[SMCC] Nguoi Man di hien dai

      Mỗi người có cách yêu nước riêng 
      Hàm Đan
      Người đô thị     
      07:16' AM - Thứ tư, 27/05/2009 
     
      Hiếm có lần nào phòng chiếu phim của Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội 
(L'Espace) lại có cảnh người chen nhau đứng xem bộ phim tài liệu 4 tập kéo dài 
215 phút. Không một ai bỏ về giữa chừng và kết thúc bộ phim là những tràng pháo 
tay không dứt dành cho câu nói của đạo diễn Trần Văn Thủy: “Trên bàn thờ của 
dân tộc, ngoài những anh hùng, liệt sĩ, nên có chỗ cho những người làm văn 
hóa”. 

      Vượt qua mục đích ban đầu là bộ phim tài liệu độc lập của gia tộc, Mạn 
đàm về “người man di hiện đại” đã dựng chân dung một người “khổng lồ” đầu thế 
kỉ XX: Học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

      Cuộc đời như tiểu thuyết 

      Cuộc đời học giả Nguyễn Văn Vĩnh khiến nhiều người xem phim có cảm giác 
như đang theo dõi một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết.

      Sinh năm 1882 ở Hà Nội trong một gia đình nghèo, năm 11 tuổi, Nguyễn Văn 
Vĩnh đã thi đỗ thông ngôn sau 3 năm “học mót” nhờ làm tiểu đồng... kéo quạt. 
Nhưng vì quá nhỏ tuổi, không thể làm quan được nên ông học tiếp hai năm nữa. 
Lần này, Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu và chính thức làm phiên dịch. Nguyễn Văn Vĩnh 
không đọc một cuốn sách nào trên trường lớp nhưng lại đọc tất cả những sách rơi 
vào tay mình khi lăn lộn vào đời. Trong vòng hai tháng học, ông có thể dịch 
được tiếng Hoa và tiếng Anh. Ông chỉ mất hơn 2 năm để tự học xong chương trình 
phổ thông của Pháp (mua sách từ thủy thủ Pháp).

      Khả năng làm việc của ông thì kinh người. Nhà văn Vũ Bằng, trong cuốn hồi 
ký Bốn mươi năm nói láo, đã kể lại cách làm việc của cụ Nguyễn Văn Vĩnh: “... 
viết luôn một lúc một bài xã thuyết cho Annam Nouveau, thảo một thư cho toàn 
quyền Pháp đưa xuống dưới nhà đánh máy luôn, dịch miệng “Telemac phiêu lưu ký” 
cho Đông Lĩnh Dương Phượng Dực ngồi ám tả, trong khi chính ông lại quay sang 
nói chuyện với ông Tụng về thống sứ Pháp…”

      Dù là được người Pháp đào tạo và định lợi dụng ảnh hưởng nhưng Nguyễn Văn 
Vĩnh luôn có ý thức độc lập dân tộc cao. Chính vì thế, người Pháp đã bỏ rơi ông 
và dùng sức ép của ngân hàng để tịch thu gia sản khiến Nguyễn Văn Vĩnh phải 
sang Lào tìm vàng. Ông mất đột ngột trên một con thuyền độc mộc trên sông 
Sibăngghi (tỉnh Shêphôn, Lào) vào ngày 11-5-1936 “để lại một công lao không có 
lỗi lầm và lịch sử không có vết nhơ” (điếu văn của ông M. Delmas - Chủ tịch Hội 
Nhân quyền chi hội Hà Nội). 

      Ông tổ của nhiều nghề

      Tầm vóc văn hóa của Nguyễn Văn Vĩnh trước hết ở chỗ ông là ông tổ của 
nhiều nghề. Năm 1906, sau chuyến đi Pháp 6 tháng, ông quyết định thôi làm công 
chức, mở nhà in Trung Bắc và làm chủ bút tờ Đăng Cổ Tùng Báo - tờ báo bằng chữ 
quốc ngữ đầu tiên của nước ta. Ông còn làm chủ bút các báo tiếng Pháp Notre 
Journal (Tờ báo của chúng ta), Notre Revue (Tạp chí của chúng ta), l’Annam 
Nouveau (An Nam mới). Ông là người đầu tiên chủ trương dịch những quyển sách 
nổi tiếng của Pháp sang quốc ngữ, và ngược lại.

      Nguyễn Văn Vĩnh hợp tác với Công ty Chiếu bóng Đông Dương dựng “kịch 
bóng” (cách gọi điện ảnh thời ấy) đầu tiên của Việt Nam, tên là Kim Vân Kiều. 
Tác phẩm của Nguyễn Du được đưa lên màn bạc với diễn viên là các đào kép tuồng 
của ban Quảng Lạc, Hà Nội, trình chiếu ngày 14-03-1924.

      Cụ Vĩnh còn là người đầu tiên cắt tóc búi củ hành và vận Âu phục trước 
khi sang Pháp năm 1936. Ngoài việc sở hữu một ô tô, cụ còn sở hữu một chiếc mô 
tô với quan điểm: “Nhà báo là phải đi mô tô”.

      Di sản văn hóa mà học giả Nguyễn Văn Vĩnh để lại vẫn có giá trị đến ngày 
nay. Các dịch phẩm của Nguyễn Văn Vĩnh ngày nay vẫn được tìm mua do Việt hóa 
tối đa, như Thơ ngụ ngôn LaFontaine, Ba chàng ngự lâm pháo thủ của A. Dumas, 
kịch Molière, Miếng da lừa của H. de Balzac, Guylive phiêu lưu ký của Swift...

      Ông đã đóng góp rất nhiều trong việc thống nhất tiếng Việt và làm cho 
tiếng Việt đạt trình độ cao hơn. Thời cụ Vĩnh, người miền Bắc hay nhầm giữa s 
và x hay ch và tr..., mà người Trung Kỳ và Nam Kỳ lại phân biệt được. Nhưng 
người Nam và Trung lại không phân biệt được can và cang, cắt và cách hoặc ing 
và in... Họ cũng không phát âm được v nên bị nhầm thành d hoặc gi. Cụ dựa tên 
các tờ báo tiếng Việt, đáng kể nhất là tờ Đông Dương Tạp chí (1913) để khuyến 
khích dùng đúng chữ quốc ngữ.

      Đánh giá đúng công lao Nguyễn Văn Vĩnh

      Bộ phim tài liệu được xây dựng xoay quanh những mạn đàm của các nhà 
nghiên cứu sử học Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Đầu, Chương Thâu; các 
nhà báo Trần Hòa Bình, Yên Ba.

      Các nhà sử học đều đánh giá công lao lớn nhất của Nguyễn Văn Vĩnh là 
truyền bá chữ quốc ngữ. Không chỉ tạo dựng cho dân tộc một ngôn ngữ chuẩn, chữ 
Quốc ngữ còn giúp xóa nhanh nạn mù chữ vì chỉ cần ba tháng là có thể biết chữ 
trong khi chữ Hán và Nôm phải mất 10 năm. Qua đó, công lao gây dựng nền văn hóa 
độc lập của cụ Vĩnh đã được làm rõ qua câu nói: “Nước Nam sau này hay dở là ở 
chữ quốc ngữ”. 

      Xoay quanh mạn đàm của các nhà nghiên cứu là những lời “minh oan” của con 
cháu cụ Vĩnh khi cụ bị hiểu nhâm là Việt gian, bồi bút. Sự hiểu nhầm là do cụ 
chủ trương thuyết trực trị. Chủ trương này về bản chất không khác với chủ 
trương “Pháp - Việt hợp tác” của cụ Phan Chu Trinh. Nghĩa là Bắc Kỳ và Trung Kỳ 
nên đặt dưới sự cai trị trực tiếp của Pháp như ở Nam Kỳ. Uớc mong của cụ Vĩnh 
(có thể là ngây thơ) là khi dân ta được như những người Pháp sẽ trở nên văn 
minh hơn và việc đòi lại độc lập bằng đối thoại dễ được chấp nhận. Trong khi 
vừa đấu tranh đòi trực trị, cụ vừa tuyên truyền nâng cao dân trí bằng báo chí. 
Và muốn làm được việc đó, cụ Vĩnh đã nhẫn nhục dựa vào người Pháp. 

      Đạo diễn bộ phim Trần Văn Thủy sau buổi trình chiếu, phát biểu: “Mỗi 
người có cách yêu nước riêng. Tôi làm bộ phim không chỉ để đánh giá lại công 
lao của cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Một người dám tự nhận là “người man di hiện đại” 
nghĩa là đang dũng cảm nhìn mình bằng con mắt ở bên ngoài để phê phán trình độ 
văn minh của dân tộc mình”.

           
            Đạo diễn Trần Văn Thủy tại buổi trình chiếu bộ phim "Mạn đàm về 
người man di hiện đại"
           



--------------------------------------------------------------------------

      Mạn đàm về người man di hiện đại 

      Học giả Nguyễn Văn Vĩnh hiện diện qua "Mạn đàm về người man di hiện đại" 
là con người của những luồng thông tin đa chiều dữ dội. Xuyên suốt 4 tập phim, 
cụ được đánh giá lại là một vĩ nhân kiệt xuất, cho dù chính cụ chỉ tự nhận mình 
là một "người man di", một "người thường". 

      Người man di Nguyễn Văn Vĩnh

      Đoạn cuối của "Mạn đàm về người man di hiện đại", bộ phim tài liệu của 
đạo diễn, NSND Trần Văn Thủy về học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882 - 1936) là cảm 
xúc được dồn tụ trong suốt chiều dài 215 phút, khiến gần như toàn bộ những 
người kiên trì dõi theo từng thước phim không khỏi... bàng hoàng vào phút kết 
thúc. 

      "... Tôi xuất thân không phải từ một gia đình "danh gia vọng tộc", "khoa 
bảng", thậm chí không được như số đông con dân Việt lúc bấy giờ mà từ một gia 
đình rất nghèo. Nói theo cách nói của thời hậu sinh thì từ một gia đình thành 
phần rất cơ bản. Tôi đã bước vào đời từ một cậu bé 8 tuổi, nghèo khó, kéo quạt 
ở trường thông ngôn đình Yên Phụ.

      Nói chí phải như anh Vũ Bằng, một đệ tử của tôi: "Cái đời ông Vĩnh, ấy là 
cái đời chẳng được học hành gì". Tất cả những gì tôi làm là vượt lên hoàn cảnh 
để gửi gắm tình yêu sâu nặng của tôi với đất nước này, tình thương vô bờ của 
tôi với dân tộc này.

      Xứ sở của chúng ta từ cổ chí kim không biết cơ man những con người có tấm 
lòng ái quốc. Hãy vì hậu thế mà ứng xử với họ cho dù họ có "ái quốc" theo cái 
cách của họ. 

      Còn tôi, xin hậu thế chớ nặng lòng bàn cãi. Hãy để cho tôi yên phận trong 
cái danh vị tốt, xấu mà người đời đã trao cho tôi. Không sao cả! Không sao cả! 
Vì tôi từng nghĩ về mình còn tồi tệ hơn thế nhiều. Tôi đã nghĩ: "Tôi là người 
man di hiện đại". Đúng như vậy. Không tin thì các bạn hãy trở lại bức thư tôi 
viết năm 1932 cho cụ Huỳnh Thúc Kháng mà coi..."

      Khép lại 4 tập phim tài liệu dài đằng đẵng chính là những lời "báo mộng", 
được ghi lại từ những... giấc mơ ấy. 

      Và trong bức thư gửi cụ Huỳnh Thúc Kháng, "người man di hiện đại" (theo 
nghĩa xếp mình ra bên ngoài, nhìn mình từ bên ngoài để tự phê bình, soi xét bản 
thân) đã viết:

      "Cái hố sâu ngăn cách giữa nhà Nho chân chính như ông, người không còn 
tin vào những tư tưởng lẫn những phương pháp của quá khứ, với một người man di 
hiện đại như tôi, sản phẩm của một nền giáo dục hỗn hợp và khiếm khuyết, kẻ 
đang cố tìm một vài chân lý trong cùng cái quá khứ đó, mà tôi, tất nhiên cũng 
không biết gì hơn ông Kháng. Cái quá khứ đó dù sao cũng hiện lên đối với tôi 
như một nguồn sức sống và ánh sáng chưa được biết tới. 

      Chúng ta đã gặp nhau trên con đường và người nào cũng cho là mình đi đúng 
hướng, chính là vì con đường đó chưa có. Giống như, rốt cùng, cả hai chúng ta 
đang đi tìm chân lý, thì không nhất thiết cứ phải đi theo cùng một hướng...".

      Người viết những điều đầy hàm ý ấy được nhìn nhận và đánh giá như một 
"Tân Nam Tử", một người nước Nam mới, thấu suốt bản thân, kiên định đi theo lý 
tưởng của mình, suốt một đời nhất quán một tấm lòng yêu nước. 

      Toàn bộ những đóng góp vô cùng lớn lao của Nguyễn Văn Vĩnh trong suốt 
cuộc đời cụ, minh chứng trong gần một thế kỷ qua sau khi cụ tạ thế, là tất cả 
những gì cần "xét lại" về con người và tầm vóc của cụ. 

      Nếu ai biết đến câu nói có tính "sấm truyền" vào thời điểm đầu thế kỷ 20 
về văn hóa "Nước Nam ta mai sau hay, hay dở cũng là ở chữ quốc ngữ!" thì cũng 
sẽ không thể không biết rằng Nguyễn Văn Vĩnh là người đầu tiên gia nhập Hội 
Nhân quyền Pháp - 1906.

      Cụ cũng là chủ bút đầu tiên báo xuất bản bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ (Đăng 
cổ tùng báo - 1907). Là người đầu tiên cùng Phan Kế Bính dịch và hiệu đính Tam 
quốc chí từ chữ Hán ra chữ quốc ngữ (1909). 

      Là người đầu tiên dịch các tác phẩm văn học cổ điển Pháp của Vitor Hugo, 
Honore de Balzac, Alexandre Dumas, Moliere, La Fontaine... ra tiếng Việt. Là 
người Việt Nam duy nhất làm chủ bút ba tờ báo tiếng Pháp ở Bắc Kỳ... Và còn rất 
nhiều danh xưng đầu tiên và duy nhất khác gắn với tên ông mà lịch sử cũng như 
hậu thế đã và đang ghi nhận.

      Nói như GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Sử học VN: "Nếu đánh giá về Nguyễn 
Văn Vĩnh mà chỉ dừng lại ở việc cụ là thủy tổ của làng báo tiếng Việt, là người 
có công phát triển chữ quốc ngữ và là nhà dịch thuật xuất sắc thì chưa đầy đủ 
và thỏa đáng. Điều xứng đáng hơn cũng là đóng góp lớn nhất ở cụ chính là về tư 
tưởng. Đó là một trong những nhà tư tưởng dân chủ đầu tiên của Việt Nam mang 
tính khai sáng. 

      Cụ cũng là người biết dùng văn học và văn hóa để thấm sâu vào lòng người, 
truyền bá những tư tưởng tiến bộ, vượt thời đại. Với người chủ soái của nền văn 
hóa sử dụng chữ quốc ngữ này, tiếc rằng, đã có những giai đoạn lịch sử bị nhìn 
nhận sai lệch... Với người làm sử chúng tôi, có những điều không phải lúc nào 
cũng được nói ra, nhưng đã nói ra thì không được nói sai sự thật". 

      Điều mà GS Phan Huy Lê cũng như nhiều học giả, nhà văn hóa khác nói về 
Nguyễn Văn Vĩnh, đánh giá về "người man di hiện đại" này cũng chính là điều 
thôi thúc gia đình, dòng tộc nhà yêu nước Nguyễn Văn Vĩnh cùng với đạo diễn 
phim tài liệu nổi danh Trần Văn Thủy vượt qua bao khó khăn, trở ngại để minh 
định lại nguồn gốc, tra cứu lại những giá trị mà cụ đã tạo dựng và để lại cho 
ngày hôm nay. 

      Những thước phim "độc đạo"

      Với bộ phim đã vượt khỏi ý nghĩa "tư liệu gia đình" (theo dự tính ban đầu 
của gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh) như "Mạn đàm về người man di hiện đại", 
lại một lần nữa, NSND Trần Văn Thủy cho thấy mình vẫn mải miết đi trên con 
đường "độc đạo", không ngại động chạm đến những vấn đề khó và gai góc, với tâm 
thế của một nhà làm phim độc lập.

      Đạo diễn nói: Nếu đề cập điều đó thì có khi cũng có hàng trăm phút phim, 
như người ta đã từng coi Nguyễn Văn Vĩnh là "bồi bút", theo Tây, phản nước. Vì 
thực tế ấy mà con cháu cụ về sau đã phải hứng chịu bao bi kịch và sự hiểu lầm 
khắc nghiệt. Còn đây, chính là những gì về con người Nguyễn Văn Vĩnh được xác 
lập lại.

      Trước một bộ phim tưởng như rất "nặng nề" ấy, không ngờ khán giả từ trẻ 
tới già có mặt tại Trung tâm Văn hóa Pháp (24 Tràng Tiền, Hà Nội) lại kiên trì 
theo dõi đến thế. Họ ngồi tràn cả ra sàn gỗ, trong không khí lặng im phăng 
phắc. 

      Rồi trước tiếng vỗ tay rào rào của mọi người khi phim kết thúc, đạo diễn 
Trần Văn Thủy nói: "Chưa phim nào tôi làm là không "có vấn đề" cả, phim này 
cũng vậy. Khi biết về học giả Nguyễn Văn Vĩnh, tôi đã nghĩ ngay rằng dân tộc ta 
đã có những con người như thế tại sao ta không tôn vinh? Và tôi làm phim không 
để đi tìm tên tuổi hay danh lợi ưu ái nào. Tôi cũng không làm phim vì gia tộc 
họ Nguyễn mà tôi làm phim vì dân tộc này".

      Và bộ phim tài liệu "Tản mạn về người man di hiện đại" nay đã không còn 
là một điều gì quá mới nữa khi nó được ghi hình từ năm 2006 và trong một năm 
qua, phim đã được chiếu hơn 20 lần cho gia tộc, bạn hữu, Viện Văn học, ĐH Văn 
hóa Hà Nội, Tỉnh ủy Quảng Nam, khoa Pháp văn ĐH Bách khoa ( Đà Nẵng), khoa Báo 
chí & Truyền thông (ĐH KHXH &NV Hà Nội), chiếu bản rút gọn ở Pháp... và bây giờ 
Trung tâm Văn hóa Pháp tiếp tục trình chiếu trước đông đảo công chúng Việt.

      Bộ phim, đúng như tên gọi, đó là những ghi chép tản mạn, phác họa chân 
dung nhân vật trung tâm trên nhiều lĩnh vực, nhưng được thực hiện rất kỳ công: 

      Từ hiện thực về một ngõ hẻm ở TP. HCM có tên Nguyễn Văn Vĩnh (trước đó là 
hẻm 27, phố Hậu Giang) mà đa phần người dân sống nơi đó "không biết ông Nguyễn 
Văn Vĩnh là ai (!)" cho đến những cảnh quay ở Pháp trên con đường khang trang 
Nguyễn Phùng - mà người được phỏng vấn cho biết đó là "con trai cụ Nguyễn Văn 
Vĩnh, nhà văn hóa lớn của Việt Nam, là người Việt đầu tiên và duy nhất được đặt 
tên phố ở Montpellier và ở Pháp". 

      Từ suy nghĩ của nhiều thế hệ cháu con đến phát biểu dựa trên sự nghiên 
cứu chuyên sâu về Nguyễn Văn Vĩnh của hàng chục học giả, nhà nghiên cứu hàng 
đầu của VN đến các học giả Pháp và các thế hệ cháu con cụ Vĩnh... Từ quê hương, 
bản quán nơi Nguyễn Văn Vĩnh sinh ra cho đến khi cụ bỏ xác ở xứ Lào... 

           
            Tác phẩm Sự ra đời của chữ quốc ngữ - Cái chết siêu việt của ông 
Nguyễn Văn Vĩnh nêu lên hình tượng 2 người có công lớn trong sự sáng lập chữ 
quốc ngữ: Alexandre De Rhodes và Nguyễn Văn Vĩnh (chết trong chuyến đi tìm vàng 
ở Lào, trên tay vẫn cầm cây bút và bản thảo phóng sự Một tháng với những người 
tìm vàng) - Tranh của Nguyễn Đình Đăng
           


      Cho dù đạo diễn Trần Văn Thủy tự nhận là "bộ phim còn nhiều khiếm khuyết 
về nội dung, kỹ thuật" thì với một người xem như tôi, chỉ biết đến học giả 
Nguyễn Văn Vĩnh qua sách vở, nay được chứng kiến những hình ảnh và lời bình 
sống động từ một bộ phim tài liệu mà khi dứt khỏi phim vẫn không thôi ám ảnh về 
cụ Nguyễn Văn Vĩnh trong một bức họa: Cụ chết trên con thuyền độc mộc trôi giữa 
dòng sông Sê - Pôn, trong lúc đi lánh nạn và viết thiên phóng sự "Một tháng với 
những người tìm vàng" với tổng cộng 10 bài, còn dang dở.... 

      Vẽ nên bức tranh cụ vẫn còn cầm trên tay cây bút lúc xa cõi tạm, bên cạnh 
là Alexandre de Rhodes, một trong các nhà truyền giáo đã có công lớn trong việc 
Latin hoá tiếng Việt, cho chúng ta chữ quốc ngữ ngày nay, họa sĩ, Tiến sĩ vật 
lý Nguyễn Đình Đăng, một người hâm mộ học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đã gọi cụ là 
"người vác thánh giá văn hóa đi suốt cuộc đời". 

      Bùi Dũng - Tuần Việt Nam

      Nguồn:  Người đô thị 


Lời bình của tui...
Không hiểu ông tác giả bài này dựa vào cái gì mà xếp cụ Nguyễn Văn Vĩnh có công 
ngang với cụ Alexandre de Rhodes trong việc xây dựng và truyền bá chữ quốc ngữ. 
Vậy thì các đóng góp của Trương Vĩnh Ký, Bá Đa Lộc để đâu?
Có lẽ tác giả lần đầu được biết đến những người có công sáng chế ra chữ quốc 
ngữ. Vì trong nền giáo dục hiện nay, hầu hết công trình sáng chế và truyền bá 
chữ quốc ngữ bị xem xét một cách hẹp hòi rằng đó là sản phẩm của thực dân... vì 
thế các thế hệ trẻ không biết nhiều về công lao của những nhà ngôn ngữ học đầu 
tiên này

Tran Ba Thien
tranbathien@xxxxxxxxx

GIF image

GIF image

JPEG image

JPEG image

JPEG image

Other related posts: