[SMCC] Mieng Ngon Ha Noi 3

                                MIẾNG NGON HÀ NỘI
                                PHỞ BÒ
                                MÓN QUÀ CĂN BẢN


                              Sao lại là quà căn bản?
                              Vâng, chính thế; người ta có thể nói rằng người 
                              Việt Nam có thể không ăn bánh bao, bánh bẻ, có 
thể 
                              không ăn mằn thắn hay mì, có thể không ăn xôi 
lúa, 
                              nhưng chắc chắn là ai cũng đã từng ăn phở.
                              Rẻ lắm. Theo giá trị của đồng bạc bây giờ năm 
đồng 
                              một bát phở, mà ba đồng cũng được một bát phở 
ngon 
                              như thường.
                              Vì thế, từ cô bán hàng trong một cửa hiệu buôn 
cho 
                              đến một ông công chức, từ một bà mệnh phụ nhà có 
                              cửa võng sơn son thiếp vàng, đến một người thợ 
vắt 
                              mũi không đủ nuôi miệng, ai cũng ăn bát phở. Ngon 
                              miệng thì ăn hai, riêng tôi thì tôi đã từng thấy 
                              có người điểm tâm buổi sáng tới ba bát liền, mỗi 
                              bát tám đồng, vị chi hai mươi bốn, hai mươi nhăm 
                              đồng bạc.
                              Thật thế, phở đối với một hạng người, không còn 
là 
                              một món ăn nữa, mà là một thứ nghiện như nghiện 
                              thuốc lào, thuốc lá, trà tươi, thuốc phiện.
                              Ngay từ ở đằng xa, mùi phở cũng đã có một sức 
                              huyền bí quyến rũ ta như mây khói chùa Hương đẩy 
                              bước chân ta, thúc bách ta phải trèo lên đỉnh núi 
                              để vào chùa trong rồi lại ra chùa ngoài. Ta tiến 
                              lại gần một cửa hàng bán phở, thật là cả một bài 
                              trí nên thơ. Qua lần cửa kính ta đã thấy gì? Một 
                              bó hành hoa xanh như lá mạ, dăm quả ớt đỏ buộc 
vào 
                              một cái dây, vài miếng thịt bò tươi và mềm, chín 
                              có, tái có, sụn có, mỡ gầu có, vè cũng có... 
Người 
                              bán hàng đứng thái bánh, thái thịt luôn tay, 
thỉnh 
                              thoảng lại mở nắp một cái thùng sắt ra để lấy 
nước 
                              dùng chan vào bát. Một làn khói tỏa ra khắp gian 
                              hàng, bao phủ những người ngồi ăn ở chung quanh 
                              trong một làn sương mỏng, mơ hồ như một bức tranh 
                              Tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng 
                              mùa thu.
                              Trông mà thèm quá! Nhất là về mùa rét, có gió bấc 
                              thổi hiu hiu, mà thấy người ta ăn phở như thế, 
thì 
                              chính mình đứng ở ngoài cũng thấy ấm áp ngon 
lành. 
                              Có ai lại đừng vào ăn cho được...
                              Ấy vậy mà người sành ăn phở, người ăn phở kỹ càng 
                              không thể dễ tính, nhất tề bước vào một cửa hiệu 
                              phở thứ nhất nào để mà ăn liều ăn lĩnh.
                              Bởi vì những người sành ăn đó, thường không tin 
gì 
                              cho lắm ở những hàng phở mở cửa hàng. Người ta 
bảo 
                              rằng phần nhiều những hàng phở mở hiệu như thế, 
                              nước dùng không được ngọt, hoặc có ngọt là cái 
                              ngọt của mì chính, chứ không phải là cái ngọt của 
                              xương bò, ấy là chưa nói rằng lại còn cửa hiệu 
phở 
                              quá vụng về muốn có nước dùng ngọt lại cho đường 
                              vào nữa. Ăn phải một bát phở như thế, không những 
                              tiếc tiền, mà lại còn thấy phí phạm cả cái công 
                              ăn, đến sinh ra lợm giọng, bực mình là khác.
                              Vì thế, người ăn phở muốn cho thật đúng cung 
cách, 
                              phải thăm dò, phải điều tra, phải thí nghiệm kỹ 
                              càng rồi mới ăn mà một khi đã chịu giọng rồi, ta 
                              có thể tin chắc rằng người đó sẽ là một người 
                              khách trung thành, cũng như một người đàn ông 
nghệ 
                              sĩ trung thành với hơi hướng của một người yêu, 
                              cũng như một người chồng mê vợ vì người vợ đã có 
                              tài làm một hai món khéo, ăn vào hợp giọng.
                              * * *
                              Chính vì lẽ đó, chúng ta đã từng thấy có những 
                              người vất vả vì ăn phở. Trước kia, còn thái bình, 
                              ta đã từng thấy có buổi sáng, hàng trăm người 
chen 
                              chúc khổ sở vào cái ngõ con bề ngang không quá 
một 
                              thước ở phố Hàng Khay, bên cạnh nhà Bát Si Nha 
hay 
                              xuống tận đằng sau chợ Hôm, trong một cái quán lá 
                              tồi tàn để thưởng thức cho kỳ được một hay hai 
bát 
                              phở mới yên tâm.
                              Thời đó, nổi tiếng có anh phở Sứt sáng lập ra món 
                              phở giò (lấy thịt bò quận lại như cái dăm bông 
rồi 
                              thái mỏng từng khoanh nhỏ điểm vào với thịt). Phở 
                              Nhà thương Phủ Doãn ăn được nhưng nước hơi nhạt; 
                              phở Đông Mỹ ở phố Mới ăn êm, nhưng tẩy gừng hơi 
                              quá tay; phở Cống Vọng, kéo xe, ngon, nhưng nước 
                              dùng hơi hôi; phở Mũ Đỏ ở đằng sau miếu chợ Hôm 
vô 
                              thưởng vô phạt, ăn khá, nhưng chưa có gì quyến rũ.
                              Còn một anh phở nữa là anh phở Tàu Bay lúc đó 
cũng 
                              nổi tiếng lắm; sáng sáng, người ta đứng đầy cả ra 
                              ở ngã ba đầu Hàm Long, xế cửa Sở Hưu bổng để mà 
                              tranh nhau ăn, như thể lúc mới hồi cư, người ta 
                              tranh nhau đứng lĩnh “bông” sữa, bông vải vậy. 
                              Thịt mềm, nước cũng đã ngọt, nhưng thật ra thì 
                              chưa có thể gọi là trác tuyệt.
                              Phải đợi đến lúc hồi cư về, ta mới thấy, phong 
                              trào phở tiến nhanh và tiến mạnh như thế nào. Họa 
                              hoằn về phía chợ Đuổi mới thấy một hai hàng phở 
                              xe. Còn thì là phở gánh và phở hiệu.
                              Một gian nhà đổ căng một cái bạt, bắc vài cái 
ghế; 
                              một cổng đình chắn một tấm phên tre; một cái ngõ, 
                              che mấy tấm tôn và kê một hai tấm ghế dài: thế là 
                              đã thành ra một cửa hàng rồi, ngồi ăn được, mà 
rất 
                              có thể lại ngon lành là khác.
                              Bởi vì ta phải biết rằng, người đi ăn phở - nói 
                              cho thật đúng nghĩa chữ ăn phở - không kỳ quản 
lắm 
                              đến sự bài trí của chỗ ăn, cũng như người ăn 
thuốc 
                              phiện, nghiện tiệm, không cứ là phải nằm hút ở 
một 
                              chỗ sang trọng có dọc đẹp, đèn pha lê và tiêm móc 
                              làm bằng bạc.
                              Nếu ta đã từng thấy có những người giàu có, 
nghiện 
                              thuốc phiện, chui vào những cầu gác bẩn thỉu, hôi 
                              hám để ăn thuốc mới thấy “đã thèm”. Thì ta lại 
                              cũng thấy biết bao nhiêu người sang trọng lần mò 
                              tới chỗ rất tồi tàn để ăn cho được một hai bát 
phở.
                              Đó là do người ăn phở sành, hầu hết, chỉ chủ tâm 
                              đến cái điểm chính là phở mà thôi, chứ không quan 
                              tâm đến ngoại cảnh làm gì. Điều cần thiết là bánh 
                              phải mỏng và dẻo, thịt mềm, và nhất là nước dùng 
                              phải ngọt, ngọt kiểu chân thật, nghĩa là ngọt vì 
                              nhiều xương, tẩy vừa vặn không nồng, mà lại tra 
                              vừa mắm muối, không mặn quá mà không nhạt quá.
                              Đạt được mấy điểm đó tức là ăn phở được đấy.
                              Vào khoảng 1948-1949, phở Phú Xuân ở phố Rixô ăn 
                              được; đồng thời có phở Đông Mỹ, phở Tứ. Phở Tứ, 
                              phở Tàu Bay (bây giờ đã dọn thành cửa hiệu) và 
một 
                              ít hàng nữa mà ta không kể hết. Nhưng phở nào 
hình 
                              như cũng chỉ có một thời. Vì thế, nhiều hiệu và 
                              nhiều gánh phở có tiếng bây giờ nằm ngủ ở trên 
                              danh vọng. Người ta nghiệm thấy điều này: phần 
                              nhiều hàng phở lúc còn gánh thì ngon, mà dọn 
thành 
                              cửa hàng rồi thì kém.
                              Có phải đó là vì chểnh mảng trong sự cố gắng, hay 
                              là vì thành kiến của người ăn?
                              Duy ta có thể chắc được điểm này là một hàng phở 
                              đương làm ngon mà sút kém đi thì chỉ trong một 
                              tuần lễ, nửa tháng, cả Hà Nội đều biết rõ; trái 
                              lại, mới có một hàng phở nào làm ăn được thì cũng 
                              chỉ dăm bữa, mươi ngày là cả Hà Nội cùng đổ xô 
                              ngay đến để mà “nếm thử”, không cần phải quảng 
cáo 
                              lên nhật báo lấy một dòng!
                              Âu đó cũng là một điểm đặc biệt trong thương 
                              trường vậy. 
                              Nhiều người cho rằng sở dĩ thế ấy là vì món phở 
                              đứng cao hơn mọi sự lừa bịp của thời này: phở 
ngon 
                              là ngon, chứ không thể lừa dối người ta được.
                              Mà lừa dối làm sao? 
                              Một người lầm, nhưng không thể một nghìn người 
lầm 
                              được. Người ta ăn phở có phải là tiêu hóa rồi mà 
                              thôi đâu? Không. 
                              Cũng như đọc một áng văn hay, gấp sách lại mà còn 
                              dư âm phảng phất, còn suy nghĩ, còn trầm mặc, 
                              người ta ăn phở xong cũng đắn đo ngẫm nghĩ, rồi 
có 
                              khi đem thảo luận với anh em, nhất là các công 
                              chức và các tay thương gia rỗi thì giờ thì lại 
                              luận bàn kỹ lắm.
                              Thì ra phở không những là một món ăn, một sự 
thích 
                              thú cho khứu giác, mà còn là cả một vấn đề; vấn 
đề 
                              ăn phở, vấn đề làm phở.
                              Muốn thấu triệt hai phương diện của vấn đề, chúng 
                              ta cần phải bỏ mấy tiếng đồng hồ lên trước cửa 
                              trường Hàng Than để quan sát một hàng phở nổi 
danh 
                              nhất bấy giờ: phở Tráng - mà có người yêu mến quá 
                              mức đã gọi (chẳng biết đùa hay thực?) là “vua phở 
                              1952"
                              Tráng là tên ông “vua phở” này. Nhưng người ta 
                              không gọi anh bằng tên, cũng như người ta ít khi 
                              gọi những hàng phở ngon bằng tên của người bán, 
mà 
                              gọi bằng tên phố người hàng phở đứng bán (như phở 
                              Tráng thì gọi là phở Hàng Than, phở Sứt thì gọi 
là 
                              phở Hàng Khay), hoặc gọi bằng sướt hiệu (như phở 
                              Lùn, phở Cụt, phở Mũ Đỏ) hoặc gọi bằng đặc điểm 
                              nào đó của cái cửa hàng (phở xe đầu Hàng Cá), 
hoặc 
                              gọi bằng tên tự (như phở Đông Mỹ, phở Tân Tân, 
Phú 
                              Xuân) và có khi lại gọi bằng một phù hiệu (như 
phở 
                              Tàu Bay, Tàu Bò)...
                              Vậy thì ông vua ấy tên là Tráng, nhưng người ta 
                              vẫn gọi là phở Hàng Than.
                              Hình thù, vóc dáng của anh ta trông thật nản. 
                              Người gầy, môi hơi thưỡi, mắt thì lờ đờ như người 
                              chết rồi. Bất cứ lúc nào, nhìn thấy anh, ông cũng 
                              cảm giác đó là một người vừa mới thăng đồng, 
đương 
                              sống trong một cái thế giới u minh; thêm vào đó, 
                              lại bịt ở trên đầu một cái mùi soa trắng, trông 
                              mới lại càng... “thiểu số”.
                              Người đâu mà lại “lỳ xì” đến thế là cùng! Hàng 
năm 
                              bảy chục người, hàng tám chín chục người đứng 
vòng 
                              lấy gánh hàng của anh ta, chật cả một cái hè 
đường 
                              để mua ăn, để “đòi ăn” - phải, họ đòi ăn thật - 
mà 
                              anh ta cứ làm như thể không trông thấy gì, không 
                              nghe thấy gì.
                              Anh ta cứ thản nhiên, thái thịt, dốc nước mắm, 
                              rưới nước dùng - ai đợi lâu, mặc; ai phát bẳn 
lên; 
                              mặc; mà ai chửi, anh ta cũng mặc. 
                              Đi ôtô đến ăn cũng thế, mặc áo vải đến ăn cũng 
                              thế; các bà các cô đẹp đáo để, đến ăn cũng thế. 
                              Anh ta không đặc biệt riêng với ai - kể cũng dân 
                              chủ đấy! - nhưng có nhiều bà tức vì anh ta không 
                              nịnh đầm.
                              Ghét quá. Thế thì thuê một cái nhà rộng, mượn 
thêm 
                              người làm có phải lợi không? Hay là điều đình với 
                              xưởng củi người ta để cho một gian, bày mấy cái 
                              bàn, cái ghế, có người trông nom, tính tiền cẩn 
                              thận có phải không mất mát không?
                              Mặc cho ông cứ nói, anh phở Tráng không trả lời - 
                              nhất là không bao giờ cười.
                              Trông mà lộn ruột, muốn tát cho một cái. Chết một 
                              nỗi ghét người thì thế, nhưng đến cái phở của anh 
                              ta muốn ghét, không tài nào ghét được.
                              Có ai chen chúc vất vả, hò hét đứt hơi được một 
                              bát phở của anh, mà lại chưa ăn ngay, còn dừng 
lại 
                              một phút để ngắm nghía, phân tách bát phở đó ra 
                              thế nào không?
                              Thật là kỳ lạ! Bánh phở không trắng và dẻo hơn, 
                              thịt thì cũng chẳng nhiều, nhưng mà làm sao ngon 
                              lạ, ngon lùng đến thế? Chưa ăn đã biết là ngon 
rồi.
                              Cứ nhìn bát phở không thôi, cũng thú. Một nhúm 
                              bánh phở; một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn 
                              rau thơm xanh biêng biếc; mấy nhát gừng màu vàng 
                              thái mướt như tơ; mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu 
hoa 
                              hiên vừa đỏ sẫm như hoa lựu... ba bốn thứ màu sắc 
                              đó cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập 
                              thể của một họa sĩ trong phái văn nghệ tiền tiến 
                              dùng màu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà 
                              đẹp mắt.
                              Trên tất cả mấy thứ đó, người bán hàng bây giờ 
mới 
                              thái thịt bò từng miếng bày lên.
                              Đến đây thì Tráng vẫn không nói năng gì, nhưng tỏ 
                              ra biết chiều ý khách hàng một cách đáng yêu.
                              Ông muốn xơi chỗ thịt nào cũng có: vè, sụn nạm, 
mỡ 
                              gầu, mỡ lật, vừa mỡ vừa nạc, vừa nạm vừa sụn, thứ 
                              gì anh ta cũng chọn cho kỳ được vừa ý ông - miễn 
                              là ông đến xơi phở đừng muộn quá.
                              Ăn phở chín thì như thế là xong, chỉ còn phải lấy 
                              nước dùng và rắc một chút hạt tiêu, hay vắt mấy 
                              giọt chanh (nếu không là tí dấm).
                              Nếu ông lại thích vừa tái vừa chín thì trước khi 
                              rưới nước dùng, anh Tráng vốc một ít thịt tái đã 
                              thái sẵn để ở trong một cái bát ôtô, bày lên trên 
                              cùng rồi mới rưới nước dùng sau.
                              Thế là “bài thơ phở” viết xong rồi đấy, mời ông 
                              cầm đũa. Húp một tí nước thôi, đừng nhiều nhé! 
Ông 
                              đã thấy tỉnh người rồi phải không?
                              Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng 
                              ăn phở có như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh 
thì 
                              dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, 
                              cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; 
                              thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của 
                              hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, 
                              thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm... 
                              rồi thì hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng 
                              ngọt cứ lừ đi, ngọt một cách hiền lành, êm dịu, 
                              ngọt một cách thành thực, thiên nhiên, không có 
                              chất gì là hóa học... không, ông phải thú nhận 
với 
                              tôi đi: “Có phải ăn một bát phở như thế thì khoan 
                              khoái quá, phải không?”
                              Quả vậy, ăn một bát phở như thế, phải nói rằng có 
                              thể “lâm li” hơn là nghe thấy một câu nói hữu 
tình 
                              của người yêu, ăn một bát phở như thế, thú có thể 
                              ví như sau một thời gian xa cách, được ngã vào 
                              trong vòng tay một người vợ đẹp mà lại đa tình 
vậy!
                              Y hẳn cũng có người cảm giác như tôi, cho nên 
biết 
                              bao nhiêu bận đứng chờ làm phở, tôi đã thấy những 
                              người đàn bà, đàn ông, người già, trẻ con, bưng 
                              lấy bát phở mà đôi mắt sáng ngời lên. Người ta 
chờ 
                              lâu thì bực thật đấy, nhưng cũng vẫn cứ chờ cho 
                              được, tuồng như đã đến mà không được ăn thì chính 
                              mình lại phải tội với mình, vì đã đánh lừa thần 
                              khẩu - hay nói một cách khác, đến đấy mà không cố 
                              ăn cho kỳ được thì rồi sẽ hối hận như một người 
                              tình đã để lỡ cơ hội chiếm người yêu... 
                              Nhưng mà dù thiết tha đến bực nào, ông cũng rất 
có 
                              thể một hôm nào đó bị ra về mà không được ăn - dù 
                              một bát thôi. Ấy là vì chỉ độ chín giờ, chín rưỡi 
                              thì thường là phở Hàng Than đã hết.
                              Cho nên những người thật nghiện phở thường vẫn rủ 
                              nhau đi ăn thật sớm. Theo lời họ nói lại, muốn 
                              thưởng thức hoàn toàn hương vị phở Hàng Than, cần 
                              phải dậy đi ăn từ sáu giờ, vào lúc trời chưa sáng 
                              hẳn. Lúc đó, trời mờ mờ chưa rõ mặt người, phố xá 
                              họa hoằn mới có dăm ba người qua lại. Anh đi ăn 
sẽ 
                              thấy một cái thú khác lạ nữa là ăn ngon trong 
tịch 
                              mịch, ăn ngon trong không khí trong lành.
                              Khách chưa có ai, anh muốn ăn kiểu gì, muốn xơi 
                              chỗ thịt nào, muốn dùng nước thịt bò tươi rưới 
lên 
                              bánh, muốn có mỡ lật, mỡ gầu, muốn nước trong hay 
                              béo, tha hồ mà hạch! Anh được như ý và anh sẽ vừa 
                              ăn vừa nhìn mấy thanh củi tạ ở trong lò kêu lách 
                              tách và bắn ra ngoài trời sắc sữa những hoa lửa 
vi 
                              ti màu đỏ tươi.
                              * * *
                              Dù sao, ta cũng phải nhận rằng đến vấn đề ăn phở 
                              thì người Việt Nam quả là khó tính lạ lùng.
                              Một người bạn đã từng nếm đủ hương vị của tất cả 
                              những hàng phở danh tiếng ở Hà thành khoảng ba 
                              mươi năm trở lại đây, một hôm, cho tôi biết rằng: 
                              “Đến cái năm 1952 này, phở hình như đã tiến tới 
                              chỗ tuyệt đỉnh của nó rồi, cũng như một bản nhạc 
                              tuyệt kỹ... không chê vào đâu được, nghĩa là 
không 
                              thể thêm một món gì hay giảm một món gì”.
                              Theo anh ta thì phở mà cho magi vào thì rất hỏng 
                              mà quấy “lạp chiếu chương” vào cũng lại dở vô 
                              cùng. Phải là hoàn toàn gia vị Việt Nam mới được: 
                              hồ tiêu Bắc, chanh, ớt, hành hoa, rau thơm hay là 
                              một tí mùi, thế thôi, ngoại giả cấm hết, không có 
                              thì là tục đấy!
                              Có người kể chuyện rằng trước đây mười lăm, hai 
                              mươi năm, đã có một hàng phở ở phố Mới tìm lối 
cải 
                              cách phở, cũng như Năm Châu, Phùng Há dạo nào cải 
                              cách cải lương Nam kỳ, tung ra sân khấu những bản 
                              “De đơ dà múa”. Họ cho mà dầu và đậu phụ vào phở, 
                              nhưng cố nhiên là thất bại.
                              Sau còn có người làm phở cho cà rốt thái nhỏ, hay 
                              làm phở ăn đệm với đu đủ ngâm giấm hoặc là cần 
                              Tây, nhưng thảy thảy đều hỏng bét vì cái bản nhạc 
                              soạn bừa bãi như thế, nó không... êm giọng chút 
                              nào.
                              Một chú khách ở chợ Hôm, chuyên về lối “phở nhừ”, 
                              bánh thì thái to, thịt thì thái con cờ hầm chín, 
                              nước cho húng lìu, một dạo cũng đã làm cho người 
                              nói tới, song những người sành phở chỉ dùng một 
                              vài lần thôi, vì không những đã không có vị phở, 
                              thịt ăn lại bã, mà nước thì đục mà ngấy quá.
                              Một hàng phở ngon là một hàng phở ăn một bát, lại 
                              muốn ăn hai và nếu còn sức ăn nữa thì phải ăn ba 
                              không thấy chán.
                              Gặp phải ngày ta se mình, ngửi mùi thịt thấy sợ, 
                              hàng phở ngon vẫn có thể làm cho ta ăn ngon miệng 
                              với một bát phở chay, chỉ có bánh và nước thôi. 
                              Làm như thế mà ngon, thế mới là ngon đấy.
                              Một bát phở vừa tái vừa chín ngon, chưa đủ để 
định 
                              giá trị của hàng phở được; muốn biết chân giá trị 
                              của nó, theo lời người biết ăn phở, phải là thứ 
                              phở chín không thôi, phở chín mà ngon thì mới 
thật 
                              là ngon đấy.
                              Thực ra, điều quan hệ trong một bát phở là cái 
                              bánh, nhưng thứ nhứt, như trên kia đã nói, cần 
                              phải có nước dùng thật ngọt. Bí quyết là ở chỗ 
đó. 
                              Và tất cả những hàng phở ngon đều giữ cái bí 
quyết 
                              ấy rất kín đáo, y như người Tàu giữ của, vì thế 
                              cho nên trong làng ăn phở, vấn đề nước vẫn là một 
                              vấn đề then chốt để cho người ta tranh luận.
                              Hầu hết người ta đều nhận thấy rằng muốn có một 
                              nồi nước dùng ngon, cần phải pha mì chính. Nhưng 
                              chưa chắc thế đã hoàn toàn là phải.
                              Thuyết cho đường nhất định là bị loại rồi. Có 
                              người cho rằng phải có nhiều đầu cá mực bỏ vào; 
có 
                              người chủ trương cần phải có thứ nước mắm tốt lại 
                              có người quả quyết với tôi rằng muốn có nước dùng 
                              ngọt, không thể thoát được món cua đồng - cua 
đồng 
                              giã nhỏ ra, lọc lấy nước, cho vào hầm với nhiều 
                              xương ống, nhưng phải chú ý tẩy cho thật khéo, mà 
                              cũng đừng ninh kỹ quá sợ nồng.
                              Đến bây giờ, ai đã thật biết cái bí mật ấy chưa? 
                              Riêng tôi, tôi cũng đã tìm tòi suy nghĩ rất cẩn 
                              thận mỗi khi trịnh trọng nâng một bát phở lên ăn, 
                              nhưng thú thực, tôi vẫn chưa biết rằng trong tất 
                              cả những “giả
                              thuyết” về “phương pháp làm nước dùng phở” người 
                              ta kể ra đó, giả thuyết nào là đúng.
                              Kết cục, tôi đã gạt bỏ tất cả những sự băn khoăn 
                              đó sang một bên và không buồn nghĩ nữa, vì tôi 
                              thấy rằng ăn một miếng phở, húp một tí nước dùng 
                              ngon thỉnh thoảng điểm một lá thơm hăng ngát mà 
                              không biết tại sao phở lại ngon như thế thì có 
                              phần hứng thú hơn là mình biết rõ ràng quá cái bí 
                              quyết ngon của phở.

Other related posts: