[SMCC] Mon La Mien Nam 4

Món Lạ Miền Nam 
4. Khô


Muốn cách gì đi nữa, tôi yêu thì tôi cứ bảo là tôi yêu. Yêu Sài Gòn quá, Sài 
Gòn 
ơi, bởi vì Sài Gòn là trời hoa, đất rượu. 

Rượu uống bất cứ loại nào, bất cứ ở đâu, bất cứ giờ nào. Uống cho kỳ “đã” thì 
thôi. 

Tôi yêu Sài Gòn là vì rượu ở đây “đã” lắm, rượu đậu nành; rượu Vĩnh Tồn Tâm; 
rượu thuốc uống vào không tê thấp, khỏi đau gan, khỏi sình ruột; rượu đế; rượu 
côngsi; thế rồi lại còn nào là whisky, cognac, nào là rượu Minh Mạng “nhất dạ 
lục giao sinh ngũ tử”, rượu dâu, rượu nếp than..., trăm thứ bà rằn rượu... uống 
vào đã mát cả ruột gan, lại có bao nhiêu thứ nhắm diệu kỳ, 
hỏi làm sao không hả? 

Này, anh cứ thử cắt một miếng bần hay miếng cốc, chấm tí ti mắm ruốc, đưa cay, 
có phải sướng cái ông thần khẩu quá lắm không? Khế, ổi xanh, củ kiệu, ba con 
tôm 
khô hay vài cái xương “xí quách”, ấy thế là ta đã có mấy thứ nhắm lý tưởng; để 
làm cho nổi bật lên cái vị của “chất nước có men” lên rồi. Anh giơ cái ly lên 
mời bạn “Dô!” rồi há hốc miệng ra “ngưu ẩm”. Anh tự nhủ: “Ngày xưa, Đỗ Phủ, Lý 
Bạch uống rượu cũng chỉ ”pho" đến thế là cùng". Và có lúc tự anh không nói ra 
nhưng nghĩ thầm trong bụng “anh là trích tiên, không biết ở trên thiên cung có 
tội gì mà bị đầy đọa ”trần ai" nơi hạ giới, khổ đến thế này, chớ với cái tài và 
cái đức của anh, nhất định là phải nắm cổ thiên hạ mà vật ngã xuống đất đen, 
cấm 
không cho đứa nào được cất đầu lên 
để hít thở cái không khí dành cho các siêu nhân - mà chính anh là một". “Dô” 
nữa 
đi, các bồ! “Dô”! 

Rượu tốt, đồ nhắm lại ngon, uống cả ngày cả đêm không chán. Nhắm mãi củ kiệu, 
tôm khô, trái cốc, bưởi, xoài và mít chán rồi, ta lại gọi “lỗ tai heo”, bì 
cuốn, 
hay vài chục đồng phá lấu chấm với “lạp chíu chương”... Món 
nhậu gì cũng “ba chê”, ấy thế mà bao nhiêu thứ đó đều không có “ki-lô” nào cả 
đối với một món nhậu không tiền khoáng hậu là khô. Có khô đi với rượu, rượu mới 
thực là tuyệt đã! 

Thế thì không có biết khô là gì không, hỡi ông bạn Bắc Kỳ thân mến? Khô không 
phải là một hình dung từ, nhưng là một danh từ; khô là một biến thể chớ không 
phải là một trạng thái; khô là một thực tế chớ không phải là một 
phương pháp. 

Không có một người nào trong chúng ta dạo trên những vỉa hè thành phố Sài Gòn 
lại không từng thấy những ông mặt nghiêm nghiêm như suy nghĩ rất lung về thế sự 
nhân tình, nâng ly rượu lên uống và đưa cay một con tôm kèm củ kiệu. Con tôm đó 
chỉ là một hình thức của khô. Nó là một thí dụ rất nghèo nàn mà người viết bài 
này bất chợt nêu ra, chớ thực ra khô không phải là một món ăn, nhưng là cả một 
hệ thống phì nhiêu, gồm những miếng ngon vật lạ thiên hình vạn trạng... 

Thực vậy, ăn cóc thì chỉ có cóc thôi, ăn lươn chỉ có lươn thôi, ăn ếch chỉ có 
ếch thôi. Nhưng ăn khô thì là ăn không biết bao nhiêu thứ, vì ở đời này có bao 
nhiêu sinh cầm, gia súc ăn được thì tức là có bấy nhiêu khô chờ đợi ta. Nhưng 
khô mà được người ta thưởng thức, tôn thờ và quí mến nhứt, đó là khô tôm và khô 
cá. Ở đây, phàm ai đã cầm một cốc la-de đưa lên miệng, thẩy 
đều đã biết khô tôm; ở ngoài Bắc, những hôm mưa dầm gió bấc, chúng ta cũng đã 
từng dùng món đó để đưa cay, nhưng không có gì lạ lắm mà cũng không... phổ cập. 

Lạ là khô cá. Cái thứ mà ta vẫn gọi là cá mắm khô, bán từng ký, từng tạ, cái 
thứ 
cá mắm khô mà mỗi khi ta qua ngõ Phất Lộc, Hàng Mắm ở Hà Nội, vẫn xông ra một 
mùi tanh tưởi, đến nhức đầu, buồn nôn, ở đây đã thành ra một món ăn rất phổ 
thông, không đắt tiền lắm, nhưng được thưởng thức đáo để là thưởng thức. 

Trước khi có chiến tranh, thường người ta chỉ thấy lơ thơ một ít người đàn bà 
ngồi dưới cây đèn bán khô. Tất cả vốn liếng của họ chỉ là một cái mẹt trên có 
một ít khô mực, khô cá đuối, khô cá nhái, khô cá tra, khô cá mặn; kèm vào đó, 
một hòn đá và một cái hỏa lò nho nhỏ bằng đất hay bằng một hộp “bít-quy” trên 
có 
một cái “mành”. Khách qua đường lên cơn ghiền, kêu một ly “ba xi đế” hay một ly 
rượu thuốc và một miếng khô. Người bán hàng lấy một miếng, tùy theo ngón tay 
anh 
chỉ, để lên trên mành sắt, nướng phồng rồi đặt lên hòn đá, lấy búa đập cho khô 
giập mặt. Như thế, nó mềm. Khách nhậu lấy ngón tay nhón miếng khô, nhai bỏm bẻm 
như Mỹ nhai kẹo cao su, ực một hơi rượu, rồi móc túi trả tiền đi thẳng, không 
có 
đôi hồi gì hết. 

Ấy đấy, trước kia, dưới mắt tôi, người ta ăn khô như thế đấy. 

Nhưng bây giờ ở Sài Gòn thân yêu, kinh tế liệt giường liệt chiếu, người dân ít 
tiền không dám tự thưởng những món nhắm sang, tôi thấy kỹ nghệ ăn khô tiến bộ 
vượt bực, cùng với nghệ thuật nhậu nhẹt: ngoài la-ve, ba xi đế, bây giờ người 
ta 
rủ nhau uống bảy mươi hai thứ rượu thuốc khác nhau, mười bốn thứ rượu mạnh “lô 
canh”, rượu cắc kè, bìm bịp, thì cố nhiên khô để nhắm rượu cũng phải phát triển 
tới mức tối đa của nó. 

Người ta đội thúng đi bán khô, quảy gánh đi bán khô, mở tiệm bán khô. Buồn 
không 
biết làm gì, mở một cái “ba” có đủ các thứ khô để chiều thị hứng của người ta; 
ngồi nhà hát cũng có trẻ đem khô vào mời; quán cà phê có ca nhạc và “sô” cũng 
để 
một cái tủ kính bán khô chấm với chanh muối hay là tương ớt. Ối, còn nói gì đến 
các quán ở ngoại ô như Tân Thuận, Lồ Ồ, Xóm Mới, Đồng Quê, Bình Lợi: trên là 
trời, dưới là khô; trông cứ hoa cả mắt, không biết ăn thứ nào, bỏ thứ nào! 

Tựu trung, khô có thể phân ra làm hai loại chính là khô cá và khô thịt. Hai 
loại 
này lại chia ra làm nhiều phân bộ. 

Về loại cá, có khô đồng và khô biển. 

Về loại thịt, có khô gia súc và khô dã thú. 

Khô đồng là cá đồng phơi khô, như khô lóc nói, khô thòi lòi, khô tra, khô sặt, 
khô bống kèo... Khô biển là cá biển phơi khô, như khô gộc, khô khoai, khô nóc, 
khô chim, khô đuối, khô nục, khô nù... 

Ai ăn khô cá luôn thấy ngán thì có khô thịt. Khô thịt, cũng như khô cá, chia ra 
làm hai loại: loại gia súc và loại dã thú. Trong loại gia súc, có khô trâu, khô 
ngựa, khô bò... Người mình không làm nhiều khô vịt, khô gà, khô heo như “các 
chú”, nhưng ăn lạ miệng có khô cóc, khô nhái, khô ếch, khô lươn, khô chuột... 

Lạ miệng hơn một tầng nữa là khô dã thú, có khô nai, khô beo, khô tê, khô khỉ, 
khô cọp. Thứ khô sau cùng này bán tới 80 đồng một ký hồi 1954-1955, ăn chơi cho 
lạ miệng, chứ thực ra dai cứ như là chão rách, mà lại khai, chẳng ra cái chết 
gì. Người ta bảo rằng khô này trị được ban trái, quý gấp trăm thịt cọp tươi, 
viện lẽ khô thụ khí âm dương và lúc phơi khô đã lãnh được nhiều “tia trong đỏ, 
tia ngoài tím” của mặt trời. Thôi, thì cứ tin đi là thực cho cả làng cùng vui. 
Đúng hay không đúng, cái đó để hạ hồi phân giải. Duy chỉ biết rằng ăn cái khô 
này, theo lời các cụ già, phải cữ thịt gà và măng tre; không thế, sẽ sinh ra 
“dòi trong bụng”. Có lẽ vì thế ít có người ham khô cọp. 

Khô đuối ăn dai khẹc, để lên thớt lấy búa đập cũng vẫn dai. Khô thòi lòi ăn bã 
bà bà. Khô lóc nói, ăn đoảng vị. Bằng vào những nhận xét của người sành khô thì 
ngon nhất là khô chim, khô gộc, khô thiều, khô khoai, khô sặt. Gặp một buổi 
chiều rảnh rỗi, ngồi ở cửa sổ trông ra trời nước mênh mông, mà lòng lại rầu rầu 
một tí, sầu sầu một tí vì nhớ đến người yêu bạt ngàn mây khói, anh nâng một ly 
rượu “độc ẩm”, nhắm một miếng khô lăng-trình nướng vừa chín tới, anh sẽ cảm 
thấy 
như mình đã trả được thù đời. Anh nhai khô, cho rượu và khô “liên hiệp” với 
nhau, “hòa đồng” với nhau, tạo thành một vị the the, ngọt ngọt; anh sẽ thấy thế 
là... hết, ở đời không còn gì đáng kể nữa, “đời đã hại mình thì mình vui với 
rượu và khô: đỡ quá!”. 

Nhưng dù là khô tra, khô lóc hay khô lăng trình; dù là khô nai, khô cọp hay khô 
ngựa mà nhắm rượu thì cũng không nên dùng mặn. Nhậu, phải dùng khô lạt. Rượu 
tốt 
mà điểm một miếng khô lạt vào, mới cảm được hết cả cái ngon mùi mẫn của khô, 
cái 
ngon thấm thía, cái ngon chan chứa không biết bao nhiêu dư vị. Nó thơm, mà bùi, 
hơi ngầy ngậy mà lại mặn, mà lại ngọt như nước mắm nhĩ, nhai mãi không biết 
chán. 

Có ai một chiều nào nhàn tản trên con đường Pasteur, ở ngã ba Lê Lợi, có thấy 
hàng toán người tề tựu ở trước chùa Chà như dự một cuộc mết tinh vĩ đại? Không, 
họ không phản đối gì hết mà cũng chẳng yêu cầu gì hết. Khẩu hiệu của họ căng 
lên 
ở trong lòng: họ ăn, họ uống, và uống và ăn để làm thỏa mãn cái dạ dầy nhiều 
đòi 
hỏi. Có người đứng ăn; có người ngồi ghế ăn; 
có người ngồi ở xe máy dầu gác chân lên hè để ăn; có người ngồi xổm trên hè để 
ăn; lại có người hãm xe hơi lại, thò đầu ra ngoài kêu ăn. Họ ăn gì vậy? Ăn bánh 
tôm; ăn bì bún; ăn bánh mì phá lấu; ăn ốc; ăn bánh canh giò heo; nhưng muốn gì 
thì gì, món được người ta thưởng thức nhiều nhất, nồng nhiệt nhất và thành tín 
nhất vẫn là món đu đủ bào, rưới rất nhiều dấm ớt lên trên. 

Ở cái đất quanh năm nắng chói như đây, tạng người ta nhiệt lắm, lòng lúc nào 
cũng cứ xót như cào: ăn cái món ấy vào mát ruột. Các ông ưa quá, mà các bà các 
cô lại ưa hơn; ăn một đĩa rồi lại muốn ăn đĩa thứ hai, thứ ba... thứ sáu... 
Chính tôi đã thấy có một bà ăn chơi sơ sơ một lúc sáu đĩa như thế rồi xuýt xuýt 
xoa xoa, chảy cả nước mắt nước mũi mà có vẻ như vẫn còn thèm ăn nữa. Ờ, cái món 
đu đủ bào, trộn dấm ớt đó là gì vậy? - Thưa, đó là khô bò. Đu đủ bào, trên đặt 
mấy miếng khô bò, tưới giấm ớt rồi rắc mấy lá ngò lên trên... đó, chỉ giản dị 
có 
thế thôi, vậy mà ăn vào... phải biết! Ngon chết người đi được! 

Tôi giận làm sao cái khô bò, chế hóa thần tình như thế, ăn vào đã lạ miệng, lại 
lành (tuy có vẻ hơi dơ chút xíu!), mà cớ làm sao trong bao nhiêu năm trời, 
người 
ta không nghĩ khuếch trương món đó, chế ra đu đủ bào, pha giấm ớt và trộn với 
khô cá, khô nai, khô heo rừng? Chưa biết chừng chế hoá khô thành một món như 
thế, ăn còn ngon hơn nữa, và người nào xung phong làm các loại khô ngâm giấm ớt 
như thế sẽ hóa ra “vua khô đóng hộp” theo văn hóa đồ hộp của Mỹ, chưa biết 
chừng... 

Trong khi chờ đợi ngày vinh quang đó, khô hãy tạm sống cái đời sống chật hẹp 
trong phạm vi quốc nội. Ngoài việc dùng nhậu nhẹt, khô còn được người ta dùng 
làm các món ăn khác, tuy là để xài hàng ngày, nhưng lúc nào cũng tạo ra được 
những mùi vị mới, lạ hơn. Mỗi món ngon một cách, cũng như mỗi cô gái xinh một 
vẻ, biết kể món nào trước, món nào sau bây giờ?! 

Đặc biệt Sài Gòn, có lẽ là món gỏi. Cô muốn dùng gỏi khô sặt, gỏi lăng trình 
hay 
gỏi cá nước, cá lo? Xin tùy sở thích. Miễn là trước khi ăn, phải sửa soạn cho 
đủ 
gia vị, thiếu một thứ thì kém ngon ngay. Dưa leo, đào lộn hột, rau răm, thịt ba 
chỉ, xoài sống; mấy thứ đó đặt vào trong một miếng bánh tráng đã nhúng sẵn vào 
nước cho mềm; ở giữa đặt mấy miếng khô đừng mỏng, đừng dầy, không to, không 
nhỏ; 
thế rồi cuốn tất cả lại, chấm thật đẫm giấm ớt, vừa chua vừa mặn, hơi cay hơi 
ngọt. Chà, mát ruột làm sao! Có ai sợ bánh tráng và đào lộn hột ăn đầy, có thể 
dùng giản dị đi một chút mà vẫn thấy “thú vị tơ”: ăn khô với rau diếp cá, gia 
thêm vài khoanh trứng luộc, rưới tương trộn đậu phọng ghiền nhỏ, pha thêm chút 
giấm và điểm vài nhánh tỏi. 

Giản dị hơn một bực nữa là xoài tượng thái từng lát nhỏ kẹp với một miếng khô 
ăn. Có lẽ ăn như thế để tỏ rằng riêng khô cũng đã ngon quá mất rồi, không cần 
phải thêm gia vị làm gì cho phiền phức, nhưng đành vậy, ăn như thế cũng chưa tỏ 
được cái ngon “độc lập” của khô bằng những ông ở Hậu Giang, buổi sáng, thắp một 
ngọn đèn dầu lên uống nước trà, vừa uống nước, vừa nhắm khô bỏm bẻm... 

Ăn như thế là ăn theo kiểu “bốn món ăn chơi” của Tầu. Ăn như thế với cơm cũng 
được đi, nhưng không mấy thú. Muốn cho ngon thì nên xắt khô ra cho vào tô, 
chưng 
lên với mỡ, gia thêm củ hành và đường; chín tới, bắc ra ăn với rau sống, chuối 
xanh; cơm nóng với khô chiên vừa vặn “ăn thùng bất chi thình”. Người Đức, người 
Nhật ăn thịt, ăn cá vẫn thường cho đường vào như thế đấy và bảo giầu chất 
pờ-rô-tít và li-pít lắm. 

Ai cho thế là lợ thì nấu kiểu xiêm lọ: khô rửa sạch, thả vào nước sôi, đun, rồi 
cho con mẻ nhồm bắp chuối, bỏ rau om, ngò, chua, lá quế, đợi chín thì bắc ra 
ăn, 
như kiểu cá om với đậu ván ở Bắc: ngon quá xá, có phải thế không, cô? 

Bên ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, vợ bới thêm một chén cơm nữa cho chồng: 


Cơm trắng ăn với khô khoai, 
Chồng hòa vợ thuận, ăn hoài quên no 


Cứ gì phải ăn vây, yến, bào ngư, gân hươu, tống cú. Cứ gì phải ăn bí-tết, 
lăng-gút bỏ lò, gà sữa, “canaôsitông”, “cátsulê medông” mới được. 

Vào khoảng tháng bảy, tháng tám, ở miền Nam nước Việt thường hay có bão rớt: tự 
nhiên trời đương nắng bỗng sa sầm hẳn xuống, rồi gió, rồi mưa, rồi vừa mưa vừa 
gió, như đổ cửa, đổ nhà đến nơi. 

Gặp những buổi gió thảm mưa sầu như thế, hạ bức châu liêm xuống mà vặn ngọn đèn 
hồng lên, cô thủng thẳng kể cho chồng nghe cách làm khô ở “trong này” thì bữa 
ăn 
càng nổi vị: 

- Làm cái khô này cũng công phu lắm, anh à. Về khô đồng, không có gì lạ lắm, 
cũng như khô thịt vậy; nhưng làm được cái khô biển, quả là tử công phu. Ờ, hôm 
nào rảnh, vợ chồng mình về Rạch Giá thăm ngoại, em sẽ đưa anh đi xem làm khô 
biển, vui đáo để. 

“Một buổi chiều kia, đứng trên bờ biển trông ra muôn trùng mây nước, anh sẽ 
thấy 
có những đoàn thuyền lớn, nhỏ tiến vào trong bến, y như những thuyền mơ trong 
bài hát giao duyên. 

“Đó là những thuyền đánh cá ở xa về. Thường thường, thuyền nào cũng đầy nhóc 
cá. 
Em là con nhà nghèo, sinh đẻ trên sóng nước, nên lúc nhỏ không có ngày nào em 
không có mặt lúc các thuyền đánh cá trở về, để chuyển cá lên bờ giúp người ta 
lấy bữa ăn và mót cá về cho gia đình dùng đỡ khổ. 

“Ở miền duyên hải, rau cải thiếu thốn, người ta hàng ngày chỉ sống ròng với cá 
thì trời thương, biển lúc nào cũng thừa cá để nuôi người, cũng như mẹ hiền lúc 
nào cũng có sữa cho con bú. Thôi thì đủ các phân loại, các hình thức, các kích 
thước, không thể nào tưởng tượng được: có cá cưa, có cá điện, có cá sư, có cá 
lép, lại có thứ cá người - bởi vì mặt mũi nó y hệt người ta vậy... 

- Ủa, có cá người? Vậy ra người ta không đánh lừa anh sao? 

- Anh nói gì? Ai đánh lừa anh và đánh lừa gì vậy? 

- Phải, anh ta cứ tưởng là người ta đánh lừa... Người ta đây là một nhà văn Y 
tên là Curzio Malaparte. 

- Anh nói gì, em không hiểu. 

- Em cứ yên, để anh kể đầu đuôi câu chuyện cho mà nghe. Hồi còn ở bưng ngoài 
Bắc, anh có đọc một cuốn hồi ký nhan đề là “Làn da” (La peau) của nhà văn sĩ 
nói 
trên, trong có chừng mươi lăm kỷ niệm diễn ra hồi thế chiến thứ nhì kết thúc, 
quân đội Đồng minh đến giải phóng cho nước Ý bị “chà đạp dưới gót của độc tài 
phát xít Mussolini”. Đại diện cho Đồng minh lúc ấy có 
ba vị anh hùng ghê gớm: Roosevelt, Staline và Churchill. 

Được cái hân hạnh độc nhất vô nhị trên đời là được tam anh đến viếng thăm để 
đánh dấu ngày giải phóng cho dân tộc Ý, tân chánh phủ Ý do Đồng minh chỉ định 
ngầm mặc dầu tan tác xác xơ vì bom giải phóng của Đồng minh, mặc dầu kiệt quệ 
không còn đủ cơm mà ăn, đủ áo mà mặc, mặc dầu xác người vẫn còn chất đống lên ở 
ngoài đường vì được xe tăng giải phóng đè lên bẹp dí như tờ giấy, cũng cố gắng 
treo đèn kết hoa, lấy hơi tàn ra hét lên những khẩu hiệu “Đồng minh muôn năm! 
Quân đội giải phóng muôn năm!”. 

- Anh càng nói, em lại càng không hiểu. 

- Thì anh đã nói hết đâu! Tân chính phủ Ý, lúc ấy quả là sống trong cái chết, 
nhưng cứ phải theo đúng nghi lễ văn minh, tổ chức một bữa tiệc sang trọng để 
thết các vị anh hùng giải phóng cho nước Ý đáng thương. Nhưng muốn cho bữa tiệc 
sang trọng, lấy gì ra để mời ăn bây giờ? Sau một cuộc thảo luận kéo dài một 
buổi 
chiều và một nửa đêm, các nhà tân hữu trách Ý quyết định: nước Ý, đến khi được 
giải phóng, không còn một cái cóc khô gì cả, trừ một hải học viện nuôi toàn các 
giống cá quí kỷ niệm của các Tổng thống Mỹ, Thủ 
tướng Anh, Pháp, Nga... lúc Ý còn là đồng minh của họ. 

Các nhà hữu trách Ý bèn cho bắt một ít cá quý nhất trong hải học viện để làm 
tiệc đãi các vị anh hùng giải phóng. Sau mấy món ăn chơi, nhà bếp bưng ra một 
cái đĩa to bằng một cái giường trẻ con, hình bầu dục, do hai người khiêng lễ 
mễ. 
Đĩa trắng bóng, chung quanh là hành lá, ớt, rau cải bầy mỹ thuật như là một 
thảm 
cỏ xanh. Hai người trịnh trọng đặt lên bàn. Quan khách liếm môi vì món ăn hứa 
hẹn. Ở giữa đĩa có một con cá 
rất to. Mọi người giương mắt lên chưa kịp nhìn thì ở đầu bàn, một bà người Mỹ, 
bí thư của Tổng thống Roosevelt hét lên một tiếng rồi ngất xỉu trên bàn tiệc. 
Mọi người đổ xô lại cứu. Đến khi bà Mỹ kia tỉnh lại thì bà chỉ giơ tay ra hiệu 
không nói được. Sau mãi, hỏi ra mới biết là bà sợ... bà kinh tởm... bà gớm 
ghiếc 
cái con cá quý mà tân chánh phủ Y đã trịnh trọng làm thịt để 
mời đồng minh xơi. “Cất ngay đi... tôi không thể trông thấy con cá này đâu... 
chính là người ta đã làm thịt người cho chúng ta ăn... thịt một đứa con gái 
nhỏ... Phải, không phải là cá... đây chính là một đứa con gái nhỏ”. 

Malaparte, cũng ngồi dự bữa tiệc lịch sử ấy, lễ phép đứng dậy trình bày: 

- Thưa quí vị, thưa quí bà, tôi nhất định đây là con 
cá. Chúng tôi gọi nó là cá người (nhân ngư). Nó là con cá quý nhất trong hải 
học 
viện của nước chúng tôi. Nước chúng tôi trải qua một cuộc chiến tranh nhơ bẩn, 
thực quả không còn gì hết, chỉ còn có con cá này là quí nhất nên chúng tôi tâm 
thành đem làm thịt để thết các ngài là những vị anh hùng lịch sử đã đem bom đạn 
đến diệt phát xít để giải phóng cho đất nước khốn nạn của chúng tôi... Xin mời 
các ngài xơi thử... 

Bà bí thư người Mỹ giẫy lên đây đẩy: 

- Không, nhứt định không. Đây không phải là con cá. Đây chính là người, một đứa 
bé con mà họ giết thịt để mi chúng ta ăn. 

Muốn giải thích cách gì cũng không thể được, nhà văn Malaparte bèn đề nghị đem 
vứt đi cho người dân Ý bị đói khổ vì chiến tranh lấy mà ăn, nhưng bà bí thư Mỹ 
cũng vẫn không chịu: bà bắt phải làm một cái nghĩa địa để chôn con cá. 

Nhà văn Malaparte cười mà nước mắt chảy ròng ròng, chắp tay lại thưa lên: 

- Thưa quí bà, thưa quí vị, đến giải phóng nước chúng tôi, quí vị không tự biết 
là vô tình đã đem đến cho chúng tôi một bài học: quí vị nhân đạo không để đâu 
cho hết, quí vị thương người không để đâu cho hết, hơn thế lại thương cả đến 
con 
cá nữa, và muốn chúng tôi làm một cái nghĩa địa để chôn cá cho mồ yên mả đẹp. 
Chúng tôi rất thấm thía về bài học nhân đạo ấy, nhưng kia kìa, các ngài nhìn 
qua 
cửa sổ ra ngoài đường mà xem: nhà cửa bị san bằng, xác người chất đống không ai 
chôn cất, con chó cũng như con người đều đói trơ xương; chúng tôi sống không có 
miếng cơm cho vào miệng, chết không có một mảnh đất để chôn, thế thì còn đào 
đâu 
ra tiền để làm một cái nghĩa địa chôn cá, theo tinh thần siêu đẳng của người Mỹ 
văn minh, giàu có và đầy một tấm lòng nhân đạo? 

Ấy đó, câu chuyện chỉ có thế thôi. Nhiều lúc anh đã muốn quên đi, không ngờ hôm 
nay em nhắc đến cái giống cá người thành thử lại phải nhớ lại và tự hỏi: “Vậy 
ra 
người ta không đánh lừa anh sao?”. 

Nguyên do là vì đọc câu chuyện trên của văn hào Malaparte, hơn hai mươi năm, 
nay 
anh vẫn yên trí là Malaparte nói đùa và bịa ra câu chuyện “nhân ngư” để nói xỏ 
các vị anh hùng giải phóng cho nước Ý... Ai ngờ lại thật... Mà ngay ở nước ta 
cũng có giống cá người... Thế thì ở nước Ý người ta giết con cá người làm thịt 
mời chủ mới, người Mỹ nhân đạo không chịu ăn thịt con cá người, bắt làm nghĩa 
địa để chôn, còn ở nước ta, người ta đem cá người ra làm gì? 

- Ôi chao, cá người, cá điện, cá thu, cá lép, cá sư, cá gì thì cũng đem cân 
ngay 
tại thuyền để chở đi bán ở khắp các nơi trong nước và xuất cảng. Nhưng muốn bán 
bao nhiêu đi nữa thì cá vẫn cứ là thừa mứa, thành ra người ta phải tìm cách làm 
mắm, làm khô. Chỉ có khô 
mới giữ được lâu thôi. 

“Cá ở các thuyền bốc lên được chở về vựa; tại đây, có những người đàn bà chuyên 
môn ngồi xẻ cá ra, bỏ ruột rồi rửa bằng nước biển chất lên cả đống như là núi 
vậy. 

“Sáng hôm sau, cá đó được đem ra phơi trên những giàn tre ở bãi biển thành 
những 
hàng dài tăm tắp, có khi tới một cây số, hoặc treo lên cho tới khi vừa bủng thì 
đem xuống rửa đi, rồi xát muối, phơi nữa, phới kỳ cho bao giờ khô teo đi mới 
chịu thôi. Rửa nước rồi phơi như thế là để cho cá mềm, chớ mổ cá xong mà cho 
vào 
thùng thông ngay, ngâm muối một vài đêm rồi phơi lên ba bốn nắng, khô sẽ cứng 
nhắc như đá, ăn không cẩn thận, có thể gẫy răng luôn”. 

Tôi vốn không phải là người ưa cá. Đến tận lúc lớn lên, tôi tập mãi mới biết ăn 
chả cá; ngoài ra cá kho, cá rán, cá chưng hay canh cá nấu với rau cải bỏ mấy 
lát 
gừng, tôi ăn không chịu, chỉ bởi lẽ có thành kiến cá tanh, nhất là cá mặn, cá 
mắm thì tôi sợ quá. 

Vậy mà một hôm kia, tôi đã liều ăn khô. Đó là một buổi sáng mùa thu. Ở Lái 
Thiêu, một cô bạn và tôi nằm trong một vườn măng nằm ngửa mặt lên trời xem mây 
bay rồi chợt ngủ lúc nào không biết. Đến lúc tỉnh dậy thì trời đã xế trưa, bụng 
đói, mà chung quanh không có hàng quán, hàng quà nào hết. Nhân câu chuyện nói 
chơi, ông chủ vườn đem đến cho chúng tôi hai bát cơm 
nguội, mỗi bát có để một miếng khô cá lép. 

Lúc đó, vườn vắng tanh, ở ngoài kia trời nắng chói. Chúng tôi bưng bát lên ăn 
thấy ngon không biết chừng nào. Từ lúc bấy giờ tôi mới biết rằng cơm nóng ăn 
với 
khô đã ngon quá đi rồi, nhưng ăn khô với cơm nguội lại càng ngon vượt mức, ngon 
không thể nào nói xuể. Và cũng từ đó tôi mới hiểu tại sao có những cô con gái 
Bắc, “ở ngoải” thì không ăn được cá mắm, cá mặn mà vào đến trong này lại nghiện 
khô, mỗi tháng ba mươi ngày thì cả ba mươi ngày chỉ ăn cơm với khô thôi cũng cứ 
ngon đi. 

Sự thay đổi kỳ lạ đó, hiện giờ tôi vẫn còn đang tìm hiểu. Trong khi chưa biết 
kết luận ra sao, tôi chỉ biết cười khì lúc thấy má con Châu, con Khương, con 
Giao suốt ngày đe dọa lũ con, thò có đồng nào thì lại lẻn ra chợ mua khô bò, 
khô 
mực... về để ăn với nhau một cách vô cùng thích thú. Các cái chú Ba Tàu làm 
tiền 
thật tài tình. Một miếng khô tí xíu, chỉ bằng cái móng tay, đem gói vào một cái 
túi nhỏ ngoài đề nhãn hiệu “Hai con voi” “Ba con chuột”... bán một đồng, tính 
ra 
đắt vàng trời, ấy thế mà trẻ con cứ mua nườm nượp suốt ngày. Thấy thế, ông Mỹ 
cũng làm khô gói vào giấy bạc, trông khoa học không chịu được, rồi đến ông Mã 
Lai A, ông Đại Hàn, ông Nhựt Bổn đều có khô gói giấy tung ra thị trường, ăn dỗ 
tiền của trẻ con mỗi năm không ít. 

- Cứ gì trẻ con! Mình mắng trẻ cho có lệ, cứ chính mình ăn khô gói giấy cũng 
mê... Này không biết ngoại quốc họ cho thêm cái chất gì vào khô mà nó lại ngon 
khác hẳn “khô chân phương” của người mình thế nhỉ? Chồng không biết trả lời vợ 
ra sao. Cả hai cùng nhìn nhau, không nói và hình như có một lúc cả hai cùng nhớ 
lại có một buổi sáng mùa thu nào đó, trong một cái vườn măng ở Lái Thiêu, có 
một 
người đàn ông và một người đàn bà - lúc ấy còn là bạn - cùng ngồi trên một cái 
chiếu trải dưới đất ăn cơm nguội với khô. 

- Ăn khô ngon đến như thế mà cấm trẻ nó ăn, phải tội. 

Vợ cười và bảo: 

- Nếu không có bữa khô hôm đó, sao mà có lũ trẻ ngày nay, mình nhỉ? 

Trăng Vũng Tầu sầu biêng biếc, nước Vũng Tầu đêm đến dâng lên, đập ì uộp vào 
bờ, 
nghe thê thiết như bài hát ru xứ Quảng. 

Thỉnh thoảng về nghỉ mát ở miền duyên hải này, hai vợ chồng mở cửa nhìn ra trời 
nước, có lần thấy niềm hương ý nhạc dâng lên ở trong lòng lại muốn cùng nhau 
gảy 
lại khúc đàn cũ ngày nào, trong một vườn măng ở Lái Thiêu, hai đứa ăn hai chén 
cơm nguội với khô rồi ngủ trên bãi cỏ có nhiều bóng mát. 

Nhưng người vợ đến nửa đêm gần sáng lại lắc đầu không chịu nghe lời chồng. Là 
vì 
nửa đêm về sáng, có những lằn chớp lóe lên ở chân trời, rồi trăng lặn, rồi gió 
lớn nổi lên: ấy là mưa nguồn, ấy là chớp bể... 

Người vợ khẽ nói vào tai chồng, như thể sợ có ai nghe thấy câu chuyện lòng mà 
cười chăng: 

- Anh ơi, quên làm sao được buổi sáng mùa thu năm ấy, hai đứa mình còn son trẻ, 
ăn cơm với khô mà ngon như ăn vây ăn yến... Miếng khô siết chặt ân tình của em 
lại với anh... nhưng có những buổi thật là kỳ lạ... Ăn khô ngon quá, em nghĩ xa 
nghĩ gần... và không hiểu làm sao có một vài lúc em thấy sợ... nhất là những 
hôm 
có chớp bể mưa nguồn như đêm nay... Em thấy lòng xốn xang, anh ạ, vì em nghĩ... 
em nghĩ không biết những thuyền đánh cá ở biển để về làm khô thì gặp bão tố như 
thế này, họ biết tránh vào đâu... Em nghĩ... phải anh ạ, em nghĩ rằng miếng khô 
làm cho ta ăn vào mát ruột hả lòng... nhưng cũng rất có thể vì miếng khô mà có 
những gia đình tan tác, vợ chồng tử biệt sanh ly... 

Ờ ờ, chính vào cữ này đây, anh ạ, vợ chồng mình nhân một ngày bão rớt đìu hiu 
ngồi quấn quít với nhau để ăn một bữa khô ngon lành thì dân chài miền bể thường 
lại lo sợ, mất ăn mất ngủ vì đó cũng là cữ trời mưa bão, những người đi biển 
thường dễ làm mồi cho cá... Một tiếng chim kêu khắc khoải khác thường, một 
giáng 
trời hơi lạ, một ngọn gió xoay chiều - phải, chỉ có thế thôi mà lắm khi có thể 
làm cho bao nhiêu người ủ ê nét mặt, lo sợ một thiên tai xảy đến. 

Ấy là những người ở nhà lo cho kẻ ra đi, không biết sống chết ra sao và chỉ còn 
biết chắp tay lại mà cầu Trời khấn Phật phù hộ cho chồng con họ đi đến nơi, về 
đến chốn, khỏi phải chôn xác vào miệng kình nghê nơi biển cả. 

Ơi! Ơi những người thanh thả, có bao giờ nghĩ tới những kẻ mang thê noa ra đánh 
bạc với trùng dương để cướp của Long vương một lứa cá đem về bán tươi hay làm 
khô, cho chúng ta ngồi thưởng thức cạnh con khôn, vợ đẹp? 

Other related posts: