[SMCC] Phu Phan Sich Long
- From: "VanDan" <nhacsi.vandan@xxxxxxxx>
- To: <smcc@xxxxxxxxxxxxx>
- Date: Sun, 30 Nov 2008 17:24:28 +0700
Sơn Nam
Nói Về Miền Nam
Vụ Phan Xích Long
Năm 1913 và 1916
“Năm quý Sửu có vụ Phan Xích Long làm “cách mạng”. Phan Phát Sanh tự
Lạc năm ấy (1913) vừa hai mươi tuổi, con của Phan Núi làm cảnh sát trong Chợ
Lớn. Lúc nhỏ không ham học, lớn ở bồi với Tây, bổng xưng Phan Xích Long, tự cho
mình là Đông cung, con vua Hàm Nghi, sắm mão và dây đai vàng, tự tôn làm
hoàng đế, lập đảng kín, chế tạo lựu đạn trái phá, in trát dán khắp chợ Sài Gòn,
Chợ Lớn, Bình Tây kêu gọi dân nổi dậy chống Pháp. Việc làm như giả ngộ,
chưa chi mà lậu sự bắt bớ lung tung. Phan Xích Long bị cò Tây bắt tại Phan
Thiết, còng giải về Sài Gòn. Đồng đảng cả thảy bị bắt 111 người, đem ra Tòa
Áo đỏ xử tử mùng 5 đến 12 tháng 11 dương lịch 1913, tha bổng 57 người, năng hơn
hết là án chung thân khổ sai 6 người, Phan Xích Long, Nguyễn Tri và Nguyễn
Hiệp, án hiện diện; còn Nguyễn Màng, Trương Phước và Nguyễn Ngọ trốn thoát
không bắt được, bị án khiếm diện. Ba người này bị giam Khám lớn Sài Gòn, làm
chống động giới giang hồ mã thượng”.
Qua lời bạch hỏi của tòa án, vụ Phan Xích Long chứa nhiều chi tiết quan trọng.
- Trong 57 người bị kêu án, chỉ có 1 người Hoa kiều mà thôi, kỳ dư là người
Việt Nam, đa số là dân ở tỉnh Chợ Lớn và tỉnh Tân An.
- Phan Xích long, Nguyễn Tri và Nguyễn HIệp là nhân vật hành động có ý thức.
Trước tòa, Phan Xích Long dám bảo: ông chống đối chính sách thuế khóa nặng
nề của người Tây và đặt những trái bom trong thành phố là để hăm dọa người Tây,
để mong người Tây giảm thuế cho dân. Và cách chế tạo mấy quả bom thì ông
học ở bên Xiêm La.
- Cùng với Nguyễn Tri và Nguyễn Hiệp, Phan Xích Long đặt cơ sở đầu tiên ở đất
Cao Miên tại Cần Vọt, cất ngôi chùa do tiền bạc quyên để làm nơi tụ họp.
Nên nhớ là vùng Cần Vọt (Kam pot) được xem là nơi trú ngụ lý tưởng của những
chiến sĩ Cần Vương, sau khi phong trào ở làng An Định (núi Tượng) thất bại,
dân làng bị tống xuất về quê cũ. Phan Xích Long vẫn giữ được tinh thần vững
chắc, trả lời với tòa rằng ông xem thường cái chết, sẳn sàng chết vì nước và
muốn được xử tử.
- Nguyễn Hiệp cung khai rằng chống nhà nước Tây là có dụng ý nhắc nhở nhà nứoc
phải thương dân, làm mấy quả bom chỉ là để dọa người Tây chớ không có ý
giết người Việt. Năm ấy, Nguyễn Hiệp 27 tuổi.
Ba năm sau, phong trào lại phát khởi:
- “ Qua năm Bính Thìn (1916), giữa trận Âu Châu Đại chiến bên trời Tây, Tây
thua xiểng niểng thì đêm 12 tháng giêng âm lịch, đảng kín “Thiên Địa HỘi” tổ
chức cuộc phá khám định cứu đại ca ra khỏi vòng Dủ lý. Ban đầu rất nhiều thuyền
nhỏ tứ xứ đến đậu chen nhau dưới gầm cầu móng Khánh Hội, đấn ba giờ khuya
là khởi sự. Dưới khẩu hiệu “Cứu đại ca”, các đồng đảng thảy đều uống bùa, cổ
mang phù chú, tay cầm gươm mác, kéo lên Khám lớn Sài Gòn. Dao nói chuyện với
súng làm sao lại, bùa chú chống đạn chỉ có hiệu lực trong trí óc người mê tín.
Sự thực thì hai người bị bắn chết tại cửa Khám lớn, bốn người bị rượt theo,
bắn ngã tại Xóm Dầu torng Chợ Lớn. đồng đảng bất cứ đàn ông đàn bà ai mặc quần
đen áo trắng buổi sáng ấy cứ lẩn quẩn trong xóm, tình nghị là bị bắt nhốt
khám, đem ra xử tòa đại hình. Kết cộc: 38 người bị xử tại Đồng tập trận và bắn
ngày 22 tháng 2 năm 1916, kể luôn 2 người đêm phá khám bị tử chiến tại trận
tiền và 4 người bị hạ sát tại Xóm Dầu thì cuộc phá khám năm 1914 đã khiến 57 vị
anh hùng, tên ghi vào sử nhưng thây thì bị chôn vùi “đất thánh Chà” đường
Hiền Vương, cho đến mới đây nghĩa địa này bị ban phá ra thành bình địa, xây xóm
nhà anh em lao động tài xế đô thành, mồ mả xiêu lạc mất tích luôn nhưng
danh thơm còn mãi trong trí óc người yêu nước.
Vụ hành quyết 51 người yêu nước trên đây đã khiến cho vài người Pháp bất mãn,
trong đó có viên Chưởng lý Tricon. Sau này, chính ông Tricon làm luật sự
biện hộ hùng hồn cho những nông dân bị Tòa án quân sự xử tử nhưng nhà nước phải
để cho can nhân chống án qua Pháp. Đành rằng nước Pháp trong tình trạng
chiến tranh, tình thế khẩn cấp, nhưng ở thuộc địa Nam Kỳ là nơi cách xa chánh
quốc đến 16.000 cây số thì làm sao có việc khẩn cấp như ở chánh quốc được.
Và viên Chưởng lý Tricon công khai phản đối hành động của Thống đốc Nam kỳ, khi
tên này cho hành quyết ngay các can phạm.
Phong trào Thiên Địa Hội từ các tỉnh Nam Kỳ đã phối hợp với Sài Gòn – Chợ Lớn
tại Mỹ Tho, vùng Long Hưng, vùng Thuộc Nhiêu, vùng cù lao Thới Sơn, nhóm
Nghĩa Hòa tham gia tích cực. Vào cuối tháng 1-1916, phong trào nổi lên ở vài
làng tỉnh Trà Vinh, đạt thành công nhất định ở tỉnh phải ghi công đầu của
Thiên Địa Hội tại chợ Biên Hòa. Cuốc đánh phá diễn ra nhanh chóng, phối hợp với
bọn tù nhân nổi loạn bên trong ,17 tù nhân thoát nạn được. Ở Bến Trẻ, tại
Mỏ Cày phong trào lên cao nhằm đánh phá công sở, hăm doạ hương chức hội tề. Ở
Thủ Dầu Một, Bà Rịa, tỉnh Gia Định, tỉnh Tân An cũng xảy ra nhiều cuộc tụ
họp, phía Cần Giuộc có báo động.
Người trong hội kín gồm đa số là người Việt Nam, người Hoa Kiều đóng vai phụ,
thường là giữ chức vụ coi sóc nghi lễ trong hội mà thôi.
Thiên Địa Hội không còn hoạt động sau khi bị khủng bố những dư âm vẫn còn mạnh.
Rải rác từ thành thị tới thôn quê, nhềiu anh hùng còn tới lui với nếp ngang
tàng, giang hồ quen thói. Họ là người trước kia gia nhập hội. Hoặc chỉ là cảm
tình viên bị sa thải. Trường hợp tiêu biểu nhứt là đại ca Tư Mắt, một nhân
vật bấy giờ ở Sài Gòn – Chợ Lớn không ai không nghe danh.
“Tư Mắt tên thiệt là Nguyễn Văn Tước, sanh tiền có lập một tiệm hớt tóc, số nhà
200 đường Thủy Bình cũ (rue des Marins, nay là đường Đồng Khánh) lấy hiệu
tiệm là Nam Hữu Mai. Ngày 14-5-1915, tòa đem Tư Mắt ra xử, kể lai lịch Tư Mắt
có đến ba vợ, đều phục sự “Anh Tư” hết lòng và vô số anh em. Tòa khép tư
Mắt vào tội “gia nhập hội kín ám trợ Cường Để”, kếu án lấy chừng, kỳ trung Tư
Mắt bắt chước theo gương Đơn Hùng Tín trong truyện Thiết Đường: phàm trong
đám du côn có đứa nào đã chịu làm em nuôi của “đại ca Tư Mắt” thì đại ca không
khi nào bỏ, hoạn nạn tương ứng, sanh tử bất ly. Không tiền đại ca cho tiền,
không áo đại ca cho áo, thậm chí khi bị tù rạc thì có người nuôi ăn và cung cấp
thuốc bánh. Nhưng khi nào đại ca cần dùng thì ra lịnh phải tuân hành, chết
sống không kể thân, sai biểu chém ai, giết ai là chém giết bất luận là bà con
thân thích. Tư Mắt đi đến tỉnh nào, xứ nào là em út rần rần đứa theo ủng
hộ, đứa đến trình diện bái nghinh đại ca. Tư Mắt bước vào quán nước nào thì
người khác hội nên lui chân, hàng em út tha hồ gọi bánh, gọi mì vì đã có đại
ca bao trả. Nhưng phải nhớ “ăn của anh Tư thì sau này có việc chớ khá so đo
cùng anh Tư”. Lính trang kiêng dè nể mặt, bót cò miệng ngậm sáp cũng làm lơ.
Linh sai nã tróc đã ra, mà tìm không có ai dám sanh cầm Tư Mắt; không khéo có
ngày mang thẹo ăn dao của hàng em út anh Tư. Tuy vậy, hết hồi vinh đến hồi
xuống dốc. Về sua Tư Mắt ăn năn, vào chùa Giác Lâm (Chợ lớn) lần chuỗi bồ đề
tụng kinh sám hối.
*
* *
Vài nhà khảo cứu chê bai phong trào Thiên Địa Hội là manh động, gần như du
đãng, thất nhơn tâm. Có người cho rằng anh hùng Thiên Địa Hội chọn một lý tưởng
quá lạc hậu là tôn vương, bảo hoàng, vào lúc trong nước đã có phong trào Duy
Tân tiến bộ hơn ra đời từ năm năm về trước- nhưng phong trào Duy Tân ở Nam
Kỳ lúc bấy giờ nặng tánh chất bảo hoàng, hướng về chế độ quân chủ lập hiến dành
cho kẻ giàu sang.
Âm vang của Thiên Địa Hội khá mạnh mẽ. Nhiều người bảo là dân chúng ở Nam Kỳ
hiếu khách, ăn nói sổ sàng, không quanh co giấu giếm, dám ăn xài hết túi là
do máu nóng của dân đi khẩn hoang: vì nhiều tiền, nhiều tương lai nên không sợ
đói. Nhưng thiết tưởng đó là lý do phụ. Thiên Địa Hội tạo ra một nếp sanh
hoạt sâu đậm khá hấp dẫn, thực tế: ăn cơm nhà lo chuyện ngoài đường, sống chết
nhờ anh em, tận tình giúp đỡ bạn. Trút tất cả tâm sự với bạn kết nghĩa thì
không có gì đáng ngại, đã là bạn với nhau rồi thì làm sao có chuyện phản bội.!
Ưa gặp gỡ nhau, nói chuyện làm ăn và chuyện đời ngoài quán nước, quán rượu.
Gặp chuyện bất bình, hoặc như bạn nào bị kẻ khác ăn hiếp thì nổi nóng, trả thù
cho bạn vô điều kiện, lập tức.
Đó là đạo nghĩa giang hồ, là điệu nghệ giữa anh em kết nghĩa, tứ hải giai huynh
đệ. Người bạn lớn tuổi hơn mình thường được gọi nửa đùa nửa thật là “đại
ca” (theo tổ chức bí mật của hội kín, đại ca là người giữ chức vụ lớn nhứt,
không khác nào người chỉ huy trưởng về quân sự).
Nói tới Thiên Địa Hội, không thể quên là đạo Minh Sư đã từng làm cho thực dân
lo ngại hồi cuối thế kỷ vừa qua. Đây là tôn giáo hơi khác thường, tu học
có vẻ bí mật. Về lý thuyết, đạo Minh Sư thờ Tam giáo nhưng nặng về Lão giáo với
phép luyện trường sinh, với nghi thức cúng kiến phức tạp. Về mặt chính
trị, thiực dân theo dõi khi đã thâu thập bằng chứng xác nhận một vài lãnh tụ
của đạo này vận động chống Pháp, như cuộc khởi loạn 18 thôn vườn Trầu của
ông Quản hơn năm 1885 (Tài liệu của thực dân ghi hồ đồ là đạo “Phật Đường”,
chùa của đạo này không xưng là tự, nhưng là phật Đường.
Năm 1882, vào tháng 6 dương lịch, ở Long Xuyên có phú thương Hoa kiều là Dư Tú
(A Xious) mời đại lão tên Hứa Mỹ ở bên Trung Hoa tới để làm lễ, lạc quyên
cất chùa. Đại lão sự Hứa Mỹ đi qua Châu Đốc, đã từng ở Nam Vang. Ở Gò công, tại
chợ Thậun Tắc, làng Tân Duân Trung, Nguyễn Văn Hiền bị bắt với nhiều tài
liệu Ở Sài Gòn, thực dân phát giác vị lão sư của đạo Minh Sư ở vùng Cầu Kho là
Ba Hý, ngoài ra còn một số người torng đạo cùng bị bắt ở Cần Thơ (8-1882).
Dưới mắt thực dân thời bây giờ, trung tâm của đạo Minh Sư ở Trà Ngoa (giáp ranh
với Cần Thơ). Người hoạt động hăng hái nhứt là Nguyễn Văn Di còn mang tên
là Khoa, tục danh lão Báu, 70 tuổi vào năm 1896. Quê của thầy Di ở Chợ lớn,
vùng Cần Giuộc. Thầy tới lui vùng Cầu Kho (Sài Gòn), vùng Trảng Bàng (Tây Ninh),
vùng Ba Kè (Tam Bình, Vĩnh long) và liên lạc với đồng đạo ở Hương Cảng, ở Bình
Thuận. Lục soát trong nhà thầy di, gặp kinh sách, địa bàn, mặt kiếng, chuỗi,
đặc biệt là bức ảnh của vị Tổ sư (ông này đã qua Sài Gòn năm 1894 được đón rước
long trọng, mất ở bên Tàu năm 1895). Nhà cầm quyền theo dõi nhóm Minh Sư
ở Trà Ngoa, khám phá ra một ngôi chùa về danh nghĩa công khai thì thờ ông Quan
Đế nhưng bên trong là chùa của đạo Minh Sư. Hương chức làm báo cáo rằng
khi cúng chùa thì chùa không đánh trống hoặc nhạc lễ gì cả, người torng chùa cứ
khấn vái lầm thầm; họ mặc áo dài may bằng vải trắng, tay rộng, có người
nhuộm áo màu xanh lợt; khi lạy, không cúi đầu xuống. Cúng xong người trong đạo
dọn lễ vật đến nơi khác, sau đó dân địa phương mới được phép đem heo hoặc
vịt tới cúng ông Quan đế. Nhà của người theo đạo không thờ món gì rõ rệt, trước
tấm trần bằng đệm buồn, đôi khi bày một tượng Phật nhỏ nỏ, trên bàn thờ
ngày như đêm đốt ngọn đèn nhỏ không bao giờ để tắt. Trong đạo nếu có ai chết
thì người ngoại đạo chẳng được lại gần, chỉ riêng bổn đạo đến khấn vái; khi
tẩn liệm, đặt trong quan tài thì người chết day đầu vào vách nhà.
Ở Cần Thơ, còn một chùa Minh Sư nổi danh thời bấy giờ tại Bình Thủy: Minh Sư
Thảo Phật đường, gọi nôm na là chùa Nam Nhã. Ông lão sư chùa này là Nguyễn
Giác Nguyên, học trò của thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa. Khi phong trào Duy Tân nổi lên
ở miền Nam, ông lão sư Nguyễn Giác Nguyên đã tích cực hoạt động ủng hộ
ông Cường Để, và chùa đã bị lục soát.
Other related posts:
- » [SMCC] Phu Phan Sich Long - VanDan