[SMCC] Thuat Ngu Am Nhac

Thuật Ngữ Âm Nhạc
 
* Nhạc Cổ Điển:
Chúng ta thường nghĩ rằng nhạc cổ 
điển là những bản nhạc được sáng 
tác từ những thế kỷ 17, 18 do những nhà 
soạn nhạc vĩ đại như Mozart, Bethoven, Bach,
Tchaikovsky...và cái tên "cổ điển" là vì tính chất 
"xưa" của nó. Nhưng trong thế kỷ 20 và có thể 
cả thế kỷ 21 nữa, sẽ có thêm nhiều 
bản cổ điển hiện đại
của các nhà soạn nhạc có tiếng như Charles lves, 
Aaron Copland... bởi vì nhạc cổ điển là một 
thể loại nhạc châu Âu . Nhạc cổ điển 
thường phức tạp hơn các
loại nhạc khác với các hình thức thông 
thường là giao hưởng, thính phòng, nhạc kịch, 
nhạc cho kịch múa (ba lê). Các bản cổ điển 
bất hủ: Serenade (nhạc
chiều) , Thư gửi ELYSE, BẢN SONAT ÁNH TRĂNG, Ave 
Maria...
 
* Nhạc thính phòng giao hưởng:
Thính phòng và giao hưởng là hai thể loại nhạc anh 
em với nhau. Giao hưởng là thể loại nhạc 
soạn cho cả một dàn nhạc hòa tấu với qui mô 
lớn , tận dụng sự
phong phú đa dạng về hòa thanh, âm sắc, độ 
vang của nhiều nhạc cụ. Giao hưởng 
thường gồm 4 tốc độ tạo thành bốn 
chương tương phản nhưng vẫn có sự 
gắn bó
hữu cơ với nhau.
 
Thính phòng là nhạc giao hưởng ở qui mô nhỏ, 
thường được viết cho một nhóm nhạc 
công 3, 4 người chơi cùng nhau, hoặc có khi chỉ 
một người chơi chính trong
nhóm nhạc phụ họa. Trước đây nhạc thính 
phòng được coi là nhạc quí tộc và phục 
vụ số ít thính giả, vì thế nên có tên là "nhạc 
trong phòng". Một nhóm nhạc
sĩ 4 người chơi đàn dây (tứ tấu đàn 
dây) gồm 2 violon, 1 viola và cello là ví dụ tiêu biểu cho 
thể loại nhạc này. Trong nhạc thính phòng, mỗi 
nhạc cụ chơi
một phần riêng biệt
 
* Concerto:
Concerto là tác phẩm nhạc có tính chất kỹ xảo 
điêu luyện viết cho một (hoặc 2, 3) nhạc 
cụ diễn tấu với dàn nhạc và thường có 
hình thức liên khúc sonat.
Concerto thường gồm 3 chương nhạc: 
Chương 1 có nhịp điệu nhanh, chương 2 
chậm - trữ tình, chương 3 rất nhanh.
Concerto phát huy cao nhất hiệu quả âm nhạc của 
nhạc cụ độc tấu và tài năng kỳ 
diệu của nghệ sĩ độc tấu thông qua các 
đoạn Cadenza (đơn tấu không có sự
tham gia của dàn nhạc). Thông thường Concerto 
được viết cho 1 nhạc cụ nên thường 
có tên "Concerto viết cho violon..." "viết cho piano"... Ðôi khi 
cũng
gặp các bản Concerto có 1, 2 hoặc 4, 5 chương và 
những bản viết cho một nhóm nhạc cụ 
hoặc cho cả dàn nhạc.
 
* Giọng Tenor:
Tenor là giọng nam cao thể hiện trong tác phẩm ca 
nhạc. Cao độ của giọng hát thường 
được chia thành 6 1oại giọng theo cấp 
độ: 3 cho nam và 3 cho nữ. Sáu
loại giọng được sắp xếp theo cấp 
độ thấp dần như sau: Soprano (nữ cao) - cao 
nhất, mezzo sprano (nữ trung), contralto (nữ trầm), 
tenor (nam cao) , baritone
(nam trung) bass (nam trầm) - thấp nhất. Trong đó 
giọng nữ trầm tuy ngang với giọng nam cao 
nhưng rộng và mượt hơn. Ở nước ta 
giọng nữ cao tiểu biểu ở
NSND Lê Dung và nam trầm ở NSND Trần Hiếu.
 
* Opera:
Opera là tên của thể loại nhạc kịch ; vở 
kịch có lời được hát thành nhạc. Phần 
nhạc đệm được chơi bởi một 
ban nhạc, thậm chí là dàn nhạc. Khác với kịch
hát của nước ta thường hát theo các làn 
điệu dân ca và các bài hát có sẵn (ví dụ : dân ca 
kịch Huế, ca cải lương:..). Opera có giai 
điệu biến đổi theo
diễn biến, tình tiết của vở kịch , 
thường xuyên có những đoạn cao trào hay trầm 
lắng các nghệ sĩ Opera phải thuần thục 
về thanh nhạc có khi phải lên đến
giọng cao nhất cũng như tới giọng thấp 
nhất. Xưa nay, opera chỉ được biểu 
diễn phục vụ tầng lớp thượng lưu 
nên còn gọi là nhạc qúy tộc
 
* Các loại đàn guitar:
Cây đàn guitar chúng ta thường thấy là thuộc 
loại guitar gỗ (guitar thùng) có hộp cộng 
hưởng là thùng đàn. Tiếng của guitar gỗ 
rất hay và ấm nhưng độ vang
kém. Muốn chơi trong dàn nhạc người ta phải 
dùng tới guitar điện không còn thùng đàn nhưng 
tiếng được khuếch đại lên nhiều 
lần nhờ hệ thống tăng âm điện
tử. Guitar điện có hai loại chính : guitar lead (âm 
thanh cao, chói tai) và guitar bass (âm trầm). Guitar bass chỉ có 4 
dây cỡ lớn. Cây đàn guitar của
người Nam Bộ được khoét lõm xuống 
ở phần cần đàn giữa các phím để 
đệm cho ca vọng cổ. Khi chơi, nghệ sĩ 
chỉ việc bấm mạnh hay nhẹ hoặc rung ngón 
bấm là
có thể tạo ra luyến láy rất hợp với dân ca 
Nam Bộ.
Cây đàn guitar Hawaii (lục huyền Cầm Hạ Uy Di) tuy 
cũng là guitar điện nhưng các nhạc công dùng 
một thỏi kim loại bấm xuống dây thay vì dùng ngón 
tay. Khi
chơi người ta di chuyển thỏi kim loại này 
rất linh hoạt tạo cho tiếng đàn sự 
luyến láy rất đặc biệt. (Theo báo Hoa Học 
Trò - số 355).
 
* Nhạc Blues:
Cùng với nhạc Jazz, nhạc Blues có nguồn gốc 
từ những bài ca lao động, tôn giáo và dân ca của 
người Mỹ da đen được người 
Mỹ da đen khởi xướng vào đầu thế
kỷ 20. Nhạc Blues thường buồn, vì thế nên có 
tên Blues (buồn) Nhạc Jazz thường được 
biểu diễn bằng kèn, giai điệu réo rắt.
 
* Nhạc Country (đồng quê):
Trước hết, có thể hiểu ngay " nhạc Country" 
đó là nhạc đồng quê. Khi âm thanh và giai điệu 
nổi lên, người ta có thể hình dung đến 
những đồng cỏ bạc ngàn
xanh mướt - với những chàng cao bồi miền Tây 
lãng du. Nói đúng hơn, nhạc Country gắn liền 
với một nển văn hoá cao bồi mà ở Mỹ 
chính là quê hương. Nhạc
đồng quê ra đời ở Mỹ dựa trên 
nhạc thượng du miền Nam, chịu nhiều 
ảnh hưởng từ những hệ thống nhạc 
khác như Blues, Jazz. Loại nhạc này thường có giai 
điệu
trầm buồn. Nhạc Country phổ biến nhờ 
đài phát thanh Grand Ole Orpy bang Tennessee vào những năm 20.
 
Nguồn gốc của chúng xuất phát từ những 
người dân Anh nhập cư đến Mỹ, họ 
mang theo những ca khúc Ballad Celtic với phần lời theo 
lối kể chuyện mộc mạc, bình
dân. Nói khác đi, cội nguồn của nhạc nhạc 
country chính là những bài dân ca mà những người dân 
nhập cư từ Anh, Scotland, Iraland đã mang đến 
vùng núi Appalanchian
ở miền Nam Mỹ vào thế kỷ 18 - 19. Ðến 
thập niên 1930 - 1940, những bộ phim về cao bồi 
Viễn Tây đã làm dậy lên làn sóng nhạc country. Sau 
chiến tranh thế
giới thứ hai, ngành công nghiệp ghi âm bùng nổ, 
Nashville trở thành chiếc nôi của nhạc Country. Và 
đến những năm 60, dòng nhạc này thực sự 
ở đỉnh cao với
người khởi xướng là Bob Dylan và nhóm byrds. Dòng 
nhạc thanh cảnh, không cần nhiều nhạc cụ, 
đôi khi chỉ là một cây guitar; người ta vẫn 
say sưa hát. Nội
dung đơn giản với trung bình khoang từ trong 
một bài. Chủ đề thường gặp ở 
nhạc Country là những triết lý nhỏ về cuộc 
sống, cuộc đời của những người lao
động, sự cô đơn hay những niềm tin và 
các mối quan hệ trong gia đình.
 
Ngày nay, để đáp ứng thị hiếu của 
người nghe, các nhà sản xuất thường pha 
trộn giữa Country với nhạc Pop và Rock đã 
phần nào làm cho người nghe, nhất là
giới trẻ, khó có thể nhận và phân biệt từng 
loại nhạc (những bài hát của Shania Twain; Garth 
Brooks; Trisha Yearwood). Tuy nhiên, cũng phải nhờ họ mà 
nhạc
nhạc Country không bị rơi vào sự lãng quên.
 
* Nhạc Rock:
Còn gọi là Rock'N' Roll, do Elvis Presley khai sinh từ thập 
kỷ 50. Dựa trên tiết tấu của ca ba loại 
nhạc trước đó (Blues, Jazz, Country) nhưng Rock 
lại
có tiết tấu mạnh và nhanh, thường sử 
dụng các loại nhạc cụ điện tử. Rock 
chú ý tới hiệu ứng âm thanh của các nhạc cụ 
hơn là giọng hát. "Folk rock" (rock
dân ca) là loại rock nhẹ giống như "slow-rock", 
"soft-rock"... "Hard rock" là loại Rock nặng với tiết 
tấu dữ dội và âm thanh cực lớn, chát chúa. Cùng 
thể
loại này là "heavy rock", "heavy metal".
* Nhạc pop:
Là loại nhạc phổ biến (popular) hiện nay ở 
hầu hết các ca khúc như của Celine Dion, Madonna, Frank 
Sinatra, Brandy...Pop chú trọng nhiều hơn Rock về giai
điệu và nhịp điệu, âm thanh cũng mềm 
hơn.
 
* Nhạc Rap:
Là loại nhạc nói hoặc đọc thanh, 
được đệm bằng những nhịp 
mạnh, dồn dập. RAP vì thế chú ý đến 
nhịp hơn giai điệu. Do người Mỹ da 
đen sáng tạo, RAP thường
biểu hiện cho sức mạnh dữ dội, cuồng 
nhiệt và tạo cảm giác giận dữ, bạo lực
 
* Album và Single
Trong việc sử dụng các từ, người ta 
thường không quan tâm về mặt thuật ngữ và 
thường làm thay đổi các ý nghĩa bao hàm của 
nó. "Album" là một ví dụ tiêu
biểu. Một cuốn album hình chẳng hạn, gồm 
nhiều hình, nhưng ngày nay trong lĩnh vực âm nhạc 
chúng ta hiểu album là một đĩa LP hoặc một 
băng cassette. Một
album thường có đến từ 10 đến 12 ca khúc 
trên một mặt đĩa LP. Nếu việc thu âm trên 
đĩa hay băng cassette gồm một bộ hai 
đĩa LP hay hai băng cassette, người
ta sẽ gọi đây là "double album" hay "double cassette".
 
Cuối thập niên 40, khi các nhà khoa học phát minh ra 
chiếc đĩa nhựa tổng hợp, thị 
trường thế giới có hai loại đĩa: 
đĩa đơn hay còn gọi là đĩa single, 
chạy
với tốc độ 45 vòng/phút, chỉ ghi 
được 1 ca khúc, còn gọi là đĩa 45. Single 
thường được ghi âm ca khúc đang 
được công chúng yêu thích nhất hoặc nhà sản
xuất muốn giới thiệu đến công chúng 
một cái gì đó vô cùng đặc biệt.
 
Loại thứ hai là đĩa LP, chạy chậm với 
tốc độ 33 vòng/phút, chỉ ghi được 2 
mặt lên đến 40 phút, chứa từ 8 đến 10 
ca khúc, nên đĩa 33 này còn được gọi là
album. Theo thời gian, những chiếc đĩa nhựa 
phải nhường bước cho băng nhựa rồi 
đến thế hệ ghi âm kỹ thuật số, 
tức chiếc CD hiện thời. Hình thức single
một dạo thoái trào nay đã phục hồi trở 
lại, nhưng nhờ kỹ thuật tiên tiến, nội 
dung chiếc single thường chứa 2-3 bài.
 
* Recording (phương tiện ghi âm)
Recording bao gồm các đĩa băng cassette, đĩa 
compact hay bất kỳ "vật chứa" nào trên đó 
phần nhạc thu vào đều có thể được 
phát lại. Trải qua các thời kỳ
phát triển từ thế kỷ thứ 19 (chưa có 
nhạc cụ điện tử) đến thời 
đại kỹ thuật số hiện nay, Kỹ 
thuật ghi âm đã trở nên ngày càng đạt mức 
độ trung thực cao,
tương đương như khi đang nghe trình 
diễn trực tiếp. Ngày nay, các phương tiện thu 
âm được làm bằng nhiều chất liệu khác 
nhau, từ đĩa xilanh nhựa đặc đến
shellac (nhựa cánh kiến), đĩa vinyl (nhựa 
tổng hợp); các loại băng cũng được 
làm bằng nhiều chất liệu khác nhau, từ ô-xit, 
carbon, metal đến các loại băng
đĩa đọc bằng kỹ thuật số.
 
* Record Label (nhãn đĩa, công ty ghi âm)
Record Label là một mảnh giấy hình tròn được 
dán giữa đĩa nhạc, trên có ghi tên của hãng ghi âm 
hoặc tên của công ty đứng ra chịu trách 
nhiệm phát hành
đĩa. Ngoài ra trên mảnh giấy này bạn có thể 
thấy danh mục các ca khúc hoặc bản nhạc trên cùng 
mặt đĩa có dán label cũng như tên của ban 
nhạc hoặc tên người
biểu diễn các ca khúc hoặc bản nhạc này. Ngày 
này, Record Label được dùng với nghĩa mở 
rộng chỉ công ty phát hành đĩa nhạc.
 
* Side (mặt đĩa)
Trước khi sử dụng băng từ, nhạc 
thường được ghi trên đĩa shellac và sau 
đó là đĩa polyvinyl chloride. Ngoại trừ các 
đĩa xuất hiện thời kỳ đầu, 
nhạc thường
được ghi âm trên cả hai mặt đĩa (chúng ta 
thường gọi là mặt A và mặt B). Với các 
phương tiện ghi âm phổ biến, mặt A (side A) 
thường gồm các ca khúc chính
hoặc có chất lượng âm thanh hay hơn so với 
mặt B (side B hoặc flip side), mặc dù trong một 
số trường hợp, các ca khúc được ghi trên 
mặt B lại là các ca
khúc được mọi người ưa chuộng. 
Trong các album LP, các ca khúc ở mặt A và mặt B không có 
sự khác biệt nào về chất lượng.
 
* Soundtrack (nhạc phim)
Một soundtrack là phần âm nhạc trong mộy bộ phim 
được phát hành trong một album (băng cassette hay 
dĩa CD). Soundtrack gồm tất cả phần nhạc 
sử dụng trong
bộ phim. Về phương diện kỹ thuật, 
phần âm thanh trong phim được thu bao gồm lời 
đối thoại, âm nhạc và các hiệu quả âm thanh 
được gọi là soundtrack.
 
* Track (rãnh âm thanh)
Tất cả các phương tiện ghi âm (băng, 
đĩa ...) được miêu tả đều có liên 
quan đến track. Nội dung của các phương 
tiện như record (đĩa nhạc), cassette tape
(băng cassette) và CD (đĩa compact) là những bản 
nhạc được ghi âm và số bản nhạc trên 
mỗi vật chứa nhiều ít khác nhau tùy thuộc vào 
mỗi loại vật chứa.
Ngày nay, trong các lời hướng dẫn, giới 
thiệu một bài nhạc, việc mô tả các track riêng 
biệt còn được dùng làm một trong những tiêu 
chuẩn mới nhất để đánh
giá chất lượng một bài nhạc. "Track" còn có 
nghĩa là mỗi một loại âm thanh nào đó - nhạc 
cụ hay giọng hát - đã được thu âm trong quá 
trình sản xuất. Số
track (rãnh âm thanh) được thu trong các studio có thể 
thay đổi trong khoảng từ 16 đến 48 track. 
Số lượng này cùng với sự phân tách rạch ròi 
giữa các track
và các nhạc khí càng lớn có nghĩa là chất 
lượng âm thanh của bài nhạc sẽ càng cao. 
(Tổng hợp)
 
* Supergroup là gì?
"Supergroup" (siêu nhóm) là từ để chỉ nhóm nhạc 
với các thành viên từ các nhóm nhạc đã có tiếng 
tăm trước đó. Một trong những supergroup thành 
công nhất
là Cream với các thành viên Eric Clapton (nhóm John Mayall's 
Bluesbreakers), Jack Bruce và Ginger Baker (Graham Bond Organisation). Bên 
cạnh đó là nhóm
nhạc mà cái tên cũng đủ cho thấy tính chất 
supergroup, đó là Crosby, Stills, Nash & Young với David Crosby 
(nhóm Byrds), Stephen Stills (nhóm Buffalo Springfield),
Graham Nash (nhóm Hollies), Neil Young (cũng thuộc nhóm Buffalo 
Springfield). Tuy nhiên, hầu hết các supergroup đều 
không đạt được độ thành công mà các
thành viên đã có được trước đó. Traveling 
Wilburys với các "đại gia" như Roy Orbison, Bob Dylan, 
Tom Petty, George Harrison và Jeff Lynne không thể nào
sánh được với những gì mà các tên tuổi này 
tạo ra trước đó. Các thành viên càng nổi 
tiếng càng có "cái tôi" quá lớn, có phong cách riêng nên khó hòa 
hợp
lại. Supergroup đôi khi là sự lắp ghép khá khiêng 
cưỡng, là dự án tay trái của các thành viên khi nhóm 
nhạc chính của họ tạm ngưng hoạt 
động. Một số supergroup
quen thuộc là: Asia, Contraband, Liquid Tension Experiment, Oysterhead...
 
:::( Sưu Tầm ):::


 
---------------------------------
Expecting? Get great news right away with email Auto-Check.
Try the Yahoo! Mail Beta.

Other related posts: