[SMCC] Mieng Ngon Ha Noi 11

                                MIẾNG NGON HÀ NỘI
                                NGÔ RANG, KHOAI LÙI


                              Đừng ai bảo ngô là món quà của người nghèo mà 
phải 
                              tội với Trời. 
                              Đã là món ngon thì có ai cấm ai đâu? Ngày xưa, 
một 
                              hai xu, bây giờ một vài đồng bạc mua dăm bảy bắp 
                              ngô hoặc luộc, hoặc nướng mà ăn thấy ngon lành 
thì 
                              chẳng là đủ quá rồi sao? Hà tằng gì lại cứ phải 
                              đắt tiền mới được?
                              Bây giờ, cứ mỗi khi rét về, ngồi ở trong nhà êm 
ấm 
                              mà nghe lất phất mưa gió ở bên ngoài, tôi thỉnh 
                              thoảng hay nhớ lại ngày xưa, còn bé, tối đến cứ 
ra 
                              ở dưới gốc đèn dầu Hàng Trống, mua ngô nướng về 
                              ăn. Tiền, chẳng có bao nhiêu: nửa xu hay một xu 
là 
                              cùng.
                              Mua được đến ba bốn cái ngô nướng về ăn - cầm ấm 
                              cả bàn tay, mà ăn thì ngọt mà thơm phưng phức. Ở 
                              ngoài kia, phố vắng, thỉnh thoảng có một cái xe 
                              sắt lạch cạch đi mỏi mệt trên đường lầy lội những 
                              bùn. Gió cứ lạnh tê đi. Mình học xong rồi trèo 
lên 
                              giường trùm chăn kín cả đầu, giở ngô nướng ra mà 
                              lấy từng hột để ăn cho một mình mình, và chỉ một 
                              mình mình biết, kể thì hơi “tồi” đấy, nhưng mà 
                              sướng.
                              Mà có thế mới thật cảm giác được hết cái thú ăn 
                              ngô nướng và mùa đông! Ngay từ lúc đương nướng 
                              ngô, mình đứng nhìn cũng thấy đã ấm áp cõi lòng 
                              rồi: một cái hỏa lò làm bằng hộp bánh bích qui đã 
                              rỉ, một chút than tàu vừa hồng và một cái quạt 
                              nan. Chỉ có thế thôi. Người bán hàng cho ta chọn 
                              lấy bắp ngô, tùy thích. Ngã giá. Ngô được đặt lên 
                              trên lò.
                              Người bán hàng vừa quạt nhè nhẹ, vừa xoay bắp ngô 
                              đều tay cho vừa vặn, không sống mà cũng không 
cháy 
                              trông cứ dẻo quẹo đi. Than trong lò kêu lép bép. 
                              Thỉnh thoảng, một tia lửa bay ra bên ngoài như 
                              những ngôi sao vi ti đổi ngôi. Ngô chín dần, kêu 
                              lên khe khẽ như những con ong non chui ở trong vú 
                              khoái ra ngoài vậy.
                              Anh có thể tưởng tượng được mùi thơm lúc đó lừng 
                              lên đến mực nào không? Nướng ngô ngoài phố, mà 
                              ngồi ở trong nhà cũng có thể ngửi thấy mùi thơm 
                              ngào ngạt.
                              Ta nghĩ đến những cái bắp trắng ngần nổi lên trên 
                              những ruộng ngô bát ngát, những cái bắp căng nhựa 
                              sống như da thịt của những cô gái đẹp dậy thì, 
                              trắng như thế mà cũng nõn nà như thế. Da thịt đó 
                              gặp ái tình nở hoa như thế nào thì cái bắp trắng 
                              ngần kia được ngọn lửa hồng tươi sưởi ấm, trong 
                              phút chốc, cũng căng mọng lên như vậy. 
                              Ôi, có ai nhấm nháp mấy bắp ngô nếp thật non, 
                              nướng vừa chín đến, hãy bảo cho tôi biết có phải 
                              là nó ngọt thoang thoảng y như sữa một thôn nữ 
                              lành mạnh không? Hơn thế, nó lại âm ấm, dìu dịu, 
                              thỉnh thoảng lại gợn lên mấy cái vỏ mong mỏng, 
                              nhai kỹ có một thú kín đáo lạ cho những hàm răng 
                              cứng rắn. 
                              Ngô luộc không thơm lừng lên như ngô nướng, nhưng 
                              thơm một cái thơm dìu dịu như lời hò hẹn của hoa 
                              bưởi nở bên những ngôi miếu thần linh.
                              Ngô tẻ ăn hơi bứ, ngọt một cái ngọt hơi sắt, 
nhưng 
                              ngô nếp thì mềm, nhai cứ lừ răng đi, mà cái ngọt 
                              của nó thì “trinh tiết” quá. Thú nhất là ăn thứ 
                              ngô này lúc vừa ở nồi đổ ra, trên toàn bắp hãy 
còn 
                              óng ánh nước luộc ngô, ngọt dịu. Nhưng mà đừng ăn 
                              nhanh quá mất ngon, mà có khi răng lại nhai cả 
                              phải lưỡi, dắt kẽ răng, rất phiền.
                              Ăn ngô là phải ăn thong thả, từng hạt một, nhấm 
                              nháp cẩn thận để nghe cái thú sữa ngô thấm đượm 
                              vào môi, vào lưỡi mình. Đặt môi lên bắp, ta có 
cái 
                              cảm giác ấm áp mà lại dịu dàng như môi đặt lên 
môi 
                              cùng hòa một nhịp thở chung tình vậy.
                              Nhưng ngô rang thì không thế; ngô rang là một 
                              người đẹp ác liệt trong khi ngô luộc là một cô 
gái 
                              nhu mì; ngô nướng có duyên thầm lẩn bên trong thì 
                              duyên của ngô rang bong cả ra ngoài.
                              Có những ngày mùa đông hiu hắt, mây nặng những 
                              biệt ly, mưa gió gieo tiếc nhớ, đem lại cho lòng 
                              những nỗi buồn u ẩn, gần như vô cớ, lên lầu rồi 
                              lại xuống lầu. Anh hãy thử tưởng tượng giữa hoàn 
                              cảnh mang mang buồn như thế mà tự nhiên vợ ở đâu 
                              lại mang đến cho mình một mẻ ngô vừa rang xong, 
                              thơm ngào thơm ngạt cả nhà lên, có phải tự nhiên 
                              lòng anh đương lạnh bỗng ấm hẳn lên không? Thật 
là 
                              món quà kỳ lạ!
                              Tiền chẳng đáng bao lăm mà có khi làm cho ta hé 
                              thấy cả một chân trời an ủi! Mẻ ngô để ở bên cạnh 
                              ta mời chào mới thắm thiết làm sao! Hột nào cũng 
                              nở bung ra, trắng mươn mướt như những cánh hoa 
mai 
                              hàm tiếu, phô phang kín hở nhụy vàng...
                              Vốc một nắm nhỏ vào tay, anh sẽ thấy khí ấm 
truyền 
                              vào trong người anh như thương yêu của một người 
                              tình mới, dâng hoa lòng buổi ban đầu. Ta muốn 
trùm 
                              chăn yên lặng để tận hưởng phút giao cảm đó cho 
                              thật mê mệt, thật say sưa, mà không phải động đậy 
                              một tí gì.
                              Duy có bàn tay thỉnh thoảng lại bỏ ra ngoài để 
nắm 
                              một nắm khác, nhai chầm chậm, nhai từ từ, cho cái 
                              bùi cái ngậy thấm thía vào lòng ta như thể tơ 
hồng 
                              quấn quít.
                              Ờ mà thật thế đến cái bùi của ngô rang ăn mùa rét 
                              thì thật là quái ác. Cái bánh “bít cốt” tẩm “bơ” 
                              ăn cũng bùi thật, nhưng thấm vào đâu với ngô 
rang, 
                              ăn bùi đã đành rồi, mà ăn xong lại càng thấy bùi 
                              hơn. Ăn thử mấy hạt, người ta lại muốn ăn thêm, 
ăn 
                              thêm rồi lại muốn ăn thêm mãi, kỳ cho đến mỏi 
                              răng. Ngô rang có một sức quyến rũ thật tình kỳ 
ảo.
                              Người Tàu có cái hạt dưa, cái phá sa, chẳng cần 
                              phải mời thì ai trông thấy cũng cầm lấy ăn tự 
                              nhiên; ta có cái ngô rang cũng thế, cứ trông thấy 
                              là phải vớ lấy dăm bảy hạt “ăn chơi” một chút cho 
                              thơm - miễn là ông không... móm! 
                              * * *
                              Tôi còn nhớ mãi những buổi tối mưa phùn gió bấc ở 
                              trong cái làng đồng chiêm lầy lội, lúc còn tản cư 
                              vùng Hà Nam. Rét năm ấy có thể bảo là rét nhất 
                              nước ta: tối đến, nhà nào nhà nấy đóng cửa lại, 
                              sang bên tôi đốt mấy cây “gộc” thật to ủ trấu, 
                              ngồi sưởi ấm. Quà nhà quê chẳng có gì, nhưng thấy 
                              họ sang chơi mà mang theo sang biếu mình một rá 
                              con ngô rang, ủ thật kín bưng, thì mới có thể 
biết 
                              là lòng người ta thương yêu nhau đến chừng nào. 
Ăn 
                              cái hạt ngô như thế mà cảm động, mà thấy ngon quá 
                              chừng là ngon, chỉ sợ hết mất thì tiếc quá. 
                              Chui vào chăn bông... mà “hầm” đi! Chong ngọn đèn 
                              xanh lên, vừa nhắm nhót từng hạt vừa tìm đoạn 
sách 
                              nói về Tào Tháo lập xong thế trận “liên hoàn” cầm 
                              ngang ngọn giáo trông ra sông Xích Bích ngâm thơ, 
                              thì mình tự thấy mình - một kẻ phàm phu - trong 
                              một lúc cũng có một tâm sự hào hùng như nhân vật 
                              trong cuốn truyện! 
                              Nhưng ta đừng tưởng rằng ngô chỉ ăn về mùa rét - 
                              và chỉ ăn về mùa rét mới ngon.
                              Cái văn hóa Âu Tây tài quá, không thể nào ngờ 
được.
                              Này, đến cả cái ngô tươi là thế mà họ cũng vào 
                              trong hộp kín đấy, để cho ta mua về ăn suốt bốn 
                              mùa. Các tiệm cao lâu lấy ngô đó làm “Ngô cáy 
                              dùng” ăn ngọt đáo để, nhưng riêng tôi không thích 
                              gì bằng mùa hè, trời oi bức, thỉnh thoảng buổi 
                              trưa lại dùng một chén chè ngô nho nhỏ.
                              Đã đành chè đó không phải làm bằng ngô đóng hộp. 
                              Ngô này là thứ ngô nếp thật non, hãy còn tươi hơn 
                              hớn vừa mới bẻ ra, cái áo ngô trông như lụa, mịn 
                              màng, óng ánh như cánh con ve sầu. Hỡi người tình 
                              duyên dáng! Bà xát kỹ cái ngô đó rồi lấy bột 
hoàng 
                              thanh hay bột sắn nấu lên, gia cho thật vừa đường 
                              tây - đừng ngọt quá - và dâng lên cho người chồng 
                              mới cưới một bát ăn cho mát ruột, và hãy bảo cho 
                              tôi biết con mắt của chồng nhìn vợ ra thế nào...
                              Nước chanh, nước đá nào bằng, mà thạch đỏ, phù 
                              linh cấu nào bằng! Chè nuốt đến đâu, lòng cứ mát 
                              rười rượi lên đến đấy. Vị ngọt của chè đó không 
                              thể có một thứ quà mùa hạ nào mặc nhiên so sánh 
                              được mà nó lại còn thơm ngan ngát như hương hoa, 
                              mà nó lại bùi kín đáo, mà nó lại còn đem đến cho 
                              người dùng cảm tưởng là bổ béo làm sao!
                              * * *
                              Chè khoai lang ăn cũng mát lắm, nhưng cái mát có 
ý 
                              thô hơn, ăn lại bứ. Tuy vậy, mùa hè ăn một bát 
chè 
                              khoai, nấu vừa, đừng ngọt quá, cũng là một cái 
thú 
                              thanh tao, mà lại giải được nhiệt trong người.
                              Khoai lang luộc lên, ăn cũng ngon nhưng không ăn 
                              được nhiều vì bứ, nhất là cái thứ khoai bột, bóc 
                              vỏ trông thật đẹp. Khoai trong có ý đỡ bứ hơn, 
                              nhưng thường thường thì lại không đậm đà như thứ 
                              khoai nghệ vàng thắm màu hổ phách, dễ ăn hơn 
nhiều.
                              Tôi thích được trông thấy những mẻ khoai luộc vừa 
                              mới đổ ra rá, để chờ cho ráo nước; những củ khoai 
                              bụ bẫm, nằm chồng lên nhau, tỏa ra một thứ khói 
                              xanh xanh làm bạt cái màu vỏ khoai đỏ tím - một 
                              màu ao ước của những họa sĩ ưa dùng những màu sắc 
                              cầu kỳ.
                              Cầm lấy một củ, nhìn nó “lên mặt nhựa” sanh sánh 
                              cả ngón tay, ta mới có thể cảm giác được rằng ăn 
                              ngay lúc đó một củ, với tất cả những nhựa sống 
                              tràn trề, kể cũng là một cái thú không nhỏ vậy.
                              Êm đềm hơn một chút là khoai sọ luộc, bóc vỏ rồi 
                              ăn, chấm với đường ta hay muối vừng. Những củ cái 
                              ăn bùi lắm; củ con mềm; nhưng muốn thưởng thức 
cho 
                              được hoàn toàn cái ngon, cái bùi của nó, ta phải 
                              đợi hôm nào dùng món canh cua đồng nấu với rau 
rút 
                              và khoai sọ, ôi chao, ngọt cứ như thể đường phèn 
                              vậy.
                              Có người sành ăn cho rằng khoai sọ, chỗ nào hư 
                              đừng nên cắt bỏ đi, vì trái lại, ăn bùi. Tôi đã 
có 
                              dịp thử rồi thì thấy lời nói đó cũng có nhiều 
phần 
                              đúng; nhưng đến cái thứ khoai lang hà, khoai lang 
                              rím thì thật quả không thể nào chịu được.
                              Khoai lang, chỉ có đem lùi vào than tro hồng mà 
ăn 
                              thì thú tuyệt trần. Chúng ta, có ai lúc nhỏ lại 
                              không từng khổ lên khổ xuống vì nước khoai? Có 
khi 
                              cháy cả tay, có khi nẻ cả mặt, có khi bị mắng ra 
                              mắng vào, nhưng cứ động nhà có khoai thì thế nào 
                              cũng lấy cho kỳ được một hai củ dấm vào than tro 
                              nóng.
                              Ấy là vì ăn cái thứ khoai lùi này sướng lắm: chỉ 
                              mới kều ở trong lò ra, đã nức mùi thơm lên và làm 
                              cho ta thèm rồi. Phủi những tàn tro đi, bóc vỏ 
                              ngoài ra, bẻ từng miếng bỏ vào trong miệng, nó 
tan 
                              ra như bánh đậu xanh - nhưng vị ngọt của nó không 
                              nhân tạo như đường, mùi thơm thì đậm đà hơn sắn 
                              lùi, hiền hậu hơn cháy cốm còn cái bùi của nó thì 
                              dịu lành, không rực rỡ như “phá sá” hay trầm trầm 
                              như nhân trám.
                              Ấm áp quá chừng là ấm áp! Nhưng thưởng thức khoai 
                              lùi, phải tìm chỗ nào cháy mà ăn thì mới biết 
chân 
                              giá trị của nó ra sao. Cháy cứ vàng ửng ra như má 
                              một người đàn bà đẹp chịu khó tắm nắng luôn trên 
                              bãi biển!
                              Màu vàng đó, cứ trông cũng đã thấy ngon rồi. 
Huống 
                              chi ăn vào nó lại bùi trội hẳn lên, mà cái bùi đó 
                              lại quyện ngay với mùi thơm thành một “đại thể” 
                              tiết tấu, còn chê trách vào đâu được!
                              Nếu tôi có một quyền hành gì trong tay, tôi phải 
                              xin vả một roi vào cái miệng anh hay rượu nào đó 
                              chẳng biết, không biết nghĩ ngợi thế quái nào mà 
                              lại dùng khoai lùi để... đưa cay!
                              Khoai là thứ không thể nào dung được rượu. Nó 
mươn 
                              mướt như da người con gái mà lại gả ép cho rượu 
là 
                              một thứ men nồng - dù là rượu sen, rượu cúc hay 
                              rượu mẫu đơn đi nữa - các bạn đã thấy sự gượng 
                              gạo, sự lệch lạc, xiêu vẹo thế nào chưa?
                              Tôi thấy rằng khoai lang lùi - mà cả khoai sọ lùi 
                              cũng thế - chỉ có thể ăn rất mộc mạc, lúc bụng 
hơi 
                              hơi đói và ăn nhấm nháp, rẽ rọt, có ý để cho hơi 
                              hơi thiếu, cho thèm...
                              Mùi thơm và vị bùi của khoai sẽ còn phảng phất 
lâu 
                              lắm trong vị giác và khứu giác ta, làm cho ta yêu 
                              hơn những ruộng khoai ở nhà quê mỗi khi ta có dịp 
                              cùng một người thương qua đó.

Other related posts: