[SMCC] Mieng Ngon Ha Noi 17

                                MIẾNG NGON HÀ NỘI
                                HẨU LỐN


                              Có phải ở trong Nam người ta gọi món đó là “sà 
                              bần” không? 
                              Không ai bảo cho tôi biết tại sao người ta lại 
kêu 
                              như thế. Tôi cứ gọi nó là “hẩu lốn”. Chiều tháng 
                              Chạp, trời hơi lành lạnh, một mình thơ thẩn đi 
                              trên các nền đường xa vắng, nhìn vào nhà người 
                              thấy cơm canh bốc khói dưới đèn, tôi thường nhớ 
                              đến món “hẩu lốn” ngày nào...
                              Tất cả buổi chiều đương vào chầm chậm ở trong hồn 
                              hiu quạnh, mà chợt nhớ đến món hẩu lốn như thế, 
                              thì lòng mình tự nhiên ấm áp hẳn lên, nhưng sau 
đó 
                              lại trầm trầm thêm một chút, rầu rầu thêm một 
                              chút. Là vì mình lại tương tư miếng ngon Hà Nội 
                              mất rồi!
                              Thực là kỳ lạ: cũng thuộc vào loại hẩu lốn, Tàu 
có 
                              “tả pín lù” Tây có “lâm vố”, mà ở đây thì có “sà 
                              bần”; ba thứ này, cũng như hẩu lốn, đều do các 
thứ 
                              ăn đổ lộn lại với nhau nấu chín lên, nhưng tại 
sao 
                              ăn vào tôi vẫn thấy có một cái gì “khang khác”, 
                              không làm cho mình mãn nguyện hoàn toàn?
                              Thưởng thức “tả pín lù”, công phu lắm. Muốn cho 
                              thực đủ vị, phải có cá, tôm, mực, gà, lợn, bào 
                              ngư, hầu sì, bong bóng... mỗi thứ gắp một miếng 
                              nhúng vào trong nước dùng, rồi gia thêm cải bẹ 
                              xanh, cải soong, hành hoa để cả cuộng, rưới nước 
                              dùng vào bát mà ăn, chính lúc các món ăn đương 
                              nóng. Ai muốn có nhiều đản bạch tinh cho mạnh, 
thì 
                              đập thêm một cái tròng đỏ trứng gà vào. Trứng 
                              sống, rưới nước dùng sôi lên trên, chỉ một lát 
thì 
                              tái: mời ông cầm đũa xơi ngay cho, kẻo nguội... 
                              Trời lạnh, ăn món nóng vào có phải ấm lòng lạ 
lùng 
                              không? Nước dùng gà bỏ thêm đầu tôm, đầu mực, lại 
                              đập trứng, húp vào một miếng, nó cứ ngọt lừ đi 
                              trong cuống họng... Nói cho thực thì mùa rét, mấy 
                              anh em tri kỷ dắt nhau lên một cái lầu cao, gọi 
tả 
                              pín lù ăn kể cũng nên thơ.
                              Phổ ky đưa ra một cái “cù lao hổ”; trong cù lao 
có 
                              để than tầu hồng; nước dùng ở quanh cái cù lao 
sôi 
                              lên sùng sục làm cho người ăn đã ấm trong lại ấm 
                              cả ngoài. Thỉnh thoảng, mấy bông hoa lửa bay lên 
                              đem lại cho ta cái cảm tưởng mình là những vị 
tiên 
                              ngồi chung quanh lò bát quái luyện linh đơn, ăn 
                              một miếng vào bụng thì trường sanh bất tử. 
                              “Sà bần”, không ăn như vậy. Bí rợ, bún tầu, cá 
                              nướng, khoai tây, nấm, tỏi tây, haricôve, đổ 
chung 
                              vào một cái nồi nấu lên ăn. Cũng như tả pín lù, 
                              các món ăn này còn nguyên vẹn, mới toanh, chưa hề 
                              đụng đũa: nhưng cũng có một thứ sà bần “hầm bà 
là” 
                              tất cả các thức ăn ngày hôm trước nhà có tiệc 
tùng 
                              còn lại đun nhừ lên, gia thêm rau cỏ rồi bắc ra 
ăn 
                              thật nóng. 
                              Thấp xuống một bực, người bình dân còn ăn đồ “lâm 
                              vố” cũng là một thứ sà bần, nhưng đây là “sà bần” 
                              gộp các món ăn Tây nấu nhừ ra: ragu, rôti, ôđơvơ, 
                              ăngtê, sucút cùng bơ, phó mát, cho tất cả vào một 
                              cái nồi nấu chín.
                              Đừng có bảo những biến chế đó không ngon vì là 
                              những món dư, rẻ tiền, được đun nấu theo một “hệ 
                              thống vô trật tự”. Sà bần, lâm vố và tả pín lù, 
                              mỗi thứ có một vị riêng, ăn vào lạ miệng, nhưng 
                              thực tình mỗi khi thưởng thức một món đó rồi, tôi 
                              chỉ thấy thương món “hẩu lốn” hơn lên. Món hẩu 
lốn 
                              giống tất cả những món đó, nhưng lại không giống 
                              riêng một món nào.
                              Tả pín lù, ăn thô và béo quá, nước lại ngọt một 
                              cách giả tạo; đồ lâm vố thì lai căng, lổn nhổn, 
ăn 
                              một miếng chơi, cũng được đi, nhưng đến miếng thứ 
                              hai thì “chán mớ đời”; còn sà bần kể cũng hay, 
                              nhưng không hiểu làm sao tôi cảm thấy nhạt 
nhẽo... 
                              và duy vật như kiểu cô gái Việt học trường đầm, 
                              thân thể cứ căng ra mà lại mặc một cái quần cóc 
                              se, rất chật, đi núng na núng nính như biểu diễn 
                              rum ba ngoài phố.
                              Ăn một miếng, ngon liền; hai ba miếng, được đi; 
                              nhưng đến miếng thứ tư mình thấy khẩu cái nó 
nhàm, 
                              “không vô” nổi nữa. Thế là tại làm sao? Tại “sà 
                              bần” thừa chất gì chăng? Hay là tại thiếu một thứ 
                              rau gì mà ở trong Nam này không có sẵn?
                              Chao ôi, hẩu lốn thì khác hẳn...
                              Một buổi chiều đông, hoa rét trở về với mưa xanh, 
                              gió thu, anh bước vào nhà, tự nhiên thấy ngào 
ngạt 
                              một mùi thơm... Hỏi: “Ờ, nhà làm món gì mà ngát 
                              thế?”. Đáp: “Hôm nay lạnh, làm món hẩu lốn ăn đấy 
                              mà!”
                              Vợ đã biết tính chồng hơi khó, thích món gì mà 
                              không đủ vị thì hay “lẫy”, cho nên từ buổi trưa 
đã 
                              phải mua đủ các thứ rau cần thiết như thìa là, 
cải 
                              cúc, cải xanh, rau cần... Bao nhiêu thứ đó rửa 
                              sạch, để cho ráo nước. Xong đâu đấy, mới đi lấy 
                              tất cả những món ăn còn lại của bữa cỗ hôm qua để 
                              riêng ra một chỗ, đợi giờ chồng về thiếu mười 
phút 
                              thì bắc vấu lên bếp, bắt đầu làm món ăn thích ý 
                              của chồng. Bát thịt lợn ninh với măng khô cho vào 
                              trước, rồi đến bát miến, long tu, bào ngư, vây, 
                              bóng, kế tiếp trút vào sau. Lại còn đĩa gì kia 
                              nữa? Giò, chả cũng cho vào nốt, và cho vào luôn 
cả 
                              mấy miếng phì tản, thịt quay, mấy cuộng hành, và 
                              chớ có quên đĩa thịt gà luộc và bát chim hầm với 
                              hạt sen và cốm! 
                              Lửa reo lách tách như cười. Từ cái vấu tỏa lên 
một 
                              ngọn khói lam huyền ảo. Người nội trợ gia mắm, 
                              muối vừa vặn ngon thì chồng đã thay quần áo xong 
                              rồi, mà người nhà cũng bày bàn kê ghế đâu vào đó. 
                              Mời ông ngồi trước, xong rồi đấy! Có uống rượu 
thì 
                              lấy chai rượu sen ở ngăn dưới cùng tủ buýp phê, 
                              chớ cái chai để ở trên mặt tủ là thứ xoàng, uống 
                              phí công đi. Người vợ vừa nói vừa lấy rau ở trong 
                              rổ cho vào vấu: rau cải cho vào trước, rồi đến 
rau 
                              cần, cuối cùng là thìa là, tất cả trộn lẫn, vừa 
                              tái thì bắc ra, đập một quả trứng, đảo lên vài 
                              nhát nữa rồi trút ra bát lớn. 
                              Ngoài sân, mưa lăn tăn làm ướt giàn thiên lý. Mấy 
                              con ngỗng trời bay tránh rét, buông ở trên bầu 
                              trời xám màu chì mấy tiếng đìu hiu. Cơm vừa chín 
                              tới, hẩu lốn lại nóng hổi, bốc khói lên nghi 
ngút, 
                              mà ngồi ăn ở trong một gian phòng ấm cúng với một 
                              người vợ má hồng hồng vì mới ở dưới bếp lên, có 
                              họa là sất phu lắm mới không cảm thấy cái thú 
sống 
                              ở đời!
                              Vợ thương chồng, gắp một miếng hẩu lốn vào trong 
                              bát, mỗi thứ một tí, rồi chan nước dùng vào, mời 
                              ăn. Ăn một miếng, tỉnh cả người! Ai cũng tưởng 
các 
                              món xào xáo lộn xộn với nhau như thế thì ăn vào 
                              lủng củng và không thành nhịp điệu, nhưng lầm. 
Các 
                              món nấu “loạn xà ngầu” đó, không hiểu vì một lý 
do 
                              tuyệt diệu gì, quyến chặt lấy nhau như một giàn 
                              nhạc tân kỳ, dương cầm, phong cầm, vĩ cầm, thoạt 
                              đầu tưởng như là lộn xộn, nhưng lắng tai nghe một 
                              chút thì hòa hợp, ăn ý nhau từng tý.
                              Làm nổi bật được tất cả vị của hẩu lốn lên là món 
                              nước dùng: nó không ngọt cái ngọt của mì chính, 
                              nhưng ngọt cái ngọt tinh túy của tất cả các miếng 
                              ngon đúc lại. 
                              Tuy vậy, đừng tưởng như thế mà ngán đâu. Rau cải 
                              non, không chín mà cũng không sống, đánh tan đâu 
                              mất hết các chất béo đi; rau cần nâng vị của tôm 
                              và thịt lên cho vừa, không để cho thanh quá mà 
                              cũng không thô quá; rau cải cúc ăn vào tưởng là 
                              nồng nhưng chính ra lại hòa hợp với thịt kho tàu 
                              và phì tản; thêm thìa là vào nữa thì vừa vặn ngon 
                              mà thơm nhè nhẹ như người đàn bà đẹp ngày Tết gội 
                              đầu với nước lá mùi, ngồi xõa tóc ở trước ngọn 
gió 
                              xuân dìu dịu.
                              Phải rồi, hẩu lốn ngon chính vì nó là sự tiết tấu 
                              thoát thai từ ở chỗ hỗn mang ra vậy. Cái và nước 
                              là hai mâu thuẫn, nhưng tài tình thay, lại hòa 
hợp 
                              với nhau như tiếng chim loan hòa với tiếng kêu 
của 
                              chim phượng, như trai hòa với gái, như tình nhân 
                              trong một phút yêu thương diễm ảo hòa trộn linh 
                              hồn vào với tình nhân.
                              Ta phải nhận rằng “sà bần” nấu cho thực công phu 
                              mà thưởng thức thì cũng ngon đáo để. Thịt luộc, 
                              dưa cải, dưa giá, thịt quay, chuối hột, cá trê 
                              nướng... tất cả ninh dừ lên, đem dùng đương lúc 
                              khói lên nghi ngút cũng đã “gia dung” lắm, nhưng 
                              tôi vẫn thấy có một cái gì như vấp váp, như xung 
                              khắc, nó làm cho khẩu cái của người ta không được 
                              thỏa mãn hoàn toàn. Có phải tại vì thiếu thìa là, 
                              cải cúc không? Có phải tại trong sà bần có cá 
                              nướng làm cho điệu đàn ngang cung không? Hay là 
                              tại ăn sà bần, người ta không ăn chung với nước 
                              dùng như hẩu lốn mà là dùng riêng nước đó để chấm 
                              rau, bắp chuối và dưa giá?
                              Không. Tôi ưa sà bần, nhưng tôi yêu hẩu lốn gấp 
                              trăm lần. Có những người sành ăn thưởng thức sà 
                              bần, thường chỉ lấy mấy khúc cá nướng và vài 
                              khoanh chuối hột ra nhậu nhẹt, còn các thứ khác 
để 
                              cho đàn bà trẻ con dùng, và cho ăn uống như thế 
là 
                              khôn ngoan rất mực. 
                              Hẩu lốn thì không thế: hẩu lốn không dùng được 
                              rượu. Có muốn thì dùng một ly nhỏ trước khi ăn, 
                              còn đã mang hẩu lốn ra bàn rồi phải ăn liền, ăn 
                              riêng có một thứ hẩu lốn không thôi, hay là ăn 
                              luôn với cơm nóng - cơm gạo tám thơm, thơm ngào 
                              ngạt, thơm nhức mũi, thơm có thể tưởng chừng ăn 
                              vào một miếng rồi thân thể ta có tan biến vào hư 
                              vô cũng được.
                              Ấy vậy mà thưởng thức món hẩu lốn như thế, cũng 
                              chưa thấm vào đâu. Muốn nhận thức thế nào là 
“ngon 
                              chết người đi được”, ta phải đợi đến ngày mồng 
                              bốn, hay mồng năm Tết, hóa vàng xong rồi, bao 
                              nhiêu cỗ bàn còn lại đem trút cả vào nồi, “hẩu 
                              lốn” lên ăn. Có thể nói rằng ăn như thế tức là ăn 
                              cả cái Tết đầy hương và ngát hoa vào bụng.
                              Ba ngày Tết, uống rượu, đi lễ và nịnh đầm: mệt 
                              lắm. Đã thế, giờ giấc ăn uống, ngủ nghê lại thất 
                              thường, cơ thể khỏi sao trục trặc? Vì thế ta 
không 
                              lấy làm lạ trong ba ngày Tết chỉ nghĩ đến cơm 
cũng 
                              đã thấy ngán quá rồi. Giả thử không phải ăn thì 
                              thú lắm. Nhưng nào có được: vợ thương chồng, dỗ 
                              phải ăn cho kỳ được một chút cơm để có “hơi ngũ 
                              cốc”, mình đành là phải theo cho được vừa lòng, 
                              xứng ý nhau; nhưng cứ mỗi lần nể nhau như thế thì 
                              lại càng sợ ăn quá lắm.
                              Điểm đặc biệt của hẩu lốn là làm cho người ta tẩy 
                              được tất cả cái gì béo ngậy, ngán ngẩn của ba 
ngày 
                              Tết mà vẫn cứ thưởng thức được tất cả cái ngon 
                              lành của Tết. 
                              Ngày thường, nấu hẩu lốn còn có thể thiếu thức 
này 
                              thức nọ, chớ đến ngày Tết thì đủ, không còn thiếu 
                              món gì. Thịt kho tàu, miến vây, bóng, bào ngư, 
                              long tu, nấm dưa hành, giò gà, thịt bò kho, kim 
                              tiền kê... và bao nhiêu thứ rau thơm mát như da 
                              người thiếu nữ đương tơ. Không cần phải thưởng 
                              thức, những trông một bát hẩu lốn thế cũng đã 
thấy 
                              đê mê tâm hồn rồi.
                              Màu xanh tươi của hành, rau kết hôn với màu vàng 
                              quỳ của thịt kho tàu, nấm hương, mộc nhĩ, chim 
                              quay, màu hoa hiên của cà rốt sát cánh với màu 
bạc 
                              ố của vây, miến, long tu; màu xanh nhạt của nước 
                              dùng hòa với màu trắng mờ của nấm tây, thịt thăn 
                              luộc, chân giò hầm, tất cả lung linh trong một 
làn 
                              khói lam uyển chuyển: à, ngồi trước một bát hẩu 
                              như thế, mình quả thấy mình là một ông tiên chống 
                              gậy một sớm mùa thu đi vào một cánh rừng mù sương 
                              và ngát hương.
                              Có người gọi hẩu lốn là “Long vân khách hội” - 
                              rồng mây gặp gỡ nhau - nghĩ cho kỹ thì cũng không 
                              có gì là quá! Ăn một bát hẩu lốn đầy đủ như thế - 
                              nhất là nấu lối hỏa thực, nghĩa là để ngay cái lò 
                              trước mặt, nấu sôi lên rồi gắp ra ăn liền... 
sướng 
                              không để đâu cho hết. Ăn như thế, mình có cảm 
giác 
                              may mắn suốt năm. Chẳng nói xa xôi làm gì, vợ 
                              chồng con cái ngồi thưởng thức với nhau một bát 
                              hẩu lốn thật ngon, thật nóng, ngay lúc ấy cả nhà 
                              cũng đã thấy vui ra phá. Ông chồng ăn miếng ngon 
                              vào miệng như thấy nở gan nở ruột, nhìn vợ mà 
thấy 
                              đẹp hơn. Ờ, ra từ hôm Tết đến nay vợ chồng túi 
                              bụi, người thì lo đi lễ, người thì lo tiếp khách, 
                              vợ chồng quên mất cả nhìn nhau. Đến hôm nay, hóa 
                              vàng tiễn các cụ về rồi, ngồi nhởn nha thưởng 
thức 
                              món hẩu lốn do vợ làm, vừa lúng liếng nhìn vào 
mắt 
                              vợ - ờ nhỉ, sao hôm nay má hồng thế, mà con mắt 
                              đen rưng rức thế? Thì ra vợ nấu được bát hẩu lốn 
                              ngon, làm được cho chồng xứng ý, cũng thấy cõi 
                              lòng hớn hở, vì được vui cái vui của chồng.
                              Món hẩu lốn, tổng hợp của các món ăn ngon ngày 
                              Tết, còn là thành tố của tình yêu gia đình nữa. 
                              Ngày Tết, ăn hẩu lốn tức là con cháu thừa hưởng 
                              kết tinh các món ngon bày lễ do người chết còn để 
                              lại cho người sống; giữa người sống với người 
                              sống, món hẩu lốn xiết chặt tình thân yêu lại với 
                              nhau vì bố cũng như con, chồng cũng như vợ, 
thưởng 
                              thức món đó đều chung một tâm sự như nhau là 
không 
                              thể có món ăn ngày Tết nào “lâm ly” hơn thế.
                              Bao nhiêu chất ngấy của thịt kho tàu, chân giò 
                              ninh, chả gà, giò thủ... nấu chung trong hẩu lốn 
                              đã biết đi đâu mất hết, mà nước dùng của nó lại 
có 
                              thể thanh như vậy? Đó là một bí quyết chưa ai 
khám 
                              phá ra. Chỉ biết rằng ăn một bữa hẩu lốn như vậy 
                              thì lòng người ta hình như cũng dịu hiền đi, 
chồng 
                              thương vợ, vợ yêu chồng, đến khi có họp nhau lại 
                              rút bất hay đánh tam cúc thì cười vui ra phá, chớ 
                              không có sự càu nhàu, trách móc ‘ ôi.
                              Về tối, mưa xuân lún phún ở trên các chòm cây. 
Gió 
                              heo may rì rào giục người ta đóng cửa, đi nghỉ 
                              sớm. Sắp thiu thiu ngủ rồi, chồng hãy còn nhớ đến 
                              bát hẩu lốn buổi chiều bốc khói lên nghi ngút ở 
                              bên cạnh nồi cơm gạo mễ trì thổi vừa vặn, hạt nào 
                              hạt nấy cứ óng như là “con ong”. Cải xanh, cải 
cúc 
                              và rau cần non, vừa tái, nhai vào sậm sựt, ngọt 
                              lừ, đến bây giờ dường như vẫn còn để lại một dư 
vị 
                              nơi khẩu cái cùng với cái ngát thơm của thìa 
là... 
                              Và tự nhiên lòng mình thấy phơi phới thương yêu - 
                              yêu thương người vợ bé nhỏ, biết đón chiều ý 
thích 
                              của người chồng không muốn mâm cao cỗ đầy, chẳng 
                              thiết nem công chả phượng...
                              Tiếng cười ở bên cạnh vọng sang cho biết rằng hội 
                              tam cúc ở nhà bên vẫn chưa tàn. “Đây, kết nhất bộ 
                              nhị đây”, “Tôi xe pháo mã”, “Có ai có pháo không, 
                              không có, mã tôi ăn đây này!”
                              Nhìn ra ngoài thì cành đào cắm lọ in bóng lên 
                              tường lung linh như một bức tranh thủy mạc Tàu. 
                              Gió lay động bức màn the. Về khuya, người chồng 
                              cảm thấy lạnh hơn, nằm sát lại với vợ thêm chút 
                              nữa. Người vợ mỉm cười trong bóng tối và cảm thấy 
                              lòng mình nở hoa. Chồng khẽ thủ thỉ vào tai vợ:
                              - Đến mồng bảy này, nhà làm lễ khai hạ, mình làm 
                              hẩu lốn ăn nữa nhé!
                              - Vợ, như chợt nhớ ra điều gì, đập khẽ vào má 
                              chồng:
                              - Thôi, quên mất rồi, mình ạ. Em cứ thấy thiếu 
cái 
                              gì mà không tài nào nghĩ ra. Thì ra hôm nay hẩu 
                              lốn của nhà quên mất món đậu phù trúc rồi: tiếc 
                              quá! Có món đậu phù trúc, còn ngon nữa!
                              - Ờ phải. Đậu phù trúc, cái màng mỏng ở trong 
thân 
                              cây tre, nấu với hẩu lốn thì tuyệt diệu.
                              - Hẩu lốn có đậu hòa lan, cải cúc, cần, thìa là 
mà 
                              chưa có đậu phù trúc thì vẫn chưa hoàn toàn. Đến 
                              hôm ấy, mình nhớ nhắc em đấy nhé!
                              * * *
                              Đêm xuân rải bóng xanh lên chăn nệm của đôi lứa 
                              thương nhau. Màu thời gian tim tím, hương mùa 
xuân 
                              thanh thanh. 
                              Ở nhà bên, tiếng cười nói vẫn giòn tan, nhưng ở 
                              bên này, viễn ảnh của một bữa “long vân khánh 
hội” 
                              có đậu phù trúc đã mặc nhiên tạo thành một thế 
                              giới mơ màng kỳ lạ: chỉ có hai người nằm im lặng 
                              không nói gì, mà là cả một thế giới hương hoa!

Other related posts: