[SMCC] Re: Tay Duong Gia To Bi Luc

Hi anh Mai và anh Thiện,
Gần đây em cũng theo dõi một số bài gửi lên từ anh Thiện và anh Mai về vấn đề 
tôn giáo. Em nghĩ, điều đó rất hay để mọi người cùng trao đổi, nhìn nhận về các 
vấn đề trong tôn giáo như vụ Thái Hà. Tuy nhiên, em đọc bài gửi của anh Mai Gia 
Tô Bí Lục thì em nhận thấy đây là một bài viết mang tính đả phá, thiếu tôn 
trọng cho một tôn giáo với những từ ngữ quá kém. Vì thế, nếu mọi người khi chọn 
gửi một bài lên diễn đàn, xin vui lòng để ý tới một điểm đó là tính tôn trọng.
Chúc sức khoẻ
Phúc
  ----- Original Message ----- 
  From: Tran Ba Thien 
  To: smcc@xxxxxxxxxxxxx 
  Sent: Monday, September 22, 2008 5:19 PM
  Subject: [SMCC] Re: Tay Duong Gia To Bi Luc


  hi anh Mai,

  có lẽ nhờ những văn bản này mà những vụ đàn áp giáo dân và bắt đạo đã được tổ 
chức rầm rộ thời thế kỷ 18 19. Bên Công giáo cho biết có hơn 100 ngàn giáo dân 
Việt đã bị giết. Người ta tạo ra sự dối trá để giết người và để người đương 
thời tin rằng họ hành xử đúng. Hậu quả của hành động sai trái này là mất nước 
vào tay giặc Pháp và sự sụp đỗ lối giáo dục phong kiến. Nếu mà cái văn bản này 
tiếp tục phổ biến ở thời nay thì yên tâm, kẻ dám phổ biến sẽ được mọi người 
tặng cho danh hiệu là kẻ điên hi hi hi

  có bạn nào tin vào cái văn bản này không? nếu có ai có thắc mắc xin cứ nói và 
ai biết thì trả lời dùm
  Tran Ba Thien
  tranbathien@xxxxxxxxx

    ----- Original Message ----- 
    From: Le Van Mai 
    To: smcc@xxxxxxxxxxxxx ; Le Van Mai 
    Sent: Monday, September 22, 2008 2:07 PM
    Subject: [SMCC] Tay Duong Gia To Bi Luc


    Tây Dương Gia Tô bí lục - Ghi chép những chuyện kín của đạo Gia Tô Tây Dương

     

    Nam Lục lão tẩu: Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hoà Đường 

    Hải Châu hậu tẩu: Nguyễn Bá Am, Trần Trình Hiên 

    Ngô Đức Thọ dịch và giới thiệu

     

    Quyển I 

     

    Nước Jiuđê, Jêsu ra đời 

    Được môn đồ Jêsu thêm kiêu ngạo 

     

    Ngày xưa ở phía đông [1] nước Tây Dương có nước gọi là Jiuđê [2]  . Nước ấy 
có một làng gọi là làng Bêtlehem [3]

     . Từ ngọn núi ngoài làng ấy thường bay ra một đám mây đỏ chở hai thầy trò 
con quỷ bộ dạng xem ra có vẻ đẹp đẽ đàng hoàng. Đời này qua đời khác người ta

    vẫn thấy thế, lâu ngày quen dần, không ai lấy làm sợ nữa. Đến thời Hêrôt [4]

     làm vua thì trong dân ở ngoài làng ấy có một cô gái tên là Maria [5]

     mồ côi từ năm lên mười tuổi, được ông trùm đạo trong làng đem về nuôi, đến 
mười sáu tuổi thì gả cho bác thợ mộc tên là Jiuse [6]

     . Khi hai người đã thành vợ thành chồng, thì thấy đám mây đỏ thường che 
toả phía bên trên nhà, cho đến khi Maria có mang thì không thấy thầy trò con quỷ

    ngồi trên đó nữa. 

     

    Sách Ngoại lục kể rằng: Ông trùm đạo muốn kén chồng cho Maria, hẹn với trai 
làng hễ ai chưa vợ đến ngày nọ mỗi người cầm theo một chiếc gậy tre tới nhà

    ông, ông sẽ cầu nguyện chúa Trời, chúa bảo gả cho ai thì sẽ cho hoa nở trên 
gậy người ấy. Trai làng đúng hẹn kéo đến, bỗng trên đầu gậy của Jiuse bật nở

    một bông hoa. Bấy giờ Jiuse đã hơn 110 tuổi, nhưng cũng là người chưa vợ, 
ông trùm đạo bèn gả Maria cho. 

     

    Thành vợ chồng rồi, Jiuse bảo Maria rằng: “Tôi muốn ở một mình để tu hành”. 
Maria nói: “Thiếp mồ côi từ nhỏ, cũng muốn giữ đạo đồng trinh” [7] . 

     

    Rồi đó, hai người đem tình thực nói với thầy cả. Được thầy cả cho phép, hai 
người bèn đến làm lễ thề trước bàn thờ chúa Trời. Thầy cả nói: “Khi làm lễ

    cưới, hai người đã yết kiến chúa Trời, hứa sẽ chăm sóc nuôi nấng nhau. Nếu 
không làm được như thế, về sau xảy ra chuyện gì thì tội to lắm đấy”. Hai người

    bèn viết mỗi người một tờ cam đoan, hứa sẽ chăm sóc nuôi nấng nhau, nhưng 
xin giữ riêng lòng trinh, gọi là “vợ chồng thiêng liêng”, nói “thiêng liêng”

    nghĩa là cùng ở chung với nhau nhưng không tơ hào tình chăn gối [8] . 

     

    Một hôm đã khuya, Jiuse đã đi nằm, Maria còn ngồi bên đèn đọc cuốn sách Sấm 
truyền [9] , thấy có câu: chúa Trời nói có con quỷ sẽ sinh làm vị thánh để

    cứu giúp người. Maria thầm cầu nguyện xin cho vị thánh ấy sớm ra đời. Bỗng 
thấy một người khắp mình đầy lông và có cánh như chim đi tới nói rằng: “Tôi

    là thiên sứ Gabơrien [10]

     ”. Maria kinh sợ, gọi Jiuse dậy. Vị thiên thần trịnh trọng nói: “Avơ Maria 
gratia plena [11]

     (đẹp thay bà Maria đầy ơn phúc), Chúa Dêu [12] sẽ ở cùng bà”. 

     

    Từ hôm đó Maria có mang. Bác thợ mộc Jiuse rất lo sợ nghĩ đến tờ cam đoan 
khi trước. Rồi một hôm nhân lúc đêm tối bỏ nhà chạy trốn. Nhưng vừa tới cổng

    làng thì thấy thiên thần hiện lên ngăn lại, bảo rằng: “Chớ chạy! Hãy ở lại 
chăm sóc chúa Dêu!”. Nói xong thiên thần biến khuất trong đêm tối. 

     

    Xem sách Ngoại lục ghi chép như trên thì đại khái người Tây Dương muốn cho 
Jêsu trở thành con chúa Trời, cho nên phải đặt ra câu chuyện Jiuse đã quá già

    để đánh tan lòng ngờ vực của người đời về sự vợ chồng Jiuse không ăn nằm 
với nhau. Bởi vậy cái thuyết ấy rất mập mờ, gượng ép, thật nực cười. Cho đến 
ngày

    nay vẫn còn giữ kín, chỉ thấy bắt đầu bằng lễ thiên thần báo tin [13] mà 
thôi. 

     

    Jiuse nhà nghèo, phải lấy nghề thợ mộc nuôi thân, vợ khâu vá thuê, nhà 
không có phải đi ở nhờ. Bấy giờ người dì của Maria là bà Isave [14]

     từ khi còn trẻ không sinh đẻ lần nào, năm ấy tuổi đã năm mươi bỗng thấy có 
mang. Maria đến thăm dì, bà Isave nói thật việc ấy cho nghe. Maria nói mình

    cũng bất ngờ có mang như thế [15] . 

     

    Maria có mang đủ tháng, sắp đến ngày ở cữ, bác thợ mộc Jiuse xin nhà chủ 
cho vợ được ở lại sinh nở tại nhà, nhưng chủ nhà không cho. Đến khi Maria trở

    dạ sắp đẻ, nhà chủ tức giận chửi bới thậm tệ. Lúc ấy đang giữa đêm khuya 
rét buốt, Jiuse đành phải đưa vợ vào đẻ trong lũng núi ở ngoài làng Bêtlêhem.

    Lũng núi này khá rộng, người ta phần nhiều buộc lừa ngựa ở đấy. Maria nằm 
sinh trong chiếc máng bỏ cỏ cho lừa ngựa ăn. Một đứa bé khỏe mạnh, xinh xắn ra

    đời, cất tiếng khóc vang động như sấm [16]

     . Chim bầy bỗng cất tiếng hót vang, lừa ngựa cũng vùng cả dậy 

    [17] . 

     

    Nay xem hai sách Ngoại lục và Bí lục thì thấy nói rằng: khi Maria vào lũng 
núi đã thấy một cậu bé nằm trong máng cỏ rồi. Lại nói rằng lúc bấy giờ vang

    lên muôn lời ca hát chúc mừng Thiên Chúa giáng sinh. Lại nói lừa ngựa xúm 
đến hà hơi sưởi ấm cho cậu bé. Lại nói vợ chồng Jiuse bế cậu bé lên mà nói rằng:

    “Sao Ngài không đến chốn lâu đài mà lại tìm đến cửa kẻ nghèo hèn chúng 
tôi?” [18]

     . 

     

    Cùng ngày hôm ấy, bà Isave cũng sinh con trai [19]

     dáng mạo cũng tựa như con của Maria, về sau đặt tên là Juan [20] . 

     

    Sách Ngoại lục nói: Năm ấy vua ba nước phương Đông là nước Thiên Trúc, nước 
ManSa và nước NhuGia [21]

     nghe tin Thiên Chúa giáng sinh đều đem phẩm vật địa phương tìm sang yết 
kiến. Vì vậy ngày nay, sau lễ Truyền tin tiếp đến là lễ Ba vua. Nguyên là người

    Tây Dương biết nước Thiên Trúc thờ đạo Phật cho nên mới đặt ra những lời lẽ 
trịch thượng như vậy. 

     

    Lại ở sách Giảng lục có nói: Bác thợ mộc Jiuse thấy vua nước ManSa mặt mũi 
xấu xí bèn ngăn lại không cho vào. Nhưng đã là vua nước ManSa thì kẻ thợ mộc

    nghèo hèn kia làm sao mà dám ngăn cản? Huống chi còn nói vua nước ManSa 
phải quỳ lạy Jiuse! 

     

    Khi đứa bé chẵn năm, vợ chồng Jiuse đem một đôi chim bồ cầu làm lễ đến biếu 
thầy cả, xin đến ngày hôm sau làm lễ xin chúa Trời đặt tên cho con. Thầy cả

    nhận lời và thấy đứa bé xinh đẹp, thầy bèn đặt cho tên là Jêsu [22]

     , theo tiếng nước ấy có nghĩa là thông minh tốt đẹp. Vì vậy, ngày nay có 
cuộc lễ gọi là lễ Mệnh danh (đặt tên). 

     

    Năm ấy quan chiêm tinh nước Jiuđê tâu vua rằng: “Nay trong dân gian có con 
quỷ mới sinh làm người. Mười lăm năm nữa nó sẽ làm ngu muội huyễn hoặc dân 
chúng,

    kẻ a tòng sẽ đông đến mấy vạn người”. Vua nước Jiuđê lấy làm lo, sai quân 
lính ngày ngày đi vây xét các làng, hễ thấy đứa bé nào mặt vuông tai lớn vào

    trạc tuổi ấy thì bắt giết đi. Dân chúng ai nấy đều oán ghét căm giận, giặc 
giã nổi lên khắp nơi. 

     

    Thế là, vợ chồng Jiuse phải bế Jêsu chạy trốn sang nước Êgiptô 

    [23] . Sách Giảng lục nói: Khi vợ chồng Jiuse đi trốn vào tháng Sáu, lúa 
ngoài đồng đang xanh. Quan quân đuổi theo đến nơi thì thấy một đám ruộng bỗng 
nhiên

    lúa chín vàng. Bọn chúng hỏi người đàn bà đang gặt lúa ở đó có thấy ai bế 
con chạy qua không? Người đàn bà ấy đáp: “Có thấy từ dạo mới đi cấy”. Quan quân

    bảo nhau: “Từ khi cấy đến khi gặt, lâu quá rồi!”, bèn không đuổi theo nữa, 
nhờ vậy cả nhà Jiuse thoát nạn. 

     

    Một hôm Maria bế Jêsu đi xem lễ ở nhà thờ, thầy cả Ximêôn [24]

     trông thấy, bế Jêsu mà nói rằng: “Cậu bé xinh quá! Nhưng xem ra không phải 
là người ở thế gian. Đời cậu này rồi chỉ vì biện thuyết mà phải chuốc lấy tai

    vạ đây. Đến năm 33 tuổi, thế nào cha mẹ cũng phải một phen nguy khốn”. Do 
sự tích này cho nên ngày nay có cuộc lễ gọi là lễ Nhập điện (Đức Bà vào đền).

     

     

    Sách Ngoại lục nói: “Thầy cả Ximêôn đã biết trước rằng sau này sẽ có con 
chúa Trời giáng sinh, cầu mong mình sẽ được gặp con chúa. Đêm ấy thấy có điềm

    lạ, sáng hôm sau thầy ra đứng chờ ở cửa nhà thờ, vừa thấy Jêsu liền chạy 
tới bế và reo to: “Đúng là con chúa Trời đây!”, rồi quỳ xuống mà vái lạy”. 

     

    Jêsu cùng sống với cha mẹ ở nước Êgiptô, đến năm lên 8 tuổi bắt đầu trổ tài 
lạ khiến cho người ta phải kính sợ. Một hôm Jêsu lấy đồ nghề thợ mộc của cha

    mầy mò đục đẽo một con thú bằng gỗ, dưới chân có lắp bánh xe, chuyển động 
đi lại được theo lời hô gọi của người, ai nấy đều lấy làm kinh lạ. Từ đó, Jêsu

    ngày càng tỏ ra thông minh lanh lợi, không cần phải học mà cái gì cũng 
biết. Từ đó, Jêsu bắt đầu lòe bịp lừa người. Về sau thì y làm nhiều sự việc kỳ 
dị

    không tài nào ghi chép xuể. 

     

    Năm Jêsu lên 12 tuổi, nhân có ngày lễ lớn, Jêsu cùng với cha mẹ đi lễ ở nhà 
thờ. Tan lễ, mọi người ra về cả, Jêsu không nói cho cha mẹ biết, một mình vào

    chơi nhà riêng của thầy cả. Thầy cả thấy Jêsu còn nhỏ bèn hỏi xem đã học 
những sách nào, Jêsu liền đáp: “Tôi đã đọc biết hết mọi sách kinh truyện [25]

     , thuộc hết sử ký các đời”. Thầy cả và các môn đồ lớn xúm lại cùng hỏi thử 
Jêsu. Jêsu ngồi chính giữa đối đáp chan chát [26]

     , nhưng khi hỏi tên cha mẹ thì không chịu nói. Thầy cả hỏi học với thầy 
nào, Jêsu đáp: “Có trời ắt là có ta, cần gì phải học mới biết như người 
thường?”.

    Thầy cả thấy lời lẽ ngạo ngược lấy làm ghét, bảo rằng: “Thằng bé này vô lễ 
lắm!”. 

     

    Bấy giờ cha mẹ Jêsu thấy con mất hút không biết đi đâu, vội chia nhau đi 
tìm, gặp ai cũng hỏi có thấy con mình hay không. Jiuse vừa đi vừa gọi to: “Con

    đâu? Mau ra cùng với bố mẹ!”. Nghe người ta nói có thằng bé lạ đang ở trong 
nhà thầy cả, khi ấy cha mẹ mới tìm được Jêsu, xin phép thầy cả cho đón về [27]

    . 

     

    Về đến nhà, Jêsu bảo bố mẹ rằng: “Tôi đây là con chúa Trời, sinh xuống trần 
gian để giảng đạo, nhờ ơn chăm nuôi của ông bà, nay xin lấy đạo Cha để tôn

    thờ ông, xin lấy đạo Mẹ để tôn thờ bà” [28]

     . Jêsu và Maria hai người thấy mình là kẻ nghèo hèn, không dám nhận. Jêsu 
lấy có phải ngồi cho nghiêm trang để làm lễ, rồi lên ngồi giữa giường cao, gọi

    Jiuse là Ông Già, gọi Maria là Bà Già. Thực ra thì khi ấy cả hai cha mẹ vẫn 
ngồi giữa đất, Jêsu nào có vái lạy cung kính tôn thờ gì đâu! 

     

    Mười bốn tuổi, Jêsu theo bố mẹ trở về nước Jiuđê sống ở làng Nagiarét [29]

     , nói rằng từ đây dứt hẳn lòng dục để theo việc tu hành, sống độc thân 
không lấy vợ. Rồi đó, Jêsu tự cắt đầu ngọc hành để tỏ cho mọi người tin. Bà 
Maria

    thương xót, bỏ ăn mất hai ngày, nhưng Jêsu vẫn không chịu đổi ý [30] . 

     

    Tới năm 18 tuổi thì phép kỳ, thuốc lạ của Jêsu đã có nhiều lắm. Nào là khi 
đi thì có mây che trên đầu, chữa cho người ốm chỉ cần chỉ trỏ lập tức khỏi bệnh.

    Jiuse không dám nhận là “bố già” nữa, chỉ xin được làm môn đồ mà thôi. Jêsu 
cũng bằng lòng như thế. Từ đó Jêsu đi khắp hết miền này sang miền khác để chữa

    bệnh cứu người, dân chúng đồn nhau lấy làm kinh lạ. Phàm được tặng biếu vật 
gì, Jêsu cũng đem chia phát cho người nghèo khổ, khiến họ phải mang ơn mình,

    nhờ vậy mà thu phục được 12 môn đồ. Đó là Phêrô, Jiuse, Damian, Nicôsamô, 
Juan, Giacôbê, Philipphê, Ximông [31]

     . Môn đồ thứ 12 là Jiuđa, Nicôsamô là hai gã thầy lang nghèo khó. 
Philipphê là mộ tên kẻ cướp. Juan là con bà Isave, dì của mẹ Jêsu, v.v, Bọn họ 
đều là

    những người hàm ơn Jêsu hoặc là hâm mộ phép thuật kỳ lạ của Jêsu cho nên 
chịu theo làm môn đồ. Còn Jiuđa nguyên là một tên du đãng ở làng Ghêtsêmanê [32]

     . Jêsu từ nhỏ đã là kẻ xấc xược, ngang ngạnh, nay có được chừng ấy môn đồ, 
lại càng càn rỡ chẳng coi ai ra gì, tự xưng là thầy cả mà chẳng phải do dân

    làng bầu ra [33] . 

     

    Đến đâu Jêsu bày bái vị thờ chúa Trời đến đó, từ đứng ra làm lễ, dõng dạc 
nói rằng: “Nước ta từ xưa tới nay thờ phụng chúa Trời, mà chưa ai biết chúa Trời

    ra sao, chỉ riêng mình ta được biết rõ. Chúa Trời chỉ một nhưng có ba ngôi: 
ngôi thứ nhất là ngôi đức chúa Cha, ngôi thứ nhì là ngôi đức chúa Con, ngôi

    thứ ba là ngôi chúa Phiritô Santô [34]

     . Ba mà là một vậy. Ở dưới đất có địa ngục, nơi đó chúa Trời nuôi quỷ dữ 
để trừng phạt tội nhân trong thiên hạ. Phàm người ta kiếp trước làm những điều

    ác gì, quỷ đều có sổ ghi chép hết, dẫu bé mọn cũng không bỏ sót tội nào. 
Nay ta vâng mệnh đức chúa Trời dạy cho các ngươi, ai biết theo phép của ta thì

    sau khi chết sẽ được lên thiên đường. Nếu không, Chúa ngôi Ba sẽ phạt đày 
xuống địa ngục, mãi mãi chịu cực hình”. Nghe Jêsu nói như vậy, chẳng ai không

    cho là lạ lùng [35] . 

     

    Jêsu lại làm ra hai bổn kinh gọi là kinh Bởi trời [36] và kinh Lạy cha 

    [37]

     , và làm ra chuỗi hạt gọi là chuỗi con niệm để cho những kẻ ngu dốt sử 
dụng khi làm lễ đọc kinh: cứ đọc xong một câu hai lần đếm một hạt con niệm, hết

    mười hạt là xong một chầu kinh. Nay theo tiếng nước ta thì kinh Bởi trời 
niệm rằng: “Chúng tôi lạy thiên địa chân Chúa ở trên trời là cha chúng tôi, 
chúng

    tôi nguyện danh cha cả sáng, nước cha [38]

     trị đến vâng ý cha, làm dưới đất bằng trên trời vậy…”. kinh Lạy cha niệm 
rằng: “Chúng tôi xin cha rằng cho chúng tôi thường nhật dùng đủ, hãy tha tội cho

    chúng tôi, bằng chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi vậy. Xin chớ để chúng 
tôi sa chưng (= vào) cám dỗ, biện trợ (= phân biệt giúp) chúng tôi chưng dự

    dữ, Amen!”. Về sau người Tây Dương thay đổi cách đọc, dụng ý sâu xa của 
việc ấy xin xem ở phần sau [39] . 

     

    Jêsu lại làm ra kinh Mười điều răn, bắt những kẻ ngu đần làm theo những lời 
răn ấy, lấy đó làm cái đích để tự xét tội lỗi của mình, ai phạm điều gì thì

    phải tự xưng ra, gọi là “cầu phép chúa Trời” [40] . 

     

    Khi làm lễ, Jêsu nói: “chúa Trời sinh ra người, coi linh hồn là cao quý. 
Những ai theo đạo thì sau khi chết chúa Trời sẽ cho linh hồn người ấy được lên

    thiên đàng. Còn thể xác thì chỉ là chất đất, sau khi chết lâu ngày cũng 
biến thành cát bụi cả, ấy là vật thấp hèn không có gì đáng quý mà luyến tiếc. 
Người

    ta tuy sống lâu hay chết non có khác nhau, nhưng cũng đều không tránh khỏi 
một lần chết. Còn phải mang phần xác ngày này là còn ưu phiền đau khổ ngày ấy.

    Cái phần xác như thế có để làm gì đâu?”. Sau này đạo Gia Tô Tây Dương nói 
“phần xác là cục đất hèn mọn”, tức là gốc ở đó. 

     

    Jêsu lại nói: “Chúa Trời đã hạn định cho trời đất phải có lúc chung tận, từ 
khi tạo thiên lập địa cho đến lúc chung tận gọi là tận thế. Đến ngày ấy, trời

    sẽ đổ mưa dầu, hạn lửa, người và mọi súc vật đều phải chết hết. Lúc ấy giữa 
trời hiện lên một thiên thần cầm chiếc ống sắt mà thổi lửa xuống, thiêu cháy

    hết nhân gian, chỉ còn lại trên trời dưới đất mà thôi” [41]

     . Bấy giờ tất cả người chết, không kể là mới chết hay chết đã lâu, đều 
hiện lên thành hình người. Thiên thần cầm một chiếc cân lớn để cân từng người 
xem

    phúc, tội nặng nhẹ ra sao. Người phúc nhiều được ban thưởng áo mũ, cho lên 
thiên đường. Kẻ nào lắm tội bị ném xuống địa ngục cho lửa thiêu hoặc làm mồi

    cho rắn rết ma quỷ ăn. Những ai bên thiện bên ác đều một nửa thì đem lên 
giữa lưng chừng trời để chờ phán xét”. 

     

    Môn đồ của Jêsu nghe xong kinh sợ hỏi rằng: “Cái ngày tận thế ấy còn bao 
lâu nữa, thầy có biết trước chăng?”. Jêsu đáp: “Chỉ có cha ta mới biết được, còn

    ta thì không biết, mà nếu biết cũng không thể tiết lộ được [42]

     . Nhưng các ngươi cần phải biết rằng: Hễ khi nào thấy mặt trăng mặt trời 
bỗng dưng tối sầm, sao rơi đất chuyển thì đó là điềm báo hiệu ngày tận thế”. 

     

    Jêsu lại nói: “Khi tất cả mọi người đều chết hết thì gọi là tận thế chung, 
nếu chỉ một người chết thì gọi là tận thế riêng. Dịch bệnh lớn thì gọi là tiểu

    tận thế. Ta xem tượng trời thì thấy không đầy ba mươi năm nữa”. 

     

    Những kẻ ngu ngốc nghe nói vậy thì kinh hoàng lo sợ, mặt xanh như chàm, 
tranh nhau xin theo đạo của Jêsu. Thuyết tận thế của đạo Gia Tô Tây Dương bắt 
đầu

    từ đó. Về sau người Tây Dương vẽ bức ảnh “Ngày phán xét’ cũng là gốc ở đấy. 

     

    Xưa ở nước Êgiptô có người thợ mộc tên là Nôê có tài đóng thuyền biển rất 
giỏi. Vua nước ấy lo về sau thuật ấy thất truyền, nhân ở trong dãy núi MiĐông

    ở gần kinh đô có một hang đá rộng có thể để lọt chiếc thuyền, bèn sai Nôê 
đóng một chiếc thuyền lớn đem đặt vào trong hang đá ấy, rồi làm mái che lên để

    lưu truyền lại diệu thuật cho đời sau. Đến nay chiếc thuyền ấy vẫn còn. 

     

    Khi đến xứ ấy, Jêsu bảo dân chúng [43]

     rằng: “Các ngươi không biết chiếc thuyền này có từ thời thượng cổ. Ngày ấy 
chúa Trời đã giáng nạn hồng thuỷ khiến cho muôn loài phải tận thế. Chỉ có Nôê

    là bậc thánh nên được chúa Trời cho biết trước để đóng chiếc thuyền này, 
cho chọn các loài vật, mỗi loài một con đực và một con cái để lưu truyền nòi 
giống.

    Qua nạn hồng thuỷ, nước rút, các loài vật lại được ra ngoài, sinh đẻ, 
truyền mãi cho đến ngày nay. Chúa Trời có chủ ý vị diệu nên mới cho chiếc thuyền

    ấy giạt đậu ở núi này để tỏ cho muôn đời sau biết sự tận thế là có thật để 
mà kiên tâm theo đạo. Nay ta nói về ngày tận thế, đâu phải là đặt chuyện lừa

    dối các ngươi! Lại nói chuyện Nôê ngày ấy có một trăm con trai, sinh ra 
ngàn vạn con cháu đều khôn lớn cả. Bỗng một hôm, mỗi người nói một thứ tiếng 
khác

    nhau, không ai hiểu nhau nữa! Thế là hàng vạn con cháu của Nôê lìa nhau đi 
khắp mọi nơi trong thiên hạ, mỗi người làm ăn sinh sống một nơi, cho nên các

    nước ngày nay mỗi nước đều nói một thứ tiếng khác nhau là vì thế”. 

     

    Cả bọn ngu khờ xiết đỗi kinh ngạc mà nói rằng: “Đúng là con chúa Trời, nếu 
không thì làm sao mà biết được việc vạn năm về trước!”. 

     

    Jêsu đi đến đâu cũng leo lên giường cao ngồi chễm chệ, dẫu đối với ông già 
bà cả cũng chỉ xấc xược gọi bằng ngươi, bằng mày, không có tí gì khiêm tốn,

    vì vậy mọi người đều ghét. Chỉ có những kẻ ngu khờ nghèo khổ hàm ơn mới 
kính nể tin lời, chịu chứa chấp che chở, nhờ vậy Jêsu mới được dung thân [44] .

     

     

    Môn đồ của Jêsu là bọn Phêrô, Jiuđa thường kín đáo khuyên can Jêsu hãy nên 
nhũn nhặn hơn để lấy lòng dân, nhưng bị Jêsu mắng rằng: “Bọn các ngươi làm sao

    hiểu được ý ta! Nếu thân ta chịu khuất thì đạo ta làm sao có thể vươn ra 
được? Không làm cho tôn nghiêm thì đạo không tôn lên được, người ta chẳng ai 
theo”.

    Jiuđa nói: “Chỉ sợ xảy chuyện không hay, điếm luỵ đến tôn danh”. Jêsu nói: 
“Việc gì mà phải luỵ? Ngày sau ta sẽ có diệu kế khiến cho mọi người phải chịu

    luỵ với ta!”. Jiuđa nói: “Thầy có phép diệu thì tốt được cho một mình thầy, 
còn hàng vạn môn đồ thì làm sao mà tốt được? Vả lại, nói như thầy thì chẳng

    hoá ra cả nước này đều ngu dốt cả sao?”. 

     

    Jêsu gạt đi mà nói rằng: “Như thế là ngươi cũng không tin đạo ta rồi”. Từ 
đó Jiuđa âm thầm nảy sinh ý định phản bội Jêsu [45] . 

     

    [1]

    Nguyên thư chép là phía “tây”. Trong bài Nguyên dẫn đã nói nước Tây Dương 
là nước Ý Đại Lợi (Italia), vậy nước Jiuđê ở về phía đông nước Tây Dương, chúng

    tôi sửa sai.

    [2]

    Jiuđê (Judéa), tức nước Do Thái. Bây giờ Do Thái là một tiểu vương quốc chư 
hầu của đế quốc La Mã.

    [3]

    Nguyên thư là BaLinh thành, có ghi chú: “Người phương Tây gọi làng là 
thành”, tức là những làng quân sự hoá thời cổ có hào luỹ bên ngoài.

    [4]

    Hérodes I (79 tcn - 4 scn): vua Do Thái từ 39 tcn – 4 scn. Nguyên thư phiên 
là ÊviGia.

    [5]

    Nguyên thư phiên MaDiA và chép là “nhị nữ danh…” (hai người con gái tên 
là…) nhằm chữ “nhất” thành chữ “nhị”.

    [6]Nguyên thư là KhuSa.

    [7]

    Về sau người Tây Dương cũng có phép tu đồng trinh. Xem ra thì chỉ giả dối 
mà thôi.

    [8]Thật nực cười!

    [9]Sấm truyền, cũng có nghĩa là Sấm ký.

    [10]Nguyên thư phiên là CaBiDiÊ.

    [11]

    Nguyên thư phiên: “Avê MaDiA đài gia ca sa” tức là phiên câu nói của thiên 
sứ Gabơrien ghi bằng tiếng Latinh (xem Evang, Luca, I.3:28).

    [12]

    Nguyên thư phiên: Diêu chúa, tức là chúa Trời (phiên theo tiếng Latinh = 
Dei). Sách của bổn đạo trước đây, đối với câu nói của thiên sứ Gaborien chỉ 
phiên

    là chúa Dêu mà không dịch là chúa Trời, bởi lẽ Gabơrien đã là người trời 
rồi, cho nên không gọi Dei là chúa Trời nữa, chỉ phiên âm mà thôi.

    [13]Thường gọi là lễ Truyền tin.

    [14]Nguyên thư phiên ISaVê.

    [15]Đích thị là con quỷ Tây sắp ra đời!

    [16]Không tin được!

    [17]

    Thì ra cũng có chút “linh thiêng” thật chứ chẳng nên nói là toàn không!

    [18]Những lời nói khoe khoang đều tỏ ra ngu ngốc, dối trá.

    [19]

    Chỗ này nguyên thư chép một câu chuyện chú: “Dì còn chẳng chịu chứa, huống 
chi người ngoài!”. Có lẽ câu này ghi liền sau đoạn nói nhà chủ chửi bới Maria,

    bị chép lạc vào đây.

    [20]Nguyên thư phiên: KhuAn.

    [21]

    Thiên Trúc tức là Ấn Độ, còn ManSa và NhuGia chưa biết chắc chắn là phiên 
tâm từ chữ gì. Theo Macus Gispert: “Không ai biết cho tỏ ba đấng ấy làm vua về

    nước nào… Lại có kẻ nói rằng ba vua ấy có tên là Gaxpa, Menstor, Banthasa” 
(Bốn quyển sách Phúc âm của Đức chúa Jêsu Kirixitô”, Phú Nhai đường, 1926, tr.

    10). Như vậy có lẽ ManSa và NhuGia phiên âm chữ Mensior và Banthasa 
(Melchior, Balthasar).

    [22]

    Sách Giảng lục nói: Jêsu nghĩa là Chúa cứu thế , an dân. Nếu tin như vậy 
thì người thầy cả sao dám tự tiện đặt tên? Và kẻ thường dân sao dám nhận gọi tên

    mình như thế? Về sau tả đạo thêm một chữ “phụ” (cha) bên trên chữ Gia (Da) 
để tỏ ý tôn kính. 

    Nguyên thư phiên là ChiThu và có chú thích: người Trung Hoa phiên là Gia 
(Da). Các giáo sĩ đầu tiên đến Việt Nam phiên Jêsu là ChiThu, không theo cách

    phiên của Trung Quốc. Nguyên thư dùng cả hai cách phiên ấy.

    [23]

    Êgiptô, nguyên bản phiên là YthiTo tức là nước Ai Cập, đúng với các sách 
của bổn đạo viết về tiểu sử Jêsu. (Cũng có khi phiên là IChiTô). Nhưng tiếp đó,

    trong nguyên thư lại có câu: YThiTô tức là nước ngày nay gọi là Tây Dương, 
lại còn gọi là nước Huề Lan (Hoà Lan). Ghi như vậy là sai. (Có lẽ người chép

    sách nhầm với Ý Đại Lợi, mà trong sách này tác giả cũng gọi Italia là nước 
Tây Dương, cho nên mới ghi sai như vậy).

    [24]Nguyên thứ phiên: SaMiAn.

    [25]

    Nguyên văn viết là: “Thư, lục”. Thư và lục nói đây là các sách kinh, sách 
sử của đạo Do Thái.

    [26]

    Theo Phúc âm của Luca: “Khỏi ba ngày tròn mới thấy người đang ngồi trong 
đền thờ ở giữa các thầy tiến sĩ…, và các kẻ nghe các lời sâu nhiệm khôn ngoan 
của

    thầy thưa hỏi thì lấy làm kinh khiếp”. (Phúc âm, Luca, II, 4.46,47). Nhưng 
Luca nói việc này khi Jêsu đã về Jêrusalem.

    [27]

    Jiuse đã gọi như thế, chẳng phải cha con là gì? Vậy mà nay người Tây Dương 
vẫn giấu kín chuyện ấy.

    [28]

    Nay Kinh Thánh có câu “Chịu khuất đức mẹ cùng ông thánh Jiuse cho đến ngày 
nay…”.

    [29]Nazareth: nguyên bản phiên là NaSaLiệt.

    [30]

    Từ trước, các thầy cả (đạo Do Thái) vẫn lấy vợ. Từ khi Jêsu đặt cái phép 
ấy, được người Tây Dương làm theo. Thầy tu phải cắt đầu dương vật, không lấy vợ

    là bắt đầu từ đó. Phép ấy đến nay vẫn còn. Ngày trước, khi tả đạo mới 
truyền ra nước ngoài, có bản kinh gọi là kinh Sáng bỉ, bởi lẽ phần nhiều mập mờ 
che

    giấu chuyện ấy. Về sau các giám mục khâm mạng sợ lôi chuyện xấu, bèn lừa 
dối rằng: “Giáo hoàng ở Tây Dương thấy Chúa hiện phép lạ , cho nên ra lệnh không

    cho đọc kinh ấy nữa”. Đại phàm người Tây Dương khi ấy muốn lòe doạ điều gì 
thường bảo “thấy chúa Trời hiện phép lạ”, nay cũng vẫn nói như thế.

    [31]

    Nguyên thư phiên: PhêLô, KhuSa, DaMian, NêCôSaMô, KhuAn, GiaCôBa, BảoLộc, 
SaMông, KhuDa; cộng 9 người, thiếu 3. Về 12 môn đồ của Jêsu, các sách Phúc âm

    chỉ có Mathêu ghi đủ, nhưng so với các bản khác thì có trường hợp tên gọi 
khác nhau. Sau đây là tên gọi mà bổn đạo vẫn dùng: Ximôn (tức Phêrô), Andrê 
(André,

    em Ximôn), Jăc và Jăng (con của Xêbêđê), Philip (tức Philipphê), Bathêlêmi, 
Mathiơ, Thôma, Jăc (con của Andrê), Ximôn (Ximôn nhiệt thành), Jiuđa (con của

    Jăc), Jiuđa Ichcariôt (Judas Iscariot, kẻ phản bội Jêsu). Trong 9 người 
nguyên thư đã ghi ở trên, Jiuse, Damian, Nicôsamô không có tên trong bảng đã 
dẫn.

    Có tài liệu cho Jiuse (cha Jêsu) cũng là 1 trong 12 môn đồ, có tài liệu nói 
đó là Jêsu khác ở làng Arimathea đã cùng với Nicôsimô táng xác Jêsu (Xem Phúc

    âm, Juan, XIX, 8: 38-39).

    [32]Nguyên thư: NhiệtSiMaNê.

    [33]Tục nước ấy, chức thầy cả phải do dân làng bầu ra.

    [34]

    Tiếng Latinh: Spiritu Sancto = đức chúa thánh thần. Nguyên thư phiên: 
PhiDiTu SanTô.

    [35]

    Bởi vì từ trước dân nước ấy chỉ biết có một chúa Trời, nay nghe nói Chúa có 
ba ngôi thì ai cũng phải lấy làm lạ. Đạo Gia Tô Tây Dương nói Chúa ba ngôi là

    bắt đầu từ đó.

    [36]

    Chữ Hán: Tại thiên kinh. Đặt tên kinh như vậy là do kinh này ở câu đầu có 
câu: “Tại thiên thần đẳng phụ” (Cha của chúng tôi ở trên trời). Sách kinh bằng

    chữ Nôm dịch là kinh Bởi trời (Cha của chúng con bởi trời mà xuống…).

    [37]Chữ Hán: Thỉnh phụ kinh.

    [38]Nguyên thư chép: “nhân cha trị đến…”.

    [39]

    Theo Thánh giáo kinh nguyện (chữ Nôm) thì cả hai đoạn trích trên đây đều là 
thuộc về kinh Lạy cha , không có đoạn nào ở kinh Bởi trời.

    [40]

    Nay giáo đồ tả đạo nước ta đọc lời kinh này bằng quốc âm rằng: “Đạo chúa 
Trời có mười sự răn. Thứ nhất thờ đấng chân chúa của trời đất. Thứ hai là chớ 
gọi

    tên chúa Trời mà hư thệ (= thề nhảm). Thứ ba giữ ngày lễ bái. Thứ tư hiếu 
kính cha mẹ. Thứ năm chớ giết người. Thứ sáu chớ làm tà dâm. Thứ bảy chớ làm

    trộm cướp. Thứ tám chớ nói chứng dối. Thứ chín chớ muốn em con (= vợ con) 
người. Thứ mười chớ tham của người. Trước mười sự răn rút về hai nơi mà chừa,

    kính dám Thiên Chúa trên hết mọi sự, chưng yêu người như yêu mình ta vậy. 
Amen!”. Về sau người Tây Dương lại đọc thêm câu đầu với câu cuối. Ẩn ý sâu xa

    xem ở sau sẽ rõ.

    [41]Trời, đất vẫn còn thì làm sao lại gọi là “tận” (hết)?

    [42]

    Đại phàm người Tây Dương lòe doạ người ta thường vẫn hay nói kiểu ấy.

    [43]

    Nguyên bản chép nhầm một chữ “vị chúng viết” (nói với dân chúng rằng…), 
nhầm chữ “chúng” thành chữ “tôi” (hai chữ này viết thảo hơi giống nhau, dễ lầm).

    [44]

    Nay thầy tu Tây Dương thường hay tìm người nghèo mà bố thí ơn huệ để gây 
chỗ nương thân là bắt đầu từ đấy.

    [45]Tên du đãng (Jiuđa) nói nghe cũng có lý.

    Nguồn: Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981. Bản điện tử do talawas thực hiện. 

Other related posts: