[SMCC] Sai Gon - Co The Giang Ho Do Bai 3

  Sài Gòn “cờ thế giang hồ độ” - Bài 3: "Thuận pháo vương"  


Năm 1974, giới chơi cờ đồng cảm phục phong danh hiệu "Thuận pháo vương" cho kỳ 
thủ Phạm Tấn Hòa, một trong những tinh hoa của làng cờ tướng thành phố với bí 
kíp khai triển hai ngọn pháo xuất quỷ nhập thần. 
Bí kíp lót vali
Năm 1959, kỳ vương Hồng Kông Lý Chí Hải sang Sài Gòn thi đấu, mang theo một 
cuốn 
sách quý về cờ tướng. Hồi đó, sách Trung Quốc bị cấm ở Việt Nam vì nhiều lý do. 
Để trót lọt, kỳ vương Hải đã phải tháo bỏ bìa sách, xé từng trang sách rời rạc 
đem lót dưới đáy vali, hành lý... xem như những tờ giấy lộn. Sang tới Sài Gòn, 
kỳ vương được kỳ thủ Việt Nam Nguyễn Văn Anh đãi đằng thân mật lắm, nói như ông 
Hòa thì "sáng cháo, chiều cơm, tối yến"... Cảm phục tình thâm giao, kỳ vương 
Hải 
gom những trang sách đó lại, tặng cho người bạn cờ Việt Nam. Ông Anh mới đóng 
lại thành một cuốn, coi như sách gối đầu giường.
Năm 1969, như duyên trời định, ông Anh tặng lại Phạm Tấn Hòa cuốn sách quý, 
thậm 
chí lúc đó ông Hòa cũng không biết nó tên gì nhưng ông dám chắc "ngoài tôi ra 
không ai có cuốn thứ hai". Đọc nghiến ngấu cuốn sách, ông Hòa thấy nó quá hay, 
biến hóa khôn lường, đặc biệt ông rất tâm huyết thế trận thuận pháo. Năm 1971, 
ông Hòa đã phần nào cảm nhận được tinh hoa của thế trận, bắt đầu sử dụng vào 
những ván cờ, qua đó chiếm nhiều thượng phong. Phải đến 3 năm sau, ông Hòa mới 
cho rằng mình tạm thời đã nghiên cứu và lĩnh hội xong cuốn sách, lúc đó ông mới 
biết tên nó là Tượng kỳ trung phong của soạn giả Vương Gia Lương người Trung 
Quốc.
Ông Hòa giảng giải: "Thuận pháo, hiểu nôm na là 4 con pháo của hai bên đứng 
cùng 
một phía của bàn cờ. Tôi đánh thuận pháo, cũng giống như người ta đá banh, sẵn 
sàng thủ hoặc tiến đôi công với đối thủ". Ông tâm đắc: "Trận thuận pháo, tôi sử 
dụng thoáng cờ, hoạt động được 2 xe, 2 pháo mạnh mẽ trong khi 2 ngựa tấn công 
không hiệu quả, đôi khi tôi để ở nhà".
Một thế trận, một đời người
Năm 1974, thế trận thuận pháo lừng danh bắt đầu đăng đàn. Trước giải, ông Hòa 
đã 
ngẫu hứng tuyên bố "tôi sẽ dùng thuận pháo để chiến đấu" nhưng các đối thủ dù 
biết vẫn không thể đối phó nổi. Và "pháo" đã giật đùng đùng! Ông Hòa oanh liệt 
hạ gục hết đối thủ này đến đối thủ khác để vô chung kết với cao thủ tiền bối 
Thanh Mai Phạm Nam Đài. Thuận pháo lại giành chiến thắng vang dội. Phạm Tấn Hòa 
chính thức đăng quang ngôi vị "Thuận pháo vương", qua đó ít nhiều làm lu mờ 
danh 
hiệu "Phi pháo vương" của danh thủ Trần Đình Thủy, một phần cũng vì trận "phi 
pháo" đã không còn bén nhọn, bị đối phương bắt bài nhiều.
Hai năm sau, trước một giải đấu khác, ông Hòa lại tự tin tuyên bố là mình vẫn 
dùng thuận pháo để chiến đấu. Dù theo ông, lúc đó các cao thủ người Hoa ở Q.5 
đã 
có nhiều tài liệu nghiên cứu để phá thế trận này. Thực tế khi vô giải, đôi lúc 
thuận pháo đã không còn chiếm nhiều thượng phong ở khai cuộc và trung cuộc. Đến 
lúc này, bản lĩnh Phạm Tấn Hòa lại một lần nữa thể hiện ở chữ "nhẫn". Trận 
chung 
kết, mặc dù cờ về tới tàn cuộc với ưu thế thuộc về đối phương, pháo - ngựa - 3 
chốt đối lại với bên Hòa chỉ có pháo - ngựa - 1 chốt nhưng ông Hòa vẫn thắng 
nhờ 
"mình chơi cờ tàn bén, yếu quân nhưng tiến công ráo riết nên giành thắng lợi".
Cờ là nghệ thuật - không phải nghiệp mưu sinh
Phạm Tấn Hòa sinh năm 1940 tại Sài Gòn trong một gia đình có truyền thống yêu 
nước và yêu cờ. Ngôi nhà ông ở hiện nay ở đường Cô Bắc, Q.1, đã từng là nơi 
chứa 
vũ khí và nuôi dưỡng lực lượng cách mạng. Cha ông là Tư Ngọc, cao thủ cờ hạng 
tiền bối; chú ông là Năm Sáng cũng là bậc "thượng tướng" trong làng cờ; anh 
ruột 
ông là Phạm Tấn Nghĩa có biệt tài chơi cờ mù rất giỏi. Có lẽ do truyền thống 
vậy 
mà Phạm Tấn Hòa cũng như nhiều đồng môn danh vọng viên mãn hiện nay - không chú 
trọng cờ là nghiệp mưu sinh: "Tôi hay anh Tú, anh Vị đều có chung nguyên tắc 
lấy 
cờ làm nghệ thuật. Không lấy đó làm nghề kiếm sống".
Phải biết rằng, hoàn cảnh ông Hòa trước đây cũng giống với nhiều kỳ thủ đã trót 
vận vô "nghiệp cờ", đó là không có điều kiện học hành, thiếu bằng cấp bài bản. 
Nhưng lối thoát của ông lại hoàn toàn khác: "Nhà tôi trước rất khó khăn. Chơi 
cờ 
đã tập cho tôi tính kiên nhẫn, cũng vì đó nó giúp cho tôi tự học văn hóa rất 
nhiều". Trước năm 1960, Sài Gòn không có nhiều nhà máy, xí nghiệp, để xin được 
việc làm lúc đó là rất khó. Ông nhớ lại: "Hồi đó, kể cả người bằng cấp đàng 
hoàng, để kiếm việc làm cũng khó. Có kiếm được việc, mất trước 3 tháng lương 
tiền "cò" cho người giới thiệu là cũng mừng muốn chết rồi".
Nhờ người quen từ cờ, ông Hòa chẳng bằng cấp gì hết nhưng lại xin được vô làm 
một hãng dược phẩm của Pháp, cũng chẳng mất trước tháng lương nào. Ông kể: 
"Trước đó, tôi phải đi coi tiệm bán nón nỉ cho một chủ ở đường Nguyễn An Ninh, 
coi từ 7 giờ sáng đến 5 rưỡi chiều, không có thời gian đi học". Tự trang bị cho 
mình kiến thức, ông Hòa đăng ký học hàm thụ, họ gửi bài vở đến cho ông qua 
đường 
bưu điện, ông vừa làm vừa học ở nhà. Rồi ông học thêm tiếng Pháp... "Tôi đến 
phỏng vấn xin việc với người phiên dịch. Ông chủ Pháp nói, tôi không quen nên 
nghe không được. Nhưng tôi nói, ổng nghe được. Tôi hứa với ổng, nếu được nhận 
vô 
làm, tôi sẽ rèn luyện tiếng Pháp hơn". Vậy là ông Hòa đậu.
Con ông Hòa giờ thành đạt lắm, 5 người thì ai nấy đều có bằng cử nhân, ông còn 
có đến 7 đứa cháu nội, ngoại. Giờ nghĩ chuyện xưa, ông thấy tự hào: "Nhớ lại 
quá 
khứ sao thấy khó khăn quá. Nghĩ lại, tôi vẫn thấy tự hào về hồi đó, cũng nhờ 
làm 
việc cho hãng Pháp mà tôi có điều kiện đầu tư cho gia đình, dù tiền bạc không 
nhiều". Năm 1971, Phạm Tấn Hòa tham dự giải Tuệ Thành lần 2, vô tận trận chung 
kết gặp kỳ thủ khét tiếng Trần Đình Thủy. Trước giải, ông kêu thợ mộc tới, hỏi 
họ muốn nâng thêm cái gác gỗ cho căn nhà đang ở thì hết khoảng bao nhiêu tiền? 
Vợ ông mới càm ràm "ông bày đặt, tiền đâu mà sửa nhà". Ông Hòa cười, nói vợ 
rằng 
"tôi linh cảm sẽ có tiền".
Y như rằng, lần đó ông Hòa giật giải nhất, phần thưởng rất cao là một kim bài 
bằng vàng, khoảng 2 lượng. Số vàng đó, cộng với những lần đấu thắng giải chắt 
chiu được tiền thưởng, ông Hòa cất được căn gác gỗ. Chuyện đang rất vui, chợt 
ông Hòa chùng xuống, tiếc nuối cho lớp kỳ thủ đàn em: "Nhiều đứa coi cờ là 
nghiệp, từ cờ chuyển sang cả cờ bạc. Giờ dòm lại, không thấy anh nào khá cả. 
Đứa 
đạt giải nhiều nhất, được thưởng nhiều nhất lại là đứa nghèo nhất, nợ nần nhiều 
nhất". Nghe mà xót xa...
*
Gần 3 năm nay, "Thuận pháo vương" đã giã từ làng cờ để về vui vầy với con cháu, 
một phần vì mắt ông cũng đã mờ, không thấy đường vì bị "teo gai thị". Một ngày 
tháng 12.2008, tới thăm ông ở căn nhà nhỏ, gặp một phong thái đĩnh đạc, nói 
chuyện rất say sưa về cờ, về đời. Ông Hòa kể, hồi chưa hỏng mắt, thỉnh thoảng 
ông vẫn bày trận thuận pháo "chiêu đãi" anh em đến giao lưu, học hỏi. Thế trận 
vẫn vững mạnh như năm nào, dù tuổi ông đã cao...  
Nguyễn Lê Nguyên

Other related posts:

  • » [SMCC] Sai Gon - Co The Giang Ho Do Bai 3 - Nguyen Khanh Quoc