[SMCC] Noi dau tuoi gia

Nỗi Đau Tuổi Già 
Ở đây, chúng ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường...nữa, vì đã có 
quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này. Những loại đau trên 
đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền, nhưng có những thứ đau khác không có 
thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm. 
Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ 
trước cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên 
chùa suốt ngày. Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có 
trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu. Ông không 
nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí. 
Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh 
ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp 
Khắc. Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay 
thân thích của ông. Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh 
con rồi đem con bỏ vào thùng rác, nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài 
đường. Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ 
đau khổ biết chừng nào? 
Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không 
tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người “ đem cha bỏ chùa 
”. 
Cũng lại câu chuyện của một người già. Tháng trước, trong một dịp đưa người 
thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã 
chứng kiến một cảnh khá đau lòng. Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, 
cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các 
thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà. Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi 
này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng.ï Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng 
là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ. Nhân viên quầy vé cho biết bà 
có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ 
xanh. Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam 
cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu 
bang Florida cấp. Bà mới từ Florida đến phi trường Los mấy giờ trước đây một 
mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam. 
Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại 
Florida nữa vì trong tay bà không có passport của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không 
“entry permit”. Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” 
về Việt Nam. Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để 
đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là 
mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái. Hình ảnh bà già này cứ 
ám ảnh tôi mãi. Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con 
cái mà chỉ thêm gánh nặng. Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ 
được thì chuyện đã rồi. Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng 
giúp ích gì được cho ai, chết ở đây bao nhiêu thứ tốn kém. 
Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã 
pay off. Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua 
đời. Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá 1ớn, mà giá nhà đang lên, các con 
bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều 
cho mỗi đứa một ít, còn dăm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái 
xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ 
chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà 
hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. 
Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang gồi xem TV, nó hất hàm 
hỏi: -“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?” Có lúc chuông điện 
thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó 
trả lời nhát gừng:-“Bả đi khỏi rồi!” 
Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi 
bác sĩ. Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm. Bà già vào tới cửa, 
móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell 
phone, cũng không có tiếng Anh, sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, 
trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con ở chung nhà đi làm về, thì bà đã kiệt 
sức vì khô nước, phân và nước tiểu đầy mình. 
Đời xưa, người ta kể chuyện trong một gia đình, có hai vợ chồngï đối xử với ông 
cha già đã run rẩy của mình tệ bạc, cho cha ăn trong cái “mủng dừa”. Một hôm 
hai vợ chồng đi làm về thấy đứa con nhỏ của mình đang hì hục đẽo một cái gáo 
như thế, được cha mẹ hỏi, nó “thành thật khai báo” rằng “để dành cho cha mẹ lúc 
về già”. 
Đâu phải ai nuôi con cũng nghĩ tới lòng cha mẹ, cũng như nhớ chuyện “trồng đậu 
có đậu, trồng dưa có dưa”.  
BÀ MẸ QUÊ. 
Có nhiều cách gọi về song thân tùy theo địa phương, nhưng ở quê tôi, một vùng 
thuộc tỉnh Kiến An, Hải Phòng thì con gọi bố mẹ là thầy bu, vì thế tôi xin giữ 
hai danh từ này cho bài viết về mẹ tôi, một bà mẹ quê. 
Thầy tôi qua đời ngày 15 tháng Giêng năm 1947, hưởng dương  41 tuổi! Ông cụ mất 
đi khoảng sau 2 tháng bị bệnh mà thuở ấy người vùng quê chỉ biết gọi là bệnh 
“thương hàn”(?). Những ngày thầy tôi lâm trọng bệnh và khi các con tiễn chân 
ông cụ ra cánh đồng thì nay tôi không còn nhớ gì nữa! Kỷ niệm duy nhất còn sót 
lại trong đầu tôi là khi ông cụ tháo vai cày ra khỏi cổ con trâu rồi đưa sợi 
dây thừng cho tôi dẫn nó đi ăn, đang gặm cỏ, khi đến bên bờ hồ trước cửa nhà 
thờ thì nó nhào xuống nước, ngước mũi lên thở phì phò, còn tôi, một thằng bé 
chăn trâu mới 6 tuổi, không thể kéo nó lên được nên tôi đành buông dây thừng, 
đứng trên bờ mà khóc vì sợ con trâu sẽ chết đuối. 
   Nhưng với bu tôi, một bà mẹ quê, thì tôi nhớ nhiều, nhưng chưa một lần nhắc 
lại những kỷ niệm này với anh chị em và con cháu. Khi thầy tôi mất thì bu tôi 
mới 43 tuổi với một nách bẩy đứa con, tất cả cùng sống trong căn nhà tranh vách 
đất ba gian hai trái, một mảnh vườn với dăm ba sào ruộng thuộc làng Cựu Viên, 
tỉnh Kiến An,thành phố Hải Phòng, và chỉ cách hai nơi này chừng hơn 3 cây số. 
Một hình ảnh tuy đã hơn 60 năm rồi mà tôi vẫn còn như đang thấy trước mắt, đó 
là cảnh vào lúc hoàng hôn, bu tôi đứng ở góc vườn, hướng ra nghĩa trang mà kêu 
tên thầy tôi trong tiếng nấc sau khi đã chôn cất thầy tôi xong. 
Bu tôi cả ngày phải chân lấm tay bùn với ruộng lúa vườn rau, mỗi buổi chiều về, 
sau khi thổi cơm cho con, nấu cám cho lợn (heo) xong thì mặt trời đã lặn, giữa 
lúc tranh tối tranh sáng, bà lẳng lặng ra góc vườn, lúc thì ngồi ngắt đọt khoai 
lang, khi thì đứng hái lá chè mà thút thít khóc trong khi các con không hay 
biết. 
Một buổi chiều tối, khi chim đã về tổ, tôi leo lên cây cau ở góc vườn để bắt ổ 
chim sáo đen khi nghe chim con “chíp chíp” mà tôi đã rình từ lâu, tôi thất kinh 
suýt rơi xuống đất khi bất chợt thấy bóng đen đứng khóc góc vườn. Nhưng tôi 
hoàn hồn ngay khi nhận ra giải khăn tang trắng vấn trên đầu, hai đuôi khăn chạy 
dọc sống lưng của bu tôi, tôi vội tụt xuống định chạy vào nhà, nhưng rồi khựng 
lại, ngồi thụp xuống bên gốc cây cau vì nghe tiếng bu tôi khóc: 
“Ối ông ơi! Trời đã tối rồi! Ông đi đâu mà sao không về ăn cơm uống nước với 
các con ông ơi!” . 
Tuy tuổi lên 6, tuổi nghịch ngợm của trẻ nhà quê không biết sợ ma nhưng tôi 
rùng mình nổi gai ốc khi nghe bu tôi kêu lên như thế. Bà khóc trong nấc nghẹn, 
cố kềm trong họng không cho ra tiếng vì sợ các con nghe được, chắc bà cam chịu 
đau khổ thương nhớ một mình, không đành chia nỗi buồn với các con. Các anh chị 
em chúng tôi không ai hay biết việc này, vì sau một ngày quần quật với công 
việc ruộng lúa vồng khoai thì tất cả đã mệt nhoài, mọi người đi nghỉ sớm để 
sáng mai, khi gà vừa gáy và tiếng chuông nhà thờ “bính-boong” lúc 5 giờ sáng là 
đã phải dậy để chuẩn bị ra đồng. 
Riêng mình tôi biết bu tôi khóc, tôi chẳng nói cho ai hay, nhưng tiếng khóc của 
mẹ xoáy vào đầu tuổi thơ khiến tôi cứ đứng sau hè nhìn bu tôi rũ xuống như tàu 
lá chuối héo, nghe bà nấc nghẹn mà ứa nước mắt theo. Nhiều khi tôi thấy bà vịn 
cành chè rồi sức nặng của khổ đau kéo cành chè gẫy xuống! Một chiều tối, tôi 
nghe tiếng nói bên kia vườn, cách bụi tre, vẳng sang: 
_ Mẹ Quán sao cứ khóc mãi thế! Hãy để cho Quán nó yên nghỉ. 
Đó là tiếng của cụ Dưỡng, chú của thầy tôi, chắc cụ cũng sót ruột vì tiếng khóc 
mỗi chiều tối ngoài góc vườn. Bu tôi là cháu dâu nên phải vâng lời chú, từ đó 
bu tôi không đứng khóc ngoài góc vườn nữa. Nhưng nỗi sầu vì nấm mồ chôn chồng 
chưa xanh cỏ thì làm sao vơi nên nước mắt tiếp tục rơi cùng những tiếng nấc 
nghẹn trong góc bếp giữa đêm khuya. 
Mùa Đông tháng giá, tiết trời khá lạnh ở vùng quê với căn nhà lá có nhiều khe 
hở để gió lùa vào, anh em tôi nằm ổ rơm, đắp chiếu, kín đầu thì hở đuôi và 
ngược lại kín chân thì thò đầu, cái lạnh đêm khuya lại thêm dạ dày trống đúng 
với câu châm ngôn “bụng đói cật rét” nên giấc ngủ chập chờn. Nửa đêm về sáng, 
khi gà vửa gáy, tôi thức giấc thấy ánh lửa từ nhà bếp hắt lên, tôi bò dậy và 
mon men tới để sưởi cho ấm thì thấy bu tôi ngồi nấu cám heo, một tay cầm que, 
tay kia nắm mớ rơm đẩy vào tiếp cho lửa cháy, bóng mẹ tôi in lên vách bếp, ngả 
nghiêng theo ánh lửa bập bùng. Đêm khuya, thấy con thức dậy bò xuống bếp thì bà 
mẹ biết con đang thiếu cái gì. Vừa trông thấy tôi, bà vội kéo vạt áo lau nước 
mắt, rồi nói: 
_ Đói hả? Ngồi xuống đây sưởi cho ấm rồi bu nướng cho con củ khoai. 
Bếp nhà quê đun bằng rơm rạ nên có tiếng nổ lép-bép làm bắn ra những tia lửa 
tựa pháo bông và kéo theo tro bụi phủ lên người ngồi nấu. Bu tôi đứng dậy khẽ 
phủi tro trên tấm khăn tang trắng rồi lấy củ khoai lang ở cái thúng treo sau 
lưng vùi vào đám tro giữa ba “ông đầu rau”. 
Có thể nhiều người không biết “khoai nướng vùi bếp tro” là gì, mùi vị nó ra 
sao, ngay cả con cháu nội ngoại của bu tôi hiện nay đang sinh sống trên đất Mỹ 
cũng không biết. Nhưng với tôi, củ khoai lang vùi bếp tro mà bu tôi “ban” cho 
tôi không có gì so sánh được. Người ta thường dùng chữ “ban” đề nói về những 
“hồng ân” mà Thượng Đế, Chúa, Phật ban cho con chiên, phật tử, nhưng bu tôi đã 
“ban” cho tôi củ khoai nướng vùi bếp tro giữa đêm Đông giá lạnh mà xung quanh 
bếp chỉ có rơm rạ, tro bụi, bóng tối và tình mẹ con. 
Bà mẹ khều củ khoai trong đám tro ra, vò nắm rơm chà lên vỏ ngoài cho sạch chỗ 
cháy đen rồi đưa cho con: 
_ Khoai còn nóng lắm, con ăn từ từ. 
Đúng rồi, khoai nướng thơm và ngon với trẻ em miền quê, nếu em đói mà vội ăn 
đến nỗi quên cả bóc vỏ thì sẽ bị nóng phải hả miệng ra, ngửa mặt lên mà thổi 
“phù-phù”, ăn vụng mà nuốt vội miếng khoai lang dễ bị nghẹn. Bụng đói, cật rét 
mà hai tay nắm củ khoai nướng nóng thì thích lắm, nhưng không hiểu sao cái tật 
tham ăn của tôi biến đi đâu mất, tôi cũng chẳng hiểu chữ “hiếu” là gì, nhưng 
vẫn cứ bẻ cũ khoai ra làm hai, đưa bu tôi một nửa mà không nói một lời nào cả? 
Biết nói gì hơn, và dù biết văn hoa chữ tốt thì trong hoàn cảnh ấy, ngàn vạn 
lời nói cũng bằng thừa, là sáo ngữ. Tôi đưa nủa củ khoai cho bu tôi chỉ vì tôi 
thấy bu tôi kéo vạt áo lau nước mắt, chỉ vì trong ánh lửa rơm chập chờn giữa 
đêm khuya mả tôi thấy mắt bu tôi đỏ. Tôi đưa nửa củ khoai cho bu vì tôi biết bu 
tôi cũng đói nhưng nhường miếng ăn cho con như tất cả các bà mẹ khác. 
Cầm miếng khoai trong tay, bu tôi nhìn tôi không nói gì cả nhưng lại choàng tay 
qua kéo tôi vào lòng. Tôi biết bu tôi đang thổn thức và rồi bà khẽ nói: 
_ Con lên nhà đánh thức các anh chị dậy ăn cơm để còn kịp “ra đồng”. 
Hai chữ “ra đồng” là chỉ công việc ngoài đồng ruộng như cuốc đất, nhổ mạ, cấy 
lúa, làm cỏ, trồng rau, trồng khoai, trồng bắp (ngô) v.v..những công việc của 
nhà nông để làm ra thực phẩm mà người “thành phố”, nhất là các bạn trẻ người Mỹ 
gốc Việt không bao giờ có thể hình dung ra được nó vất vả như thế nào. 
Ngày qua ngày, bầy gà một mẹ bẩy con đùm bọc quây quần dưới mái tranh được bao 
quanh bởi lũy tre, rồi bị chạy loạn vì chiến tranh! Khi hồi cư về làng cũ thì 
chỉ còn hoang tàn đổ nát nên mẹ con lại chạy theo dòng người di tản. Thấy họ đi 
thì bà mẹ quê cũng dắt con đi, không biết đi về đâu và làm gì! Những lúc gian 
nan khốn khổ như thế chắc hẳn bu tôi lại kêu tên thầy tôi và mong chồng chỉ lối 
đưa đường cho vợ góa con côi được về nơi bình an. 
Cuối cùng thì gia đình tôi làm dân di cư trôi dạt vào Nam, về làng Bến Xúc, 
quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương năm 1954. Người nông dân thường có sức chịu đựng 
như “cỏ dại”, vất đâu cũng sống được với đất, nhưng mẹ con chúng tôi ra đi 
không mang theo ruộng vườn, chỉ có hai bàn tay nên phải xoay sở, các anh chị 
tôi lúc này đã trưởng thành nên phiêu lưu về thành phố và gia đình tôi lại di 
chuyển về 172/41 đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội, quận Bốn, Saigon. 
Bu tôi, một bà mẹ quê “lạc” về thành phố, bỏ lại sau lưng xa tít mù khơi mái 
tranh, lũy tre, ruộng vườn và nhất là mồ chồng mà sẽ không bao giờ được nhìn 
lại nên bu tôi như tàu lá úa và chỉ hồi sinh sau khi đã có tiếng bập bẹ “bà bà” 
của các cháu nội ngoại. Có lẽ đây là giây phút hạnh phúc nhất của bu tôi cũng 
như các bà mẹ khác, thương cháu chăm sóc cháu hơn thương con. 
Vẫn tưởng bu tôi được vui hưởng thái bình với cháo rau đạm bạc bên con cháu cho 
tới lúc đầu bạc răng long thì chiến tranh lại tràn về, các con trai con rể của 
cụ lên đường tòng quân, thằng Cao Nguyên, đứa Đông Hà, con trai út ở núi Sơn 
Chà thì con trai áp út ở mãi tận mũi Cà Mâu, đâu đâu cũng nghe tiếng súng nổ! 
“Đại bác đêm đêm vọng về thành phố” thì bà mẹ quê khốn khổ thức giấc ngồi tựa 
lưng vào vách, mắt nhắm, tay cầm tràng hạt, miệng đọc thầm chuỗi Mân-Côi cầu 
xin Thượng Đế ban ơn lành cho đàn con nơi lửa đạn. 
Nhưng hằng ngày bu tôi vẫn nhói tim khi nhìn những xe nhà binh GMC trên chở 
quan tài phủ cờ chạy qua cửa! Khi nghe mấy bà hàng xóm kháo nhau rằng áo quan 
phủ cờ vàng sọc đỏ là của lính chết trận đó thì bu tôi vịn tường ngồi xuống đất 
đọc kinh tiếp. 
 Rồi sáng ngày N tháng 6/1966, một xe GMC chạy vào xóm và từ từ dừng lại khiến 
bu tôi hốt hoảng khuỵu xuống, nhưng người lính TQLC tìm nhà bà Châu, bà hàng 
xóm và cũng là người cùng quê, để báo tin con trai bà là thằng Mão đã tử trận! 
Bà Châu xỉu, bu tôi hoảng hốt lo lắng muốn xỉu theo, vì Mão và tôi là bạn và 
cùng tình nguyện vàoTQLC. Mão Tiểu Đoàn 1, tôi Tiểu Đoàn 2, cả hai vừa đụng 
trận tại ngã ba sông Định, thuộc Bích La Thôn Quảng Trị, nó tử thương, tôi bị 
đạn xuyên khuỷu tay, thấy không sao nên tôi đã nói với hậu trạm là đừng báo tin 
về cho gia đình biết. Khốn thay, hậu cứ ở Thủ Đức cứ theo đúng thủ tục mà báo 
tin nên hai ngày sau lại một xe nhà binh đậu trước cửa hỏi nhà bà Tiệp, tên anh 
cả của chúng tôi, người báo tin chưa kịp nói gì thì bu tôi không còn biết gì 
nữa! 
Vì bị thương nhẹ nên tôi xin xuất viện ngay để đi phép. Bu tôi đang nằm trên 
giường bệnh, thấy tôi về, cụ ngồi bật dậy ngơ ngác nhìn con, hai tay vuốt mặt 
con, nắn vai, nắm tay con lắc lắc như muốn biết đây là thực hay chiêm bao? Bu 
tôi không nói gỉ mà chỉ khóc, có lẽ cụ khóc vì lo âu, cụ khóc vì hạnh phúc còn 
cầm được tay con vừa từ mặt trận trở về, những bà mẹ của lính chiến thấy mặt 
con lúc nào thì hạnh phúc lúc đó. Tôi xin mượn ý bài thơ MTHS: “không chết 
người con lính chiến mà chết người mẹ ở hậu phương”, người lính chiến nếu có 
chết, chỉ chết một lần, nhưng bà mẹ hậu phương thì chết dần chết mòn, chết giấc 
vì con! 
Bu tôi đã chết giấc nhiều lần như thế khi thấy mấy đứa con, đứa cháu trong họ 
hàng và cùng ở TQLC lần hồi tử trận như Tô Chiêu, Tô Sơn, Vũ Tuấn, Nguyễn Thanh 
v.v..Cuối cùng thì ngày 19/6/1969, trên con kinh Cán Gáo thuộc tỉnh Chương 
Thiện, những tiếng nổ đã loại tôi ra khỏi vòng chiến, nhưng may mắn hơn Chiêu, 
Sơn, Tuấn, Thanh v.v.., tôi còn nặng nợ, chưa đi được nên khi tỉnh dậy, thấy 
mình nằm trên giường bệnh bệnh viện, toàn thân những dây cùng nhợ! Mờ mờ nhìn 
qua lớp băng quấn đầu, tôi nhận ra bu tôi đang lấy cạy vết máu, vết sình đã khô 
trên mặt tôi, tôi mấp máy đôi môi, gọi qua hơi thở của bình dưỡng khí: 
_ “Mẹ”. 
Tiếng “Mẹ” dễ gọi dễ thương là thế nên tôi quen với chữ “Mẹ” từ đó. 
Tôi bị trọng thương, bị loại khỏi vòng chiến thì cũng là lúc mẹ tôi bớt được 
một phần lo âu, thấy tôi lê lết với đôi nạng gỗ kẹp nách thì mẹ lại mỉm cười: 
_ “Con cứ như thế này thì mẹ đỡ lo”. 
Chưa trả hết nợ nước nên tôi được hạnh phúc quanh quẩn một thời gian bên bà mẹ 
già nhà quê, bà mẹ không biết viết, không biết đọc mà chỉ biết khóc vì con. Thế 
rồi đất bằng dậy sóng, các bà mẹ lại tiếp tực vất vả vì các con, lần sau cùng 
tôi nghe mẹ khóc là khi tôi cáu kỉnh nhìn mẹ rồi vất đôi dép làm bằng vỏ xe hơi 
mà cụ đã len lén để vào túi xách cho tôi lên đường “vinh quang”. 
Sau ngày 30/4/75, ba anh em trai tôi cùng hai người anh rể đều lên đường để 
“được” cải tạo làm con người! Chẳng cần nói thêm thì ai cũng biết một bà mẹ già 
trong hoàn cảnh ấy thì “có vui bao giờ”! Nghe hàng xóm xì xào bán tán, mẹ tôi 
thật thà đi mua quần áo đen và dép râu cho các con để sớm được về đoàn tụ! 
Quá khứ đời tôi lính chiến đã khiến mẹ lo âu sợ hãi nhưng chưa lần nào tôi hỗn 
với mẹ như lần này, tôi lôi đôi dép cao su ra khỏi túi xách và quăng nó vào góc 
nhà, mẹ tôi nhìn sững tôi và chắc bà tự hỏi tại sao con lại vất những thứ cần 
thiết ấy, nó sẽ giúp con để sớm được về với mẹ. Làm sao tôi hiểu được tình 
thương mênh mông của bà mẹ quê trong khi bà cũng không biết được con trai mẹ 
đang chín từng khúc ruột. Tôi lẳng lặng cầm túi xách với bộ quần áo lên đường, 
không lời chào từ giã mẹ già đang ngồi tựa lưng vào vách mà mắt nhìn theo gót 
chân con! 
“Cải tạo” tới năm thứ chín thì tôi hay nằm mơ thấy mẹ, linh tính cho biết có 
điều chẳng lành, tôi hỏi người nhà mỗi khi đến thăm nuôi thì được biết mẹ tôi 
vẫn bình thường. Nhưng sao vẫn thấy mẹ trong giấc mơ, tôi đem chuyện hỏi lại 
thì lúc đó vợ tôi đành lôi trong túi xách ra một xấp hình đám tang mẹ tôi mà vợ 
tôi đem theo nhưng dấu kín. Tôi không còn nước mắt để khóc mẹ vì tôi đã không 
chào mẹ khi ra đi, không biết rằng đó là lúc chào lời vĩnh biệt, không biết ai 
vĩnh biệt ai. Mẹ tôi khóc vì các con phải đi xa khi đã thái bình khiến mẹ mù 
lòa! Mẹ tôi ra đi vĩnh viễn khi tôi chưa quay về! 
“Lòng mẹ thương con như biển Thái Bình dạt dào”, lòng mẹ như bị dao chém mỗi 
khi nghe tin con “thắng trận” trở về, “trở về trên đôi nạng gỗ, trở về hòm gỗ 
cài hoa”! Lời nào nói cho đủ, viết cho hết trong vài trang giấy! Những bà mẹ dù 
quê hay thành phố, dù bên này hay bên kia đều là Mẹ Việt Nam. Mẹ VN thì lúc nào 
cũng vui và khổ đau theo đời sống thăng trầm của các con, không vui khi các con 
không vui với nhau. Khổ đau biết bao những bà mẹ của các anh lính chiến luôn 
canh cánh bên lòng, lo sợ phải rên rỉ câu: 
 _“Lá vàng đeo đẳng trên cây, lá xanh rụng xuống !!!” 
Những ai còn mẹ, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa thì xin chớ có cử chỉ đáng trách 
như tôi đã phạm đối với “bà Mẹ quê” để khỏi phải ân hận khôn nguôi./. 

Other related posts: