[SMCC] Re: Nhac Tai Tu Nam Bo

cám ơn anh dần rất nhiều. Các bài chuyên khảo này hay quá
Tran Ba Thien
tranbathien@xxxxxxxxx

  ----- Original Message ----- 
  From: VanDan 
  To: smcc@xxxxxxxxxxxxx 
  Sent: Sunday, April 20, 2008 7:27 PM
  Subject: [SMCC] Nhac Tai Tu Nam Bo


  Nguyễn Tấn Nhì

  Đờn ca là một nhu cầu giải trí cũng như để phục vụ cho những ngày lễ quan , 
hôn , tang , tế , đã có mặt lâu đời từ khi người Việt Nam định cư lập ấp tại
  đất nam bộ ( Trịnh Hoài Đức – Gia Định Thành Thông Chí ) .

  Giữa cuối thế kỷ 19 , nhạc cổ truyền được phổ biến ở đất Nam Bộ phần lớn là 
do các thầy đờn gốc miền Trung cùng một số sĩ tử ra kinh đô Huế du học mang
  về ( Phan Hiển Đạo , Tôn Thọ Tường …) . Nhạc cổ lúc ấy còn nghèo nàn về bài 
bản cũng như hơi điệu , chỉ vài bản Lý , vài bản hơi Bắc , Nam , Dựng ...

  Từ khi ông Nguyễn Quang Đại tức Ba Đợi mà dân gian tương truyền ông là một 
nhạc quan của triều đình vào đất nam bộ ( có lẽ vào năm vua Hàm Nghi xuất bôn
  1885 ) để làm nghề dạy nhạc , thâu nhận học trò , thì từ đó nhạc cổ trở thành 
một phong trào đờn ca có tính cách vui chơi giải trí rộng khắp ở các tỉnh
  miền đông và còn lan sang các tỉnh miền tây Nam Bộ . Phong trào nầy được gọi 
là phong trào đờn ca tài tử . Sở dĩ có tên gọi như vậy là vì phong cách chơi
  nhạc có vẻ phong lưu tài tử mà hơn nữa Nhạc Tài Tử chỉ bao gồm những bài bản 
bác học , loại nhạc tinh hoa nhứt trong nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam .

  Ông Nguyễn Quang Đại đem loại hình ca nhạc Huế mà từ lâu chỉ dành riêng cho 
những thành phần thượng lưu quí tộc như vua chúa , quan lại , đem ra phổ biến
  rộng khắp trong mọi từng lớp nhân dân . Ông đã dạy nhạc nhiều nơi và dạy 
nhiều học trò gồm đủ thành phần công nhân , nông dân , trí thức , nhứt là tại
  miệt Cần Giuộc , Cần Đước , dấu ấn của ông để lại rất rõ nét . Ông lấy vợ 
sanh con , dạy rất nhiều học trò thành danh như các ông Sáu Thoàn ( cò ) , Chín
  Chiêu ( kìm ) , cô Sáu Giỏi ( kìm ) , cô Bảy Lung ( tranh ) , ông Xã Năm ( 
tiêu ) , Năm Tịnh ( tranh , tỳ bà ) , Hai Bầu ( cò ) , Năm Khiết ( thân sanh
  cô Tư cầu Mồng Gà , một ca sĩ nhạc tài tử nổi danh lúc bấy giờ ) , Bảy Đờn , 
Mười Bầu , Bảy Vô ( nhạc sĩ tham dự Vạn Quốc Bác Lãm Hội Paris , Pháp Quốc
  1900 ) , Tám Ra , Mười Lăng , Chín Kỳ , Năm Cần , Cả Cương , Tư Chợ…Trong 
khoảng thời gian rất ngắn , không hổ danh là một nhạc công của triều đình , ông
  đã đào tạo cho vùng Cần Đước , Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An nhiều ban nhạc 
tài tử có căn cơ bài bản vững chắc và nhiều thầy đờn có ngón đờn tài ba đi làm
  thầy dạy nhạc khắp miền lục tỉnh . Nhờ thế mà Cần Đước nổi danh trong giới 
đờn ca tài tử với câu “Nhứt Bạc Liêu Nhì Cần Đước” ( Bạc Liêu giỏi về ca , Cần
  Đước – Long An giỏi về đờn ) .

  Ông đã làm 3 việc rất quan trọng để nâng cao nhạc Tài Tử là cải biên những 
bài bản đã có sẵn của ca nhạc Huế , sáng tác những bài bản có hơi điệu mới và
  hệ thống hơi điệu cho từng bài bản . Chính cuộc cách mạng nầy trong âm nhạc 
đã hấp dẫn quần chúng đua nhau theo học nhạc dân tộc rất nhiều . Ông đã dần
  dần hệ thống bài bản và hơi điệu , tạo ra phong cách chơi nhạc tài tử thích 
hợp với cuộc sống nhàn rỗi của nông thôn . Khi rảnh công việc đồng áng , cuộc
  chơi đờn ca tài tử có thể kéo dài thâu đêm suốt sáng . Do đó bài bản thường 
cấu trúc nhiều câu nhiều lớp , có lớp thủ , lớp vĩ , lớp hồi thủ . Mỗi lần
  đờn ca còn phải liên kết nhiều bài bản thì người chơi đờn cũng như khách mộ 
điệu mới cảm thấy thỏa thích .

  Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 , tại Nam Bộ đã có 2 nhóm nhạc Tài Tử tranh 
đua nhau quyết liệt về sáng tác bài bản để thu hút môn đệ về mình . Đó là nhóm
  nhạc Tài Tử Miền Đông do ông Nguyễn Quang Đại tức Ba Đợi ở Cần Đước – Long An 
làm trưởng nhóm và nhóm nhạc Tài Tử Miền Tây do ông Kinh Lịch Trần Quan Qườn
  ở Vĩnh Long làm trưởng nhóm . Nhờ sự tranh đua nầy mà vô tình làm cho kho 
tàng nhạc Tài Tử thêm phong phú về hơi điệu và bài bản . ( Danh từ Đông và Tây
  ở đây là dùng để chỉ Miền Đông Nam Bộ bao gồm 3 tỉnh Biên Hòa , Gia Định , 
Định Tường , Miền Tây Nam Bộ bao gồm 3 tỉnh Vĩnh Long , An Giang , Hà Tiên của
  Nam Kỳ Lục Tỉnh xưa ) .

  Nhóm Nhạc Miền Tây được sự cộng tác của các ông Nguyễn Liêng Phong ( thầy đờn 
kiêm nhà văn ) , Phạm Đăng Đàng ( sĩ phu yêu nước gốc miền Trung bị giặc Pháp
  lưu đày , soạn bài ca ) , cùng các thầy đờn danh tiếng như cụ Thập , cụ Thủ , 
chủ trương duy trì nguyên tắc đã được các bài bản của ca nhạc Huế áp dụng
  để cấu tạo âm thanh , vẫn giữ đúng 3 nhịp Nội , Ngoại Hoán Pháp và Chánh Thất 
, thâu nạp một số bài bản có sẵn và đồng thời sáng tác mới nhưng vẫn giữ
  nguyên vẹn phương thức , âm tiết của nhạc miền Trung . Do đó các sáng tác của 
nhóm này mặc dầu có nhiều , thí dụ như những bản Hiệp Điệp Xuyên Hoa , Thanh
  Đình Điểm Thủy , Kim Oanh Trịch Liễu…nhưng giới chơi nhạc Tài Tử không hưởng 
ứng .

  Trái lại , nhóm Nhạc Miền Đông được sự cộng tác của nhiều văn nhân lổi lạc 
cùng với số học trò tài ba của ông Nguyễn Quang Đại như : Sáu Thới , Bảy Nhỏ
  , Tám Hạnh , Cao Quỳnh Cư , Cao Quỳnh Diêu , Sáu Thoàn , Chín Chiêu , Năm 
Tịnh , Năm Khiết , Ba Đồng , Năm Quýnh , Năm Cần , Giáo Thinh , Cao Hoài Sang
  , đã cải biên các bài bản của ca nhạc Huế bằng cách giản dị hóa lối ấn nhịp 
để tạo ra nhạc điệu hòa hợp với ngôn ngữ của dân miền đất nam bộ . Bài bản
  chỉ có 2 loại nhịp : nhịp Nội và nhịp Ngoại .

  Nhóm Nhạc Miền Đông vẫn tôn trọng nguyên tắc truyền thống là Nhạc Tài Tử được 
xây dựng trên nền tảng triết học đông phương “Nhạc giả âm chi sở do sanh giã”,
  loại nhạc tâm tấu , được sáng tạo chữ đờn khi cảm hứng , nên không chủ trương 
sáng tác nhiều bài bản , chỉ sắp xếp chung một số bài bản tiêu biểu có cùng
  hơi điệu . Sự sắp xếp nầy đã hình thành 4 loại bài bản tượng trưng cho 4 hơi 
điệu Bắc , Nam , Hạ , Oán , chỉ gồm có 20 bài bản được cấu trúc tại Miền Đông
  mà giới nhạc tài tử gọi là 20 bản Tổ đã đại diện đầy đủ hơi điệu đờn ca tài 
tử .

  Bấy lâu , giới ca nhạc tài tử ít chú ý tới việc phân biệt cung , điệu , giọng 
, hơi … nhưng từ khi hệ thống 20 bản Tổ xuất hiện thì điệu có cấu trúc chữ
  đờn một cách đặc thù xuyên suốt bản nhạc , hơi có cấu trúc do nhấn nhá phím 
đờn mà tạo ra . Nhạc ta không dùng định nghĩa của thang âm điệu thứcnhạc tây
  phương để gọi tên hơi điệu vì phong cách chơi nhạc đông tây hoàn toàn khác 
nhau .

  Từ đầu thế kỷ 20 , giới chơi Nhạc Tài Tử muốn tranh đua , thách thức nhau đều 
mang 20 bài bản thuộc 4 hơi điệu Bắc , Nam , Hạ , Oán ra làm căn bản để so
  tài .

  Các bài bản Tổ gồm có 20 bài chia ra thành 4 nhóm :

  Sáu bản Bắc , đại diện cho điệu Bắc là : Lưu Thủy Trường , Phú Lục Chấn , 
Bình Bán Chấn , Cổ Bản Vắn , Xuân Tình Chấn và Tây Thi Vắn .

  Ba bản Nam , đại diện cho điệu Nam là : Nam Xuân , Nam Ai , Nam Đảo ( Đảo Ngũ 
Cung ) .

  Bảy bản Nhạc Lễ cũng còn gọi là 7 bài Cò , đại diện cho điệu Hạ : Xàng Xê , 
Ngũ Đối Thượng , Ngũ Đối Hạ , Long Đăng , Long Ngâm , Vạn Giá và Tiểu Khúc .

  Bốn bản Oán , đại diện cho điệu Oán là : Tứ Đại Oán , Phụng Hoàng Cầu tức 
Phụng Hoàng , Cửu Khúc Giang Nam và Phụng Cầu Hoàng Duyên tức Phụng Cầu .

  Giới chơi Nhạc Tài Tử Miền Đông đã truyền khẩu cho nhau 2 câu đối “Thức thời 
tối thiểu lão thông nhị thập quyền Tổ Bản , Quán thế thậm đa lịch luyện thất
  thập nhị huyền công” để làm khuôn vàng thước ngọc cho sự rèn luyện kỹ thuật , 
học thuộc căn cơ 20 bài bản Tổ , và rèn luyện nghệ thuật so dây nắn phím
  , nhấn nhá làm sao để đạt được trình độ bát tuyệt ( Thanh , Kỳ , U , Nhã , Bi 
, Tráng , Du , Trường ) .

  I . ĐIỆU BẮC :

  Điệu nhạc vui tươi , có mặt từ đời Lý , Trần , Lê , xuôi dòng nam tiến đi vào 
Đường Trong và phát huy rực rỡ tại kinh đô của triều Nguyễn . Ca nhạc Huế
  đã cung cấp rất nhiều bài bản Bắc cho Nhạc Tài Tử Nam Bộ . Có người cho chữ 
Cung Bắc hoặc Điệu Bắc là cung điệu có ảnh hưởng nhạc Trung Hoa , một nước
  nằm ở phương bắc nước ta , có người lại cho là điệu nhạc của Đường Ngoài do 
các vua Lý , Trần , Lê sử dụng từ lâu , có một số người cho rằng , sở dĩ gọi
  Cung Bắc , Cung Nam là gọi theo dịch lý âm dương của triết học đông phương , 
khi mới sanh ra ở hướng bắc thuộc thời kỳ thiếu dương , vạn vật bừng sức sống
  nên nhạc điệu Bắc nghe vui tươi , trái lại khi vòng “sanh thành hoại diệt.” 
hướng về nam thì vạn vật ủ rủ nên điệu Nam nghe buồn thảm .

  Không biết có phải hiểu rõ về dịch lý âm dương hay chỉ là vô tình mà buổi đờn 
ca tài tử bao giờ cũng mở đầu bằng điệu Bắc .

  Cấu trúc âm thanh của Điệu này dùng chữ theo hệ thống ngũ cung chánh là Hò , 
Xự , Xang , Xê , Cống , không nhấn không rung , lấy âm Xàng Liu làm âm chủ
  . Sáu bản Bắc tiêu biểu , mỗi bản lấy một chữ trong hệ thống ngũ cung chánh 
làm chữ khởi đầu như : Lưu Thủy Trường (Hò ) , Phú Lục Chấn (Xự ) , Bình Bán
  Chấn ( Xang ) , Cổ Bản Vắn ( Xê ) , Xuân Tình Chấn ( Cống ) , Tây Thi Vắn ( 
Liu đồng âm với Hò nhưng ở cung cao ) . Bốn bản đầu là 4 bản được cải biên
  và nới nhịp theo phong cách nhạc Tài Tử Nam Bộ của 4 bản ca nhạc Huế . Bản 
Xuân Tình là một sáng tác mới , chỉ lấy cái tên Xuân Tình trong bản Xuân Tình
  Điểu Ngữ ghi trong nhạc mục đời vua Tự Đức . Bản Tây Thi do nhóm nhạc sĩ đi 
dự Vạn Quốc Bác Lãm Hội tại Paris ( Pháp Quốc ) năm 1900 , sáng tác để mỉa
  mai chuyện cổ nhạc Việt Nam đi Tây thi trước hội đồng giám khảo toàn là người 
Pháp . Sáu bản Bắc lại được chia ra làm 6 bản Bắc Thủ và 6 bản Bắc Vĩ . Mỗi
  bản có 3 cách nhịp : cấp điệu ( nhịp tẩu ) , trung điệu ( nhịp vắn ) và quãng 
điệu ( nhịp chấn , nhịp trường ) . Như vậy điệu Bắc có 18 bản Thủ và 18 bản
  Vĩ gọi là Thập Bát Thủ và Thập Bát Vĩ . Thông thường trong buổi đờn ca thì 6 
bản Bắc được chơi từng cặp theo thứ tự Lưu Thủy Trường - Phú Lục Chấn , Bình
  Bán Chấn - Xuân Tình Chấn , Tây Thi Vắn - Cổ Bản Vắn . Thủy là nước nên người 
xưa có quan niệm nước là điều kiện đầu tiên để mọi sanh vật sống và phú trong
  Phú Lục lại lấy nghĩa là giàu có nên do đó 2 bản Lưu Thủy Trường và Phú Lục 
Chấn thường được mở đầu nhằm mục đích chúc tụng nhau làm ăn giàu có như nước
  chảy xuôi dòng . Đây cũng là một ý nghĩa đẹp đẻ của người đi trước .

  II . ĐIỆU NAM :

  Theo Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh thì nguồn gốc 2 bản Nam Xuân 
và Nam Ai như sau : “ Ở miền Nam , từ khi chúa Nguyễn khai thác bờ cõi vào đất
  Chiêm Thành , âm nhạc ở miền Bắc truyền vào đã chịu ngay ảnh hưởng của âm 
nhạc Chiêm mà thành những nhạc khúc cung Nam , người ta hay đem đối với các nhạc
  khúc cung Bắc . Những cung Nam như Nam Ai , Nam Bình , Nam Xuân có vẻ trầm bi 
, oán vọng hợp với tâm thuật của một dân tộc điêu tàn là dân tộc Chiêm Thành
  cùng với cảnh non nước dịu dàng ở xung quanh kinh đô Huế . Những cung Bắc ( 
khách ) như Lưu Thủy , Phú Lục , Cổ Bản , 10 bản Tàu , thì có vẻ linh hoạt
  , vui vẻ , mạnh mẽ hơn , thật thích hợp với tính chất tiến thủ , hăng hái của 
người Bắc Việt , cùng với cánh điền rộng rãi , sông ngòi mãnh liệt ở miền
  Trung Châu .

  “Trong khi âm nhạc ở Đường Ngoài đương suy thì ở Đường Trong các chúa Nguyễn 
cùng các bực vương công ham chuộng , và nhờ ảnh hưởng của Chiêm nên trở thành
  phong phú và thạnh vượng lên .”

  Ông Thái Văn Kiểm trong Cố Đô Huế dẫn lời cụ Ưng Bình Thúc Giạ : “ïCác điệu 
ca Huế thì có lẽ như mới sản xuất từ đời chúa Minh , Tộ Quốc Công Nguyễn Phước
  Châu ( 1691-1725 ) . Lúc bấy giờ thủ phủ miền Trung đã đặt tại làng Phú Xuân 
, huyện Hương Trà , vào chỗ đông nam kinh thành Huế hiện nay . Chính trong
  khung cảnh mỹ lệ nầy mà các điệu ca Huế đã lần hồi xuất hiện . Chính chúa 
Minh là người sáng tác ra bài Ai Giang Nam tức tiền thân bản Nam Ai của ca nhạc
  Huế mà cụ Ba Đợi đã lấy để cải biên và soạn lại thành bản Nam Ai ca nhạc Tài 
Tử .

  Điệu Nam gồm có 3 bản Nam Xuân , Nam Ai và Nam Đảo ( Đảo Ngũ Cung ) cấu trúc 
bằng 5 âm chánh Hò , Xự , Xang , Xê , Cống , nhưng nhấn và rung ở những chữ
  Xừ Xang Xê Cống . Những láy đờn thường gói gọn trong một ngũ cung . Ba bản 
nhạc này có 3 âm sắc khác nhau không ảnh hưởng của hơi điệu nào trong nhạc Tài
  Tử .

  1 . Nam Xuân :

  Ở ca Huế , Nam Xuân chính là biến thể của bản Nam Bình . Ở nhạc Tài Tử , ông 
Ba Đợi cải biên , thêm câu , sửa nhịp , đã trở thành bản mới , được chọn làm
  tiêu biểu cho hơi Xuân . Tính chất ung dung , nhẹ nhàng , man mác vì chỉ nhấn 
và rung nhẹ ở chữ Xừ , chữ Xang , chữ Xê . Âm chủ của hơi Xuân là Xàng Xang
  . Nếu ta dùng khái niệm cứng ( Bắc ) mềm ( Ai ) thì hơi Xuân còn giữ một phần 
độ cứng của điệu Bắc .

  2 . Nam Ai :

  Ông Ba Đợi cải biên từ bản Nam Ai của ca nhạc Huế . Nhấn và rung mạnh ở chữ 
Xự , chữ Xang và qua Lớp Mái nhấn và rung mạnh chữ Cộng nên điệu nhạc nghe buồn
  thảm , tỉ tê , bi lụy và nức nở vì có những nhịp đảo phách trong lòng câu .

  3. Nam Đảo ( Đảo Ngũ Cung ) :

  Bản được ông Ba Đợi viết mới . Cấu tạo bởi 2 hơi Xuân và Bắc cùng hơi Dựng . 
Nam Đảo hình thành trên thang âm Hò , Xự , Xang , Xê , Cống và cấu trúc câu
  đều có sự đảo lộn trên 5 cung , lại xen lẫn với điệp khúc Xề Ú Liu Phan , 
nghe như có sự đảo cung từ hơi dây này sang hơi dây kia . Từ bản Nam Ai đờn 
chuyển
  sang bản Đảo Ngũ Cung , dòng nhạc biến đổi tính chất khẩn trương , quyết liệt 
.

  Xưa đờn ca 3 bản Nam thì phải đờn ca liên hườn Nam Xuân , Nam Ai và Nam Đảo , 
gồm 239 câu . Song , 3 bản nầy vì có nhiều lớp trùng lập nên hiện tại giới
  chơi nhạc Tài Tử đờn tắt liên lớp hoặc đờn từng bản và bỏ bớt những lớp trùng 
. Lớp Trống Xuân được các ông Sáu Thoàn , Chín Chiêu ( Cần Đước ) chuyển
  từ hơi Xuân qua hơi Ai tiếp sau bản Nam Đảo và chuyển cung từ Hò Tư sang Hò 
Nhứt và gọi là 2 lớp Song Cước .

  III . ĐIỆU HẠ :

  Ông Ba Đợi không những dạy nhạc Tài Tử mà còn bổ sung và chấn chỉnh bộ môn 
Nhạc Lễ đã có sẵn tại Cần Đước do các ông thầy đờn tên Sâm , Hồ , Ngô , Đạo 
truyền
  dạy . Bốn ông nầy không biết ở thời đại nào tại vùng Cần Đước nhưng tương 
truyền tài năng của các ông qua câu “ Sâm Hồ Ngô Đạo nhứt dĩ quán chi” là rất
  giỏi nghề . Ông Ba Đợi đã đem 7 bài Nhạc Lễ còn gọi là 7 bài Cò hay 7 bài Dây 
Nhạc truyền dạy cho các môn đệ nhạc Tài Tử . Bảy bài này cùng hệ thống điệu
  Bắc nhưng dùng chữ Xề Ú làm âm chủ , có cấu trúc chữ đờn đối nghịch với hơi 
điệu Bắc và nhất là đờn cò , kìm , ghi ta , tỳ bà , tam phải lên dây nhạc (
  nhạc Lễ ) thì ta mới thấy hơi Hạ khác với hơi Bắc nhờ dây buông đúng vào âm 
chủ .

  Bảy bài Nhạc Lễ dùng trong các buổi tế lễ , tính chất trang nghiêm , được 
nhạc Tài Tử hóa với từng bản một ý nghĩa :

  1 . Xàng Xê :

  Theo người xưa , Cung Xàng áng theo thuyết âm dương ngũ hành là Thủy ( nước ) 
và Xê là Hỏa ( lửa ) , do tương khắc tương sanh mà 2 cung Xàng và Xê đã hài
  hòa cấu tạo âm thanh tạo nét sinh động phù hợp lẽ sống cuộc đời .

  2 . Ngũ Đối Thượng :

  Năm điều ngũ thường Nhân , Nghĩa , Lễ , Trí , Tín mà cổ nhân luôn quan tâm 
khi đề cập người trên đối với kẻ dưới .

  3 . Ngũ Đối Hạ :

  Năm điều Ngũ Thường Nhân , Nghĩa , Lễ , Trí , Tín mà kẻ dưới đối với người 
trên .

  4 . Long Đăng :

  Đèn rồng ( rồng tượng trưng vua ) .

  5 . Long Ngâm :

  Khúc ngâm về rồng tức vua .

  Năm Hưng Long thứ 18 ( 1310 ) đời vua Anh Tôn , đưa tử cung Nhân Tôn Thượng 
Hoàng từ điện Diên Hiền đến táng ở lăng Quy Đức . Lúc cử hành lễ phát dẫn ,
  dân chúng đi xem đầy đường không làm sao rước được xe tử cung , quan Chỉ Hậu 
Chánh Chưởng là Trịnh Trọng Tử phải theo lối cổ vãn đặt ra khúc Long Ngâm
  cho quân sĩ đi hai bên đường vừa đi vừa hát . Dân chúng xô nhau đến nghe hát 
, bấy giờ mới rước được xe tử cung đi ) . Bản Long Ngâm của Trịnh Trọng Tử
  có lẽ đã thất truyền . Bản Long Ngâm nhạc Lễ được sáng tác tại Nam Bộ .

  6 . Vạn Giá :

  Mười ngàn xe của vua .

  7 . Tiểu Khúc :

  Một khúc nhạc ngắn nhứt , tóm tắt hơi điệu của 6 bản nhạc đầu nên nó được 
mang tên Tiểu Khúc .

  IV ĐIỆU OÁN :

  Gồm có 4 bản : Tứ Đại Oán , Phụng Hoàng Cầu , Cửu Khúc Giang Nam và Phụng Cầu 
Hoàng Duyên .

  Điệu Oán , là một điệu đặc thù được sáng tạo tại đất Nam Bộ . Ông Ba Đợi 
chuyển hơi , chuyển cung và phát triển bản Tứ Đại Cảnh của ca nhạc Huế từ hơi 
Bắc
  dựng thành hơi Oán . Giai đoạn đầu , khoảng cuối thế kỷ 19 , bài bản Tài Tử 
có thêm một bản có hơi Oán và đó là bản Tứ Đại Vắn cũng còn gọi là bản Tứ Đại
  Cảnh Nam Phần nhịp tư . Giai đoạn tiếp theo , những ngày đầu thế kỷ 20 , bản 
Tứ Đại Vắn được phát triển từ nhịp tư sang nhịp 8 , được phân câu , phân lớp
  , nhịp nội , nhịp ngoại , gỏ mô , đờn chầu thì hơi điệu Oán mới xứng danh là 
một điệu riêng biệt với hơi Ai của điệu Nam . Điệu Oán có cấu trúc các láy
  đờn thường đi từ 2 ngũ cung và một điểm đặc thù của điệu này là nhiều câu 
trong các lớp thường xuyên có mặt chữ Oan ( chữ Phan nhấn và rung mạnh ) nên
  nghe buồn nhưng kiểu buồn bi hùng .

  Bản Tứ Đại Cảnh tiền thân của bản Tứ Đại Oán , tương truyền là của vua Tự Đức 
sáng tác để ca ngợi 4 cảnh lớn của trời đất : Xuân , Hạ , Thu , Đông , nhưng
  cũng có người cho là vua Tự Đức có ngụ ý tôn vinh bốn cảnh đời thạnh trị của 
vua Gia Long , Minh Mạng , Thiệu Trị , Tự Đức ( chữ Đại là Đời ) .

  Tên Tứ Đại Oán cũng có nhiều thuyết :

  1 . Để đối lại sự tôn vinh 4 cảnh đời vua triều Nguyễn , giới nhạc Tài Tử Nam 
Bộ đã mĩa mai chế độ phong kiến triều Nguyễn vì bất lực trước nạn ngoại xâm
  , phế lập tùy tiện liên tiếp 4 đời vua Dục Đức , Hiệp Hòa , Kiến Phúc , Hàm 
Nghi mà mảnh đất thân yêu của tổ quốc cũng bị rơi vào tay giặc . Đúng là 4
  cái oán lớn hoặc 4 đời oán hận của 4 đời vua sau vua Tự Đức .

  2 . Sở dĩ bản Tứ Đại được mang tên Tứ Đại Oán là vì cấu trúc âm thanh có ưu 
thế của số lượng chữ Oan ( chữ Cộng nhấn mạnh , ở hơi Nam gọi là Phan , ở hơi
  Oán gọi là Oan ) .

  3 . Một số nhạc sĩ ảnh hưởng thuyết Phật Giáo cho con người luôn bị đau khổ 
bởi Tứ Diệu Đế là Sanh , Lão , Bịnh ,Tử .

  Sự đúng hay sai của các thuyết trên cần phải được nghiên cứu tiếp . Đối với 
các nhạc sĩ Tài Tử , chữ Oán trong âm nhạc là để chỉ một điệu nhạc buồn sâu
  xa nhưng bi hùng chớ không bi lụy như hơi Ai trong điệu Nam . Hơi điệu Oán 
khi vừa xuất hiện , đã tạo được một thời vàng son không thua kém gì bản Vọng
  Cổ ngày nay . Điệu Oán là một âm điệu chủ đạo của nền ca nhạc Tài Tử Nam Bộ 
qua nhiều thập niên liên tiếp . Các tập bài ca Tứ , Lục , Bát , Thập Tài Tử
  xuất bản từ năm 1909 đến 1915 tại Sài Gòn đã minh chứng điều này . Một điểm 
quan trọng khác nữa là vào năm 1915 bản Tứ Đại Oán Bùi Kiệm Nguyệt Nga là bản
  ca Tài Tử đầu tiên được ông Tống Hữu Định tục danh ông Phó Mười Hai ở Vĩnh 
Long đưa lên bộ ván để ca ra bộ , mở màn cho sân khấu cải lương ra đời .

  Sự cấu trúc của bản Tứ Đại Oán rất chặt chẽ về mặt văn học nghệ thuật . Theo 
quyễn Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam của học giả Trần Văn Khải , một nhà sưu
  tầm nghiên cứu rất uy tín , thì người sáng tác bản Tứ Đại có thể là một nhạc 
sư kiêm thi sĩ . Bản Tứ Đại là một bài thơ Bát Cú Đường Luật . Các Lớp 1 ,
  2 , Xang Dài 1 , Xang Dài 2 , Xang Vắn 1 , Xang Vắn 2 , Hồi Thủ , Xang Dứt , 
tương ứng với các câu Phá , Thừa ,Cặp Trạng , Cặp Luận , Câu Chuyển , Câu
  Kết của bài thơ Đường .

  Cửu Khúc Giang Nam được lấy điển tích nàng Tô Huệ thương nhớ chồng đau đớn 
chín khúc ruột nơi đất Giang Nam mà đặt tên .

  Bản Phụng Hoàng Cầu tức Phụng Hoàng và bản Phụng Cầu Hoàng Duyên tức Phụng 
Cầu được gọi tên như vậy là mượn ở điển tích Tư Mã Tương Như , lúc hàn vi , khảy
  khúc Phượng Cầu Hoàng mà được vợ là Trác Văn Quân .

  Ngoài 4 điệu Bắc , Nam , Hạ , Oán và 3 hơi Xuân , Ai , Đảo ra thì nhạc Tài Tử 
chưa tìm được ra hơi điệu nào mới mẽ mà còn giữ được bản sắc thuần túy dân
  tộc . Tuy nhiên đợi đến khi nhóm nhạc Miền Đông Nam Bộ mà trưởng nhóm là ông 
Nguyễn Quang Đại tức Ba Đợi , lần đầu tiên đem ra giới thiệu với khách mộ
  điệu nhân dịp vua Thành Thái vào Sài Gòn ( 1898 - 1899 ) thì nhạc Tài Tử lại 
có thêm hơi Ngự . Hơi Bắc Ngự có các bản Đường Thái Tôn , Vọng Phu , Chiêu
  Quân , Aùi Tử Kê , Bát Man Tấn Cống , hơi Ai Ngự gồm 2 bản Tương Tư và Duyên 
Kỳ Ngộ , hơi Ai Oán Ngự , bản Quả Phụ Hàm Oan .

  Qua tên Ngự , tác giả muốn dành riêng những bài bản âm nhạc nầy để vua nghe . 
Cụ Ba Đợi dùng âm nhạc thay ngôn ngữ để thể hiện lòng mong đợi , sự trung
  thành , yêu nước mến vua của nhân dân miền Nam mà nội dung chứa đựng trong 
từng bản :

  1 . Đường Thái Tôn :

  Aùm chỉ vua Thành Thái là vị vua anh minh như vua Đường Thái Tôn ở Trung Quốc 
.

  2 . Vọng Phu :

  Nhân dân Nam Bộ tưởng nhớ vua như vợ nhớ chồng .

  3 . Chiêu Quân :

  Lòng người miền Nam trung quân , tiết liệt như nàng Chiêu Quân hy sinh cho 
đất nước , đem thân cống Hồ , khi chết thi thể cũng quay về tổ quốc .
  4 . Aùi Tử Kê :

  Đất Nam Bộ bị giặc Pháp chiếm . Nhân dân Nam Bộ như đàn gà con mất mẹ . Hãy 
thương bầy gà con .

  5 . Bát Man Tấn Cống :

  Nhớ thuở huy hoàng , Việt Nam là một cường quốc , các nước nhỏ phải hàng năm 
triều cống ( Có lẽ tên Bát Man là do đời Nhà Nguyễn , năm Minh Mạng thứ 7 (
  1826 ) , bà Hoàng Thái Hậu lên thọ lục tuần đại khánh , quan Hữu Tư dựng thái 
lâu ở cửa Tiên Thọ , trong bày các thứ âm nhạc . Vua cùng các quan rước Hoàng
  Thái Hậu lên xem nhạc công múa khúc Trinh Tường rồi hòa bản nhạc Bát Man ) .

  6 . Tương Tư :

  Nhân dân Nam Bộ lúc nào cũng tưởng nhớ đến vua mình .

  7 . Duyên Kỳ Ngộ :

  Đất Nam Bộ đã giao cho Pháp , bất ngờ lại được gặp vua mình . Đây quả là 
duyên kỳ ngộ .

  8 . Quả Phụ Hàm Oan :

  Vua tưởng rằng tất cả người dân Nam Bộ đều ham mê bơ sữa , hùa theo tân trào 
, nhưng cũng còn có nhiều người muốn đuổi giặc Pháp xâm lăng . Nhân dân Nam
  Bộ giống như người quả phụ bị hàm oan .

  Tám bản Ngự là những bản nhạc nói lên lòng mình với nhà vua nên âm hưởng ít 
nhiều phảng phất chất điệu nhạc cung đình . Đờn Ngự , đờn kìm phải lên dây Bắc
  Hò Nhứt ( Xàng Liu ) , nếu đờn Hò Tư gọi là dây Quả Phụ , Hò Nhì gọi là dây 
Nhị Ngũ , nhấn nhá ra hơi Bắc Ngự , hơi Ai Ngự hoặc hơi Ai Oán Ngự thì hơi
  Ngự mới rõ nét và không lẫn lộn với hơi Ai , hơi Oán .

  Một hệ thống phân loại khác được cụ Huỳnh Thúc Kháng viết trên báo Tiếng Dân 
xuất bản tại Huế được cụ GiáoThinh phân tích trên nhựt báo Công Nhân năm 1957
  , đã phân chia bài bản cổ nhạc Việt Nam thành 10 loại : Nhứt Lý , Nhì Ngâm , 
Tam Nam , Tứ Oán , Ngũ Điếm , Lục Xuất , Thất Chánh , Bát Ngự , Cửu Nhĩ và
  Thập Thủ Liên Huờn . Hệ thống nầy không phù hợp với bài bản Nhạc Tài Tử , kê 
khai kể cả thể loại dân ca mà lại không kê khai hết tổng số bài bản nhạc Tài
  Tử cũng như không nói lên được hệ thống các hơi điệu . Có những bài bản của 
hơi điệu loại này đã trùng lập với bài bản hơi điệu loại kia , thí dụ như loại
  Ngũ Điếm , Lục Xuất , Cửu Nhĩ , Thập Thủ Liên Huờn đều thuộc hơi điệu Bắc , 
và loại Lục Xuất có những bài bản trùng lập với loại Ngũ Điếm và Thập Thủ Liên
  Huờn .

  Bài bản Nhạc Tài Tử Nam Bộ có trên dưới gần 100 bản , thí dụ như nhóm nhạc 
miền Đông còn nhiều bản nhạc rất hay như bộ Ngũ Châu của ông Ba Đợi ( điệu Bắc
  ) , Trường Tương Tư cải biên từ bản Nam Bình của ca nhạc Huế ( điệu Ai Oán ) 
, Văn Thiên Tường tương truyền do ông Trần Quang Thọ ở Mỹ Tho sáng tác nhân
  cái chết của nhà yêu nước Thủ Khoa Huân ( điệu Ai Oán ) , bản Võ Tắc Biệt , 
một sáng tác đối lại với bản Văn Thiên Tường ( điệu Ai Oán ) , 4 bản oán phụ
  hay ngoại oán như Nguơn Tiêu Hội Oán , Võ Văn Hội Oán , Bình Sa Lạc Nhạn và 
Thanh Dạ Đề Quyên ( điệu Oán ) , 2 bản Hội Nguơn Tiêu ( điệu Bắc ) và Bát Bản
  Chấn ( điệu Bắc có biến thể ) , bộ Tam Bắc Nhị Oán của Mõ Cày – Bến Tre , bản 
Xuân Nữ ( điệu Ai Oán ) và bộ Tứ Bửu của nhóm Tài Tử Bạc Liêu ( điệu Bắc
  ) rất được thông dụng nhưng hơi điệu không nằm ngoài 20 bài bản Tổ .

  Ngày 24-2-1979 nhạc sĩ Chín Tâm đã thỏa mản phần nào nhu cầu về bài bản , 
bằng cách đưa ra bản điều chỉnh sự phân loại 10 loại bài bản cổ nhạc miền Nam
  . Nguyên văn bản phân loại đó như sau :

  “ Mười loại bài bản của cổ nhạc miền Nam đã được nhạc sư Nguyễn Văn Thinh 
phân ra mỗi loại có những bản gì trên nhựt báo Công Nhân năm 1957 . Nay do đề
  nghị điều chỉnh và được nhạc sư Nguyễn Văn Thinh sắp xếp lại những bản của 
hai loại thứ sáu và thứ chín như sau :

  “Nhứt Lý : Lý Con Sáo , Lý Vọng Phu ( nam ) , Lý Giao Duyên , Lý Ngựa Ô Bắc , 
Lý Ngựa Ô Nam , Lý Phước Kiến , Lý Chuồn Chuồn , Lý Thập Tình .

  “Nhì Ngâm : Ngâm thơ Lục Bát , Tứ Tuyệt , Bát Cú , v , v …theo giọng Xuân 
hoặc Ai .

  “Tam Nam : Nam Xuân , Nam Ai , Nam Đảo ( Đảo Ngũ Cung )

  “Tứ Oán : Tứ Đại Oán , Phụng Hoàng Cầu , Cửu Khúc Giang Nam , Phụng Cầu Hoàng 
Duyên , Bình Sa Lạc Nhạn , Thanh Dạ Đề Quyên , Nguơn Tiêu Hội Oán , Võ Văn
  Hội Oán .

  “Ngũ Điếm : Lưu Thủy , Phú Lục , Bình Bán , Cổ Bản , Xuân Tình , Tây Thi , 
mỗi điệu có 6 bản ( 3 bản thủ và 3 bản vĩ ) gồm tất cả 6 điệu là 36 bản .

  “Lục Xuất : Văn Thiên Tường , Trường Tương Tư , Chinh Phụ Nam ( Chinh Phụ Ly 
Tình ) , Tứ Đại Vắn ( Tứ Đại Cảnh Nam Phần ) , Hội Nguơn Tiêu , Bát Bản Chấn
  .

  “Thất Chánh : Xàng Xê , Ngũ Đối Thượng , Ngũ Đối Hạ ,Long Đăng , Long Ngâm , 
Vạn Giá , Tiểu Khúc .

  “Bát Ngự : Đường Thái Tôn , Vọng Phu , Chiêu Quân , Ái Tử Kê , Bát Man Tấn 
Cống , Tương Tư , Duyên Kỳ Ngộ , Quả Phụ Hàm Oan .

  “Cửu Nhĩ : Tứ Bửu ( Minh Hoàng Thưởng Nguyệt , Ngự Giá Đăng Lâu , Phò Mã Giao 
Duyên , Ái Tử Kê ) , Ngũ Châu ( Kim Tiền Bản , Ngự Giá , Hồ Lan , Vạn Liên
  , Song Phi Hồ Điệp ) .

  “Thập Thủ Liên Huờn : Phẩm Tuyết , Nguyên Tiêu , Hồ Quãng , Liên Huờn , Bình 
Bản , Tây Mai , Kim Tiền , Xuân Phong , Long Hổ , Tẩu Mã .

  “Lý do điều chỉnh :

  Trong bản sắp xếp năm 1957 , loại thứ 6 là “Lục Xuất Kỳ Sơn” gồm có Cổ Bản 
Vắn ( loại Ngũ Điếm ) , Bình Bản , Kim Tiền , Xuân Phong , Long Hổ , Tẩu Mã (
  loại Thập Thủ Liên Huờn ) là loại ghép 6 bản ở 2 loại thứ 5 và thứ 10 , nên 
đem Văn Thiên Tường , Trường Tương Tư , Chinh Phụ Nam , Tứ Đại Vắn , Hội Nguơn
  Tiêu và Bát Bản Chấn thay vào vì những bản nầy là những bản nhạc hay mà chưa 
từng được sắp xếp vào loại nào từ trước tới nay .

  Loại thứ 9 là Cửu Nhỉ , đem 2 bộ Tứ Bửu và Ngũ Châu thay vào , đem 2 bản Hội 
Nguơn Tiêu và Bát Bản Chấn lên loại Lục Xuất với ý nghĩa như đoạn 1 trên .

  “Ngoài ra thêm vào loại Tứ Oán 2 bản oán hiện đang được phổ biến trong giới 
nhạc tài tử là Nguơn Tiêu Hội Oán và Võ Văn Hội Oán .

  Ngày 24-2-1979 , ký tên Chín Tâm .

  “Ý kiến của nhạc sư Nguyễn Văn Thinh : Lý do điều chỉnh được nghệ sĩ Chín Tâm 
trình bày rất chánh đáng vì sau khi được điều chỉnh vốn Nhạc Dân Tộc Miền
  Nam sẽ đầy đủ những bản thông dụng của Tài Tử từ trước tới nay . Ngày 
25-2-1979 , ký tên Nguyễn Văn Thinh .

  “Ý kiến của nhạc sư Phạm Văn Nghi : Số vốn bài bản hiện có của Miền Nam đều 
được sắp xếp theo sự điều chỉnh . Điều nầy rất có lợi cho nền âm nhạc cổ truyền
  . Tôi xin tán thành công việc nầy . Ngày 1-3-1979 , ký tên Phạm Văn Nghi .”

  Tóm lại , chỉ có cách phân loại nhạc Tài Tử Nam bộ của cụ Ba Đợi theo hệ 
thống hơi điệu là hoàn chỉnh hơn , đã được hầu hết giới chơi nhạc tài tử chấp 
nhận
  . Bốn điệu Bắc , Nam , Hạ , Oán và bốn hơi Xuân , Ai , Đảo , Ngự vẫn giữ được 
sự chánh thống của hai dòng âm nhạc bình dân và bác họcViệt Nam . Cho tới
  nay , mặc dầu các nhạc sĩ đã không ngừng có những sáng tác mới , nhưng cũng 
chỉ làm những sự lắp ghép của nhiều bài bản cũ ( Nhóm tài tử Bạc Liêu như các
  bản Liêu Giang , Ngũ Quan , Tứ Bửu Liêu Thành , Dạ Cổ Hoài Lang… ) và sau 
ngày miền Nam Việt Nam được giải phóng , các nhạc sĩ Hai Thinh , Năm Vinh , Mười
  Phú đã tận dụng sự chuyển cung chuyển điệu để sáng tác các bản Ngũ Châu Minh 
Phổ , Ngũ Cung Luân Hoán , Nam Âm Ngũ Khúc , Hận Khúc Nam Quan , Ngũ Khúc
  Long Phi nhưng cũng không tạo ra được một hơi điệu nào mới mẻ hơn các hơi 
điệu của 20 bài bản Tổ và 8 bản Ngự . Các hơi ảnh hưởng nhạc Quảng Đông , Triều
  Châu , hơi lai căn theo kiểu nhạc tây phương không thuộc hệ thống bài bản Đờn 
CaTài Tử .

  TP . Hồ Chí Minh ngày 27 tháng 12 năm 1999

  Nguyễn Tấn Nhì

  Tài Liệu Tham khảo :

  - Tư liệu của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Thinh
  - Cổ Nhạc Tầm Nguyên của Võ Tấn Hưng
  - Ca Trù Biên Khảo của Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề

Other related posts: