[SMCC] Mieng Ngon Ha Noi 2

                                MIẾNG NGON HÀ NỘI
                                DỰNG


                              Miếng ngon nhớ lâu,
                              Cơ cầu nhớ dai.
                              (Phương ngôn)

                              Sau một cuộc biến thiên, đất nước đổi thay nhiều 
                              lắm. Ai hồi cư năm 1948-1949 có còn nhớ rằng suốt 
                              từ Bạch Mai về đến chợ Hôm, có hàng dãy phố bị 
phá 
                              không? Hàng Da, Hàng Thiếc, Hàng Đồng, chỉ còn 
trơ 
                              lại mấy cái nhà lỏng lẻo, mất cả trần, cả cửa. Có 
                              phố cỏ mọc ra cả đường đi. Nhiều cái ngõ hẻm bị 
                              nghẽn, không qua lại được, vì gạch ngói chất cao 
                              lên như núi.
                              Bây giờ thành phố Hà Nội lại có một vẻ mặt mới 
                              rồi. Nhiều phố ngày xưa hẹp và khuất khúc, với 
                              những cái nhà lụp xụp, một tầng, trông vào tối 
tăm 
                              như một ngày mùa đông, nay đã có những căn nhà 
                              rộng, kiểu mới, cửa sổ bịt hoa sắt, đứng lên thay 
                              thế. Có khi đứng ở đầu phố mà nhìn về cuối phố, 
                              người ta thấy nhà cửa thẳng tăm tắp như vẽ trong 
                              bản đồ. Ấy là vì nhu cầu của văn minh đó. Xe 
                              nhiều, người lắm, có sửa sang như thế mới dễ bề 
                              giao thông. Người đi bộ đỡ chết, mà ông vặn lái 
                              ôtô cũng thích.
                              Nhưng đối với những người nhàn tản, thích nhìn 
vào 
                              những cái nhỏ mọn, cũ kỹ để tìm lại dấu xưa vết 
cũ 
                              của Hà thành, có lẽ cái tỉnh thành mới này không 
                              gợi cho trí óc nhiều cảm tưởng nên thơ lắm, như 
                              trước hồi chiến tranh.
                              Người ta bâng khuâng nhớ một cái gì đã mất, và 
                              chính người ta không biết rõ là cái gì. Tuy núi 
                              Nùng hãy còn, tháp Rùa (với một ngọn đèn máy ở 
                              trên ĐỈnh tháp!) vẫn còn sờ sờ ra đấy, nhưng 
không 
                              khí Hà Nội cũ thì hình như đã đổi thay. Nóng 
không 
                              phải là cái nóng Hà Nội cũ, mà rét cũng không 
phải 
                              cái rét của Hà Nội cũ.
                              Người tản cư đi tha thẩn hết cả “Hà Nội 36 phố 
                              phường”, vào một buổi đầu thu kia, nghiệm thấy 
                              rằng: tâm tánh người Hà Nội đổi thay, phố xá, nhà 
                              cửa thay đổi, mà cái mặc của người Hà Nội cũng 
                              khác xưa, duy chỉ có một thứ không thay đổi: là 
                              cái ăn của người Hà Nội.
                              Tôi không muốn nói ở đây về cái lượng ăn, nhưng 
                              muốn nói về cái phẩm, không muốn nói về tánh cách 
                              ăn của từng người, nhưng về cái chất ăn của đại 
đa 
                              số người Hà Nội.
                              Xa Hà Nội một dạo, người trở lại đế đô có thể ăn 
                              các thứ cao lương mỹ vị của Tàu, Tây; nhưng rút 
                              lại thì người Hà Nội rồi cũng quay về với những 
                              món ăn cổ truyền đặc biệt Hà Nội nó làm cho chúng 
                              ta thèm nhớ.
                              Ăn vây, ăn bóng, ăn hải sâm, bào ngư, gì rồi cũng 
                              chán. Một buổi sáng kia, thấy nản về sự tiêu hóa, 
                              ta chợt nhớ rằng cơm trắng vẫn là lành và hợp với 
                              tạng phủ ta. Một bát phở khói bốc lên nghi ngút, 
                              một mẹt bún chả thơm ngào thơm ngạt, hay một đĩa 
                              bánh cuốn Thanh Trì, để bên cạnh một đĩa đậu rán 
                              phồng nóng rẫy lên, tự nhiên làm cho ta nhớ rằng 
                              những cái đó đã tạo nên một phần nào linh hồn của 
                              Hà Nội; sở dĩ ta thấy không thể quên được Hà Nội 
                              cũng vì những thức ăn đặc biệt Hà Nội đó.
                              Có những người đã qua cái tuổi hai mươi, bị những 
                              bóng dáng yêu kiều của đô thị văn minh xô đẩy, đã 
                              bỏ cái mái nhà yên ấm của mình đi theo tiếng gọi 
                              của một tình yêu mới, êm ái hơn, thắm tươi hơn.
                              Hương bốn mùa có thể làm cho họ say sưa, nhưng 
một 
                              buổi chiều đông kia, người đàn ông lạc phách trở 
                              về thấy gia đình ấm cúng, chân thật, bỗng thấy 
                              lòng ân hận, vì đến lúc bấy giờ mới cảm thấy chỉ 
                              có người vợ tấm nẳm mới là người chung thủy với 
                              mình.
                              Một cái quàng tay, một cái nhìn âu yếm, cả một 
                              thời ái ân xưa kia tưởng đã tan biến, bây giờ lại 
                              trở về, có phần thơm ngát hơn xưa. Một hơi thở, 
                              một miệng cười gợi lại cả một mối tình êm dịu mà 
                              kín đáo, cũng như một người xa quê lâu ngày, ngửi 
                              thấy mùi lúa chín ở cánh đồng, lại thấy nở ra 
                              trong trí bao nhiêu kỷ niệm tươi đẹp nơi đồng áng.
                              Miếng ngon Hà Nội, vì thế, nhiều khi làm cho ta 
                              yêu Hà Nội thấm thía, nhớ Hà Nội ê chề, và làm 
cho 
                              ta cảm giác ta là người Hà Nội hơn... Có ai đã xa 
                              Hà Nội lâu ngày, một chiều hiu hắt vọng về Hà Nội 
                              nhớ từng cái ngõ, từng cái nhà, nhớ từng vườn 
Bách 
                              Thảo, hồ Hoàn Kiếm nhớ đi, nhớ từ những hoa sấu 
                              rụng ở trên đường đầu thu nhớ xuống, mà tự nhiên 
ở 
                              đâu có người tìm đến mang “một chút quà Hà Nội” 
                              đến cho mình, người ấy mới có thể biết “quà Hà 
                              Nội” giá trị như thế nào!
                              Kể về đồng tiền thì cũng chẳng lấy gì làm đắt 
đâu. 
                              Một lọ cà cuống không to hơn một ngón tay; vài 
cái 
                              bánh cốm, bên một lạng chè mạn sen, hay một lọ 
                              vừng hoặc một chai nước mắm; mấy thứ đó tính theo 
                              thời giá, không quá năm chục bạc. Thế nhưng mà 
                              những cái quà đó đã đem đến cho lòng ta bao nhiêu 
                              sự đắm say, bao nhiêu thú vị, bao nhiêu cảm giác 
                              mông lung, nhã lịch! Ta cầm lấy mà thấy như ôm 
một 
                              chút hương hoa của đất nước vào lòng. Ai đã bảo 
ăn 
                              uống là một nghệ thuật? Hơn thế, ăn uống là cả 
một 
                              nền văn hóa đấy.
                              Nhiều người viết về ảnh hưởng huyền diệu của văn 
                              chương đã nhận rằng đọc một quyển sách hay còn 
như 
                              sống hẳn một kiếp khác vì được làm bạn với thánh 
                              hiền.
                              Người sành ăn, người biết ăn ngon cũng thế, ăn 
một 
                              miếng ngon của đất nước thấy bừng lên ở trong 
lòng 
                              một mối hạnh phúc, vì đã được ăn vào trong mình 
                              một chút gì của đất nước, một tinh túy truyền từ 
                              năm, tháng nọ sang tháng, năm kia.
                              Có phen ta đã ăn quà Nhật, ta dùng cơm Tây, ta 
lại 
                              ăn tiệc Tàu. Mỗi miếng ngon của một nước biểu lộ 
                              một phần nào cá tính của nước đó, cũng như uống 
                              nước trà năm giờ là đặc biệt Ănglê, cary dê, cary 
                              gà là đặc biệt Ấn Độ hay ăn cơm rang với thịt bò 
                              trộn đường là đặc biệt Phù Tang.
                              Bây giờ có lẽ cũng đã xa rồi, nhưng vào cái thời 
                              1946-1947, ở biên khu chạy loạn, tôi quả đã nhớ 
                              đến những miếng ngon Hà Nội, có khi đau nhói ở 
                              tim. Ăn một bát phở ở chợ Đại, tôi lại nhớ tới 
anh 
                              phở Sứt ở trong cái ngõ cụt Tràng Tiền; ăn nem 
chả 
                              thì nhớ nem chả ở đình Hàng Vải Thâm; bún thì bún 
                              chợ Bằng; miến lươn trên chợ Đồng Xuân; bánh đậu, 
                              nhớ bánh đậu Hải Dương; kẹo mè Thiều Châu, rồi 
thì 
                              bánh cốm Nguyên Ninh, chả Hàng Hài, và cốm Vòng, 
                              và nhãn Cót, và bánh lam Lim, và chả nướng Ghềnh, 
                              và bánh giầy Quán Gánh!
                              Bởi vì phàm thức quà gì ngon nhất, thảy thảy đều 
                              phải “có mặt” ở Hà Nội cả. Nhớ đến những quà ấy, 
                              không phải là nhớ đến Hà Nội mà thôi, nhưng là 
nhớ 
                              tất cả một dải đồng bằng phì nhiêu Bắc Việt, có 
                              sáo sậu nhảy trên lưng bò, với những người nhà 
quê 
                              vạm vỡ cày ruộng, với những cô gái vừa hát vừa 
                              quay tơ, với những đứa trẻ chăn trâu, mặt mày lem 
                              luốc nhưng trông duyên dáng biết bao!
                              Chao ôi, những sự nhớ nhung đó, sao mà đằm thắm, 
                              sâu xa thế! Lòng người ta buồn nhè nhẹ, có phải 
                              một phần cũng vì thấy nhớ nước, yêu nước và 
thương 
                              nước hơn không?
                              Ai bảo rằng sau bao nhiêu cuộc bể dâu, nước Việt 
                              Nam vẫn còn tồn tại là vì một nền văn hóa cổ 
                              truyền đã ăn sâu như những cái rễ vào trong dân 
                              tộc?
                              Tôi thấy rằng ví bây giờ mà tôi có bị mẹ mìn bắt 
                              đem đi đất lạ một nghìn năm, tôi cứ vẫn là người 
                              Việt Nam vì không bao giờ quên được những miếng 
                              ngon Hà Nội và tôi thường thích nghĩ rằng những 
                              miếng ăn đó thật quả là giống như những tác phẩm 
                              văn chương bất hủ.
                              Thế giới mỗi ngày một tiến hơn thì tư tưởng cũng 
                              thế, không đứng nguyên một chỗ. Vì thế có những 
                              tác phẩm hợp với thời này mà không hợp với thời 
                              kia, hay với người thời này mà không hay với 
người 
                              thời khác; nhưng bên cạnh những cái đó, há ta 
                              chẳng thường thấy những áng văn gọi là “cổ điển” 
                              mới luôn luôn, mới mãi mãi, đời nọ truyền đời kia 
                              mà không lúc nào lạc hậu đó sao? 
                              Đó là những tác phẩm của Voltaire, của Dickens, 
                              của Ôn Như Hầu, của Shakespeare, của Đoàn Thị 
Điểm 
                              hơn thế nữa, truyện Kiều của Nguyễn Du có 4.000 
                              câu thơ, mà có nhà học giả dám đoan quyết không 
                              thể thay đổi đi một chữ!
                              Nhiều “miếng ngon Hà Nội” có thể cũng ví như tác 
                              phẩm của Nguyễn Du. Không thể khéo hơn được, 
không 
                              thể ngon hơn được, vì thế, không thể thay đổi 
                              được. Nếu ta muốn nhại Nguyễn Văn Vĩnh, sao ta 
lại 
                              không thể nói được rằng: “Nước Việt Nam còn thì 
                              miếng ngon Hà Nội vẫn còn?” cũng như ông đã viết:
                              “Truyện Kiều còn thì nước Nam còn!”
                              Từ trước đến nay, nhiều người đã phân tách và 
giải 
                              thích truyện Kiều cũng như các tác phẩm văn 
chương 
                              khác của Việt Nam.
                              Phần tôi, bắt đầu từ đây, tôi muốn đem phân tách 
                              và giải thích “miếng ngon Hà Nội” - những miếng 
                              ngon mà người Việt Nam ăn vào thấy ngát mùi đất 
                              nước Việt Nam, thấy mình Việt Nam hơn, và thấy 
                              thích thú, kiêu hãnh được trời cho làm người Việt 
                              Nam. 

Other related posts: