn: các chữ bớt và ngớt; đớp, tợp, hớp và đợp; bẹp, 
xẹp, lép, khép, nép và nẹp; khan, khàn và khản; xẻ, chẻ, bẻ và xé; xoăn, xoắn, 
quăn
      và quắn; tụt, rụt và thụt; véo, nhéo, và béo; v.v...

      Các từ tương tự ấy có khi khác nhau về từ loại nhưng lại tương thông 
tương ứng với nhau về ý nghĩa, chẳng hạn: chúng ta có cái nẹp để kẹp, cái nêm 
để chêm,
      cái nan để đan, cái mõ để gõ, cái nệm để đệm, cái vú để bú; hoặc chúng ta 
cưa thì thành khứa, rung thì rụng, phân thì có từng phần, dựng thì đứng, thắt
      thì chặt, đập thì giập, dìm thì chìm, ép thì ẹp, dứt thì đứt, chia thì 
lìa, gạn thì cạn, v.v....

      Mới đây, đọc báo, không hiểu tại sao, tình cờ tôi lại chú ý đến chữ "đút" 
trong một câu văn không có gì đặc biệt: "Chị ấy đút vội lá thư vào túi quần..."
      Từ chữ "đút" ấy, tôi chợt liên tưởng đến chữ "rút": cả hai từ làm thành 
một cặp phản nghĩa: đút (vào) / rút (ra).

      Điều làm tôi ngạc nhiên là cả hai từ đều có phần vần giống nhau: "-ÚT". 
Chúng chỉ khác nhau ở phụ âm đầu mà thôi: một chữ bắt đầu bằng phụ âm "đ-" (đút)
      và một chữ bằng phụ âm "r-" (rút). Hơn nữa, cả từ "đút" lẫn từ "rút", tuy 
phản nghĩa, nhưng lại có một điểm giống nhau: cả hai đều ám chỉ sự di chuyển
      từ không gian này sang không gian khác. "Đút" cái gì vào túi hay "rút" 
cái gì từ túi ra cũng đều là sự chuyển động từ không gian trong túi đến không 
gian
      ngoài túi hoặc ngược lại.

      Tôi nghĩ ngay đến những động từ có vần "-ÚT" khác trong tiếng Việt và 
thấy có khá nhiều từ cũng có nghĩa tương tự. "Sút" là động tác đưa bóng vào 
lưới.
      "Hút" là động tác đưa nước hoặc không khí vào miệng. "Mút" cũng là động 
tác đưa cái gì vào miệng, nhưng khác "hút" ở chỗ vật thể được "mút" thường là 
cái
      gì đặc. "Trút" là đổ cái gì xuống. "Vút" là bay từ dưới lên trên. "Cút" 
là đi từ nơi này đến nơi khác do bị xua đuổi. "Nút" hay "gút" là cái gì chặn 
lại,
      phân làm hai không gian khác nhau.

      Thay dấu sắc (ÚT) bằng dấu nặng (ỤT), ý nghĩa chung ở trên vẫn không thay 
đổi. "Trụt" hay "tụt" là di chuyển từ trên xuống dưới. "Vụt" là di chuyển thật
      nhanh, thường là theo chiều ngang. "Lụt" là nước dâng lên quá một giới 
hạn không gian nào đó. "Cụt" là bị cắt ngang, không cho phát triển trong không 
gian.
      "Đụt" (mưa) là núp ở một không gian nào đó, nhỏ hơn, để tránh mưa ngoài 
trời, v.v...

      Nếu những động từ có vần "-ÚT" thường ám chỉ việc di chuyển (hoặc việc 
ngăn chận quá trình di chuyển ấy) giữa hai không gian thì những động từ có vần 
"-UN"
      lại ám chỉ việc dồn ứ lại thành cục trong một không gian nhất định nào 
đó, thường là có giới hạn. "ùn", "chùn", "dùn", hay "đùn" đều có nghĩa như thế.
      "Thun" hay "chun" cũng như thế, đều chỉ cái gì bị rút, bị co. "Cùn" là 
bẹt ra. "Hùn" là góp lại. "Vun" là gom vào. "Lún" hay "lụn" là bẹp xuống. Cả 
những
      chữ như "lùn" hay (cụt) "lủn", (ngắn) "ngủn", "lũn cũn"... cũng đều ám 
chỉ cái gì bị dồn nhỏ hay thu ngắn lại.

      Với cách phân tích như vậy, nếu đọc thật kỹ và thật chậm các cuốn từ điển 
tiếng Việt, chúng ta sẽ dễ thấy có khá nhiều khuôn vần hình như có một ý nghĩa
      chung. Chẳng hạn, phần lớn các động từ hay tính từ kết thúc bằng âm éT 
hay ẹT đều chỉ những động tác hay những vật thể hẹp, thấp, phẳng. "Kẹt" là mắc 
vào
      giữa hai vật gì; "chẹt" là bị cái gì ép lại. "Dẹt" là mỏng và phẳng; 
"tẹt" là dẹp xuống (kiểu mũi tẹt); "bét" là nát, dí sát xuống đất; "đét" là 
gầy, mỏng
      và lép. Những dộng từ kết thúc bằng âm EN thường chỉ các động tác đi qua 
một chỗ hẹp, một cách khó khăn, như: "chen", "chẹn", "chèn", "len", "men", 
"nghẽn",
      "nghẹn", "nén". Những từ láy có khuôn vần ỨC - ÔI thì chỉ những trạng 
thái khó chịu, như "tức tối", "bức bối", "bực bội", "nực nội", "nhức nhối", 
v.v...

      Những ví dụ vừa nêu cho thấy hai điều quan trọng:

      Thứ nhất, nếu chịu khó quan sát, chúng ta sẽ phát hiện trong những chữ 
quen thuộc chúng ta thường sử dụng hàng ngày ẩn giấu những quy luật bí ẩn lạ 
lùng.
      Tính chất bí ẩn ấy có thể nói là vô cùng vô tận, dẫu tìm kiếm cả đời cũng 
không hết được. Điều này khiến cho không ai có thể an tâm là mình am tường tiếng
      Việt. Ngay cả những nhà văn hay nhà thơ thuộc loại lừng lẫy nhất vẫn luôn 
luôn có cảm tưởng ngôn ngữ là một cái gì lạ lùng vô hạn.

      Thứ hai, vì có những quy luật, những điểm chung tiềm tàng giữa các chữ 
như vậy cho nên việc học tiếng Việt không quá khó khăn. Nói chung, người Việt 
Nam
      đều có khả năng đoán được ý nghĩa của phần lớn các chữ mới lạ họ gặp lần 
đầu. Lần đầu gặp chữ "thun lủn", chúng ta cũng hiểu ngay nó ám chỉ cái gì rất
      ngắn. Lý do là vì chúng ta liên tưởng ngay đến những chữ có vần "UN" vừa 
kể ở trên: cụt ngủn, ngắn ngủn, v.v... Lần đầu gặp chữ "dập dềnh", chúng ta cũng
      có thể đoán là nó ám chỉ một cái gì trồi lên trụt xuống do sự liên tưởng 
đến những chữ có khuôn vần tương tự: bấp bênh, gập ghềnh, khấp khểnh, tập tễnh,
      v.v...

      Nói tiếng Việt vừa dễ vừa khó là vì thế.
      :::Nguyễn Hưng Quốc:::

Other related posts: