[SMCC] Mieng Ngon Ha Noi 10

                                MIẾNG NGON HÀ NỘI
                                RƯƠI


                              Ngày ngắn dần đi. Đêm, cứ vào khoảng gần sáng thì 
                              trời lại hơi lành lạnh. Thế mà đã sang tháng Chín 
                              lúc nào rồi!
                              Tháng chín, những ngày nắng tưng bừng không còn 
                              nhiều; một vài chiếc lá đã bắt đầu rụng xuống mặt 
                              hồ; nhưng thời tiết vẫn chưa thay đổi hẳn, tựa 
như 
                              ở vào một lúc giao thời của một người con gái 
                              đương tiến từ giai đoạn bé bỏng sang tuổi dậy thì.
                              Người con gái dậy thì lúc vui, khi buồn, như nũng 
                              nịu, như hờn dỗi, thì trời tháng Chín cũng thế, 
                              đương nắng như cười bỗng chẳng nói chẳng năng xịu 
                              hẳn mặt lại, đương tưng bừng nhảy múa bỗng rầu rĩ 
                              và nặng trĩu mối buồn lê thê.
                              Thế rồi có nhiều khi mấy hạt mưa tím bỗng dưng 
                              trút xuống hắt hiu để cho người ta ngỡ là rét đã 
                              về, giục nhau sắm sửa mền êm áo ấm... Thế nhưng 
mà 
                              lầm. Chưa rét. Rươi đấy mà!
                              Đương nắng mà mưa: rươi; đương nóng mà rét: rươi; 
                              đương mưa mà nắng: rươi. Có nắng rươi, có mưa 
                              rươi, và do đấy, nếu người ta bị nóng lạnh hay se 
                              mình, ngào ngạt hay yếu phổi, người ta đều hạ một 
                              tiếng rất bình hòa: “Rươi đấy!”
                              Thực, không ai có thể tưởng tượng được rằng ở đời 
                              này lại có một món ăn liên quan tới thời tiết mật 
                              thiết đến như vậy. Mà hơn thế nữa, rươi, món ăn 
                              đặc biệt của mùa thu phương Bắc, lại còn ảnh 
hưởng 
                              cả đến tinh thần, và sức khỏe của người ta.
                              Ông hơi ngúng nguẩy mà nói chuyện đến thuốc thang 
                              thì sẽ bị gạt đi ngay vì ai cũng sẽ bảo ông: “Vẽ 
                              trò, rươi đấy, ăn rươi đi thì khỏi!”
                              Rươi là cái hàn thử biểu; rươi là vị thuốc bách 
                              giải mà người ta gán cho một sức công hiệu như 
                              thần; nhưng rươi còn là một mối bí mật để cho 
                              người ta hỏi lẫn nhau trong mấy ngày ngắn ngủi có 
                              rươi ăn.
                              Nó là thứ sâu gì mà ăn ngon đến thế nhỉ? Nó ở đâu 
                              đến mà lại đúng ngày, đúng giờ như một quyển lịch 
                              thế nhỉ? Nó có những chất gì ở trong mình mà ăn 
                              sướng khẩu cái, lại bổ béo như thế nhỉ? Tại làm 
                              sao nó bổ mà những người ho, sốt ăn vào lại độc 
                              như thế nhỉ?
                              Ờ mà thật thế, cứ đến những ngày cuối thu, tất cả 
                              các gia đình Bắc Việt, không nhiều thì ít, cũng 
                              đều ăn rươi, nhưng có lẽ không mấy ai đã thật 
biết 
                              rõ đời con rươi. 
                              Đương ngồi ở trong nhà bỗng nghe tiếng những 
người 
                              đàn bà lanh lảnh rao: “Ai mua rươi! Ai mua rươi 
ra 
                              mua!” người ta bỗng thấy lòng tưng bừng như có 
                              muôn đóa hoa hé cánh và người ta vội vàng chạy ra 
                              cửa gọi mua: “Rươi! Rươi!”. 
                              Hỡi các bà nội trợ, đừng có lần chần lắm mà nhỡ 
                              việc, vì rươi không phải là một món ăn ngày nào 
                              cũng có đâu. Cả một năm chỉ có mấy ngày có rươi 
                              thôi; mà những ngày có rươi đó nếu bà không mua 
                              nhanh lên thì hết đấy. Cả một mùa không được ăn 
                              một miếng rươi vào miệng, không những bà ân hận, 
                              mà người chồng yêu quí của bà rất có thể lại làu 
                              nhàu.
                              Bởi vì ở Bắc Việt, ăn rươi là một công lệ, đến 
mùa 
                              mà không được ăn thì như là một người đàn bà đẹp 
                              đã để phí mất tuổi hoa, sau này sẽ nặng một niềm 
                              tiếc nhớ... 
                              Chính người bán rươi cho ta cũng vội vàng. Bán 
                              cũng phải nhanh, vừa bán vừa chạy, không thể kề 
cà 
                              được như hàng cau, hàng bún. Rươi bán cho người 
ăn 
                              phải thật tươi, nếu lần chần đến quá trưa thì ôi 
                              mất, nhiều con chết, ăn không quí bằng thứ rươi 
                              mua sớm. Là vì ai cũng đã biết rươi không phải 
sản 
                              xuất ở ngay Hà Nội hay vùng ngoại châu thành, 
                              nhưng là từ các tỉnh gần miền biển như Hải Phòng, 
                              Hải Dương, Đông Triều, Thái Bình, Kiến An... đem 
                              về.
                              Tính từ lúc đơm được rươi, qua một chặng buôn đi 
                              bán lại rồi chở ôtô về được đến Hà Nội bán vào 
                              buổi trưa, cũng đã mất khá lâu thì giờ; nếu không 
                              bán nhanh thì rươi, chồng chất lên nhau ở trong 
                              hai cái thúng của người bán hàng, sẽ chết nhiều; 
                              mà nếu mua về mà không làm để ăn ngay thì ôi, ăn 
                              cũng giảm mất một đôi phần thích thú.
                              Nhưng mà hỡi người ăn rươi, anh có biết rằng mỗi 
                              khi ăn rươi, anh đã nuốt vào lòng bao nhiêu là 
                              cuộc tình duyên khăng khít của cái giống hải 
trùng 
                              đó hay không? Anh có biết rằng mỗi con rươi là 
một 
                              câu chuyện đa tình của giống cái thèm trai, có 
một 
                              tấm lòng ác liệt không? 
                              * * *
                              Có người bảo rươi là một loài sâu bọ ở đồng bằng 
                              sống ở dưới những chân lúa, cuống rạ. Đến mùa, 
đất 
                              vỡ ra (người ta gọi thế là nứt lỗ rươi), rươi 
hiện 
                              lên trên mặt ruộng. Do đó, có người đã liệt nó 
vào 
                              giống “đông trùng hạ thảo” và cho rằng sức bổ béo 
                              của nó không quá những con dế mèn, châu chấu.
                              Những nhận xét đó không giải thích được một phần 
                              nào nguyên nhân tại sao chỉ những ruộng ở gần bể 
                              mới có rươi và cũng không cho ta thấy tại sao 
rươi 
                              chỉ nhất định có vào những ngày mùng 5 tháng 9, 
                              hai nhăm tháng 10 và tháng 9 đôi mươi, tháng 10 
                              mùng 5.
                              Sự xuất hiện của con rươi vào mấy ngày trong 
tháng 
                              Chín và tháng Mười đó phù hợp với một câu vè mà 
                              người ta dùng để đố nhau:
                              Con gì bé tí tì ti.
                              Mình đi dưới đất, bóng đi trên trời. 
                              Một năm mấy bận đi chơi, 
                              Đi thời lở đất, long trời mới yên? 
                              Thật ra, sự xuất hiện của con rươi quả là có chịu 
                              ảnh hưởng của thời tiết thật - muốn nói cho đúng 
                              thì phải nói là chịu ảnh hưởng của tuần trăng.
                              Nguyên rươi là một giống hải trùng, sinh sống 
bằng 
                              những con bọ vi ti dưới biển. Vào những dịp trăng 
                              thượng huyền, tháng Giêng, tháng Hai, nước biển 
                              rút xuống: những con rươi đẻ trứng ở ruộng; trứng 
                              đó ở cách sâu dưới đất chừng bốn, năm mươi phân. 
                              Vào tuần trăng hạ huyền, nước biển dâng cao, tràn 
                              vào các ruộng; trứng rươi nở ra con rồi nhô ở 
dưới 
                              đất lên và dứt ra từng đoạn như hầu hết các giống 
                              sâu bọ khác.
                              Mỗi một đoạn là một con rươi. Nhưng không phải 
tất 
                              cả các đoạn còn ở lại. Con rươi có đặc điểm là 
nếu 
                              ta chặt đầu nó đi, mà có nước biển thuận tiện cho 
                              nó sống thì nó lại sinh ra đầu khác, chặt đuôi nó 
                              thì nó lại sinh ra đuôi khác. 
                              Vào những ngày mùng 5 tháng 9, 25 tháng 10, tháng 
                              9 đôi mươi, tháng 10 mùng 5, là những ngày nước 
                              thủy triều dâng lên, những con rươi chui ra khỏi 
                              mặt đất (người ta gọi là nứt lỗ rươi) chính là để 
                              sống cuộc đời, tình ái. 
                              Những cánh ruộng gần bể lúc đó đầy rươi: con cái 
                              bụng căng lên những trứng, thèm khát ái tình như 
                              giống vật đến ngày “con nước”, không thể ngồi yên 
                              một chỗ, phải nhởn nha đi dạo chơi trong ruộng 
(và 
                              có khi quá chân đi cả ra sông), cũng như tiểu thư 
                              đi “bát phố” để kiếm kẻ giương cung bắn cho một 
                              phát tên... tình!
                              Còn công tử rươi cũng nhân dịp đó trưng bảnh với 
                              chị em, tha hồ mà tán tỉnh, tha hồ mà gạ gẫm, 
                              nhưng “họ” không phải mất công gì cho lắm, vì 
rươi 
                              cũng như mình hiện nay có cái nạn... trai thiếu, 
                              gái thừa. Mười con rươi cái thì mới chỉ có một 
con 
                              rươi đực mà thôi: con đực chạy chung quanh rươi 
                              cái, lượn lờ uốn éo; con rươi cái, xúc động tâm 
                              tình, bài tiết những cái trứng ra ngoài.
                              Con rươi đực cũng như con cá đực, rạo rực cõi 
lòng 
                              cũng tiết ra một thứ nước để bao bọc lấy những 
                              trứng đó của con rươi cái... rồi lại đi tìm một 
                              mối tình duyên khác mới hơn, nhưng chưa chắc đã 
lạ 
                              hơn. 
                              Kết cục là con rươi đực chết (kiếp nam nhi có 
mong 
                              manh!) nhưng có một điều an ủi là đã để lại cho 
                              đời một kỷ niệm: những cái trứng chìm sâu xuống 
                              đất để sang năm lại sinh ra một lũ rươi con, nối 
                              dõi tông đường, lo việc hương khói nhà rươi và 
                              cũng là để làm một... món ăn đặc biệt cho những 
                              khách sành ăn nơi Bắc Việt. 
                              Khoảng thời gian trong một năm mà giống rươi từ 
                              dưới đất nhoi lên để làm nhiệm vụ ái tình, chính 
                              là quãng đời hoa mộng nhất trong kiếp con rươi 
vậy.
                              Nhưng đau đớn là cuộc hôn lễ ấy hoặc vừa cử hành 
                              xong hoặc đương cử hành thì loài người đã đem 
                              những cái lưới riêng (gọi là xăm) hay những cái 
                              vợt làm bằng vải mỏng vét cả đàn cả lũ cho vào 
                              thúng đem về.
                              * * *
                              Rươi thường chỉ hiện về đêm, không lên ban ngày. 
                              Vì thế, người ta chỉ bắt rươi về ban đêm. Muốn 
cho 
                              dễ dàng công việc, người ta - nhất là về vùng Hải 
                              Dương, Đông Triều - thường đốt đèn, đốt đuốc lên 
                              để bắt rươi; rươi thấy ánh đèn, cho là thiên 
                              đường, lại càng lượn khỏe để cùng nhau đú đởn. Và 
                              kết quả là cả lũ cùng... chết vì tình!
                              Đông Triều - thường đốt đèn, đốt đuốc lên để bắt 
                              rươi; rươi thấy ánh đèn, cho là thiên đường, lại 
                              càng lượn khỏe để cùng nhau đú đởn. Và kết quả là 
                              cả lũ cùng... chết vì tình!
                              Chở được về đến Hà Nội, con rươi tính ra ít nhất 
                              cũng đã bị tù đày trong năm, sáu tiếng đồng hồ. 
                              Nhiều con đã chết, nhưng cũng có nhiều con còn 
                              sống. Nhìn vào một thúng rươi, ta thấy chúng có 
                              nhiều màu khác nhau: xanh nhờ nhờ, đỏ đùng đục, 
                              vàng mờ mờ, lại có khi xám nhạt như màu bạc ô; 
tất 
                              cả quằn quại trong một thứ nhớt quánh như hồ. 
Nhớt 
                              đó, người ta gọi là vẩn, và chính cái vẩn đó đã 
                              nuôi sống con rươi trên cạn.
                              Bây giờ, nếu ta bắt một con rươi còn sống mà đem 
                              thả xuống nước, ta sẽ thấy nó uốn cả mình đi mà 
                              lượn rất nhanh. Một phần bơi nhanh được như thế 
                              cũng là vì hai hàng lông tơ ở chung quanh mình; 
                              nhưng lông ấy không phải chỉ có công dụng đó, hơn 
                              thế, lông ấy còn là những “ăng ten” dẫn điện, 
                              những cái lông có tính cách rung động để cho con 
                              đực “mồi chài” con cái và để cho con cái “tống 
                              tình” con đực.
                              Người ta đã thử lấy một chất khoa học làm rụng 
                              hàng lông “tống tình” đó đi thì con vật bị “bỏ 
                              rơi” ngay, không những đờ đẫn ra như chết, mà lại 
                              còn bị đồng bào “phớt lạnh”. 
                              * * *

                              Tháng Chín, tháng Mười, thường thường trời bắt 
đầu 
                              rét, đêm nằm gần về sáng, đã phải dùng đến chăn 
                              bông. Những buổi chiều tà, ngồi ở cạnh mâm cơm có 
                              ánh đèn hồng rủ xuống, vợ chồng cùng ăn cơm có 
món 
                              rươi, cùng nghĩ đến những cuộc tình ái của loài 
                              rươi, đưa mắt nhìn nhau cùng nghĩ rằng trong khi 
                              ăn như thế là ăn bao nhiêu cuộc giao tình, mấy ai 
                              không thấy trái tim rung nhè nhẹ như dạo một bản 
                              đàn hòa âm...
                              Này, con rươi không phải chỉ đẹp về lý tưởng như 
                              thế mà thôi; xét theo khoa học, nó lại còn có 
tính 
                              cách bồi bổ sức khỏe cho người ăn nữa đấy.
                              Cách làm ra món cũng chẳng khó khăn gì lắm. Cần 
                              nhất là lúc làm lông phải dùng nước nóng cho già, 
                              quấy đều, nhặt cho hết rác, rồi rửa đi rửa lại 
                              nhiều nước cho thật sạch. Để ráo đi một lúc, bà 
có 
                              thể làm nhiều món để ông xơi, mà món nào cũng rất 
                              có thể ngon; nhưng thường thì có rươi, ta vẫn 
quen 
                              thưởng thức mấy món chính là chả rươi, rươi hấp, 
                              rươi xào, rươi nấu và rươi đúc với trứng.
                              Riêng tôi, tôi thích ăn món rươi xào với niễng 
                              thái chỉ (nếu không có niễng thì dùng măng tươi 
                              hay củ cải). Vỏ quít thái nhỏ, ướp với nước mắm, 
                              hành tây đảo với mỡ thơm ngào thơm ngạt lên thì 
                              cho rươi vào xào chín rồi xúc ra; bỏ thêm mỡ vào 
                              chảo, đổ đồ độn xào lẫn với thịt dọi thái chỉ (đã 
                              luộc qua) cho tí muối vào nước luộc thịt, mười 
                              phần chín đến tám phần thì bỏ rươi vào, đảo lên 
                              cho thật đều...
                              Mùi thơm tỏa ra lúc đó nịnh khứu giác của người 
ta 
                              đáo để nhưng mà đừng hấp tấp, hỡi người bạn sành 
                              ăn! Anh phải chờ cho chín kỹ đã (rươi có một đặc 
                              điểm là xào lâu không nát: trái lại, lại dai), 
bắc 
                              ra, đập trứng và bỏ hành hoa, trộn mau tay cho 
đều.
                              Chao ôi! Đĩa rươi đó vừa mềm không khô, chế một 
ít 
                              dầu vừng, rắc mấy lá gấc thái nhỏ và mấy ngọn rau 
                              mùi vào, gia vừa hạt tiêu, để lên trên bàn, khói 
                              bốc lên nghi ngút mà ăn ngay thì nuốt đến đâu 
                              sướng đến đấy, không chịu được.
                              Có nhiều người cho là trứng khét, làm hại mất mùi 
                              rươi, lúc xào cho nấm hương vào thay trứng. Lại 
                              cũng có nhà xào rươi ra nhiều nước, lúc ăn miếng 
                              rươi có ý nóng lâu hơn; nước chan lại ngọt, có ý 
                              thích thú hơn là ăn khô xâm xấp.
                              Nhưng đã dùng rươi thì muốn ăn cách nào cũng thế, 
                              cần phải cho đủ cay mới được; ớt làm nổi hẳn vị 
                              rươi lên một cách thần tiên, ăn một miếng, húp 
một 
                              ít nước cho gia vị thật vừa, ta nghe thấy dâng 
lên 
                              một phong vị rất lạ lùng: béo, vừa đủ ngọt, không 
                              bùi hẳn như nhộng mà nhai lại hơi sừn sựt - và ta 
                              tưởng tượng như ta ăn những con ong non mới lấy ở 
                              khoái ra, thơm vừa vặn, không ngào ngạt nhưng ý 
                              nhị.
                              Thêm vào đó, trần bì (vỏ quýt) thơm một mùi hăng 
                              hăng, lá gấc ngọt thoang thoảng, thìa là và rau 
                              mùi thơm cái mùi thơm của hoa cỏ đồng quê; tất cả 
                              nâng đỡ lẫn nhau, hòa hợp với nhau để tạo nên một 
                              hương vị thật tiết tấu, tưởng chừng như một bản 
                              đàn tuyệt diệu, chỉ thiếu một nét là hỏng cả.
                              Phổ thông hơn cả là chả rươi. Rươi trộn với thịt 
                              băm, đập trứng, thìa là, thêm vài nhát vỏ quít 
băm 
                              nhỏ, tất cả ướp với nước mắm ngon, trộn đều, đổ 
                              vào chảo, rán nho nhỏ lửa thôi; món này thơm 
“chết 
                              mũi”, láng giềng, hàng xóm ngửi thấy không chịu 
                              được. 
                              Lúc ăn, cho tí hạt tiêu, điểm mấy cái rau mùi, 
                              dùng lúc đương nóng hổi.
                              Rươi hấp ăn thanh hơn một chút: cũng thịt, hành 
                              củ, vỏ quít, thìa là và nước mắm (xin đừng quên 
                              dăm sáu tai mộc nhĩ cho thơm mà giòn) nhưng không 
                              dùng đến mỡ, chỉ trộn đều rồi hấp.
                              Vì rươi là một món ăn hiếm có trong một năm lại 
                              được người ta yêu chuộng, nên nhiều nhà tìm cách 
                              giữ rươi để có thể gửi biếu xén bạn bè, quyến 
                              thuộc ở xa hay là giữ để ăn dần, thỉnh thoảng một 
                              chút, cho sướng ông thần khẩu.
                              * * *
                              Có thể giữ rươi theo hai lối: rươi rang hay là 
làm 
                              mắm rươi. Rươi rang mà muốn làm cho cẩn thận thì 
                              nên dùng nồi đất lót lá chuối rồi để rươi lên 
                              trên, rang đều tay một lát rồi lấy một cái nồi 
đất 
                              khác chụp lên, đốt rơm như kiểu nhà quê hầm cá; 
                              rươi lấy ra, giòn tan mà không khô, giữ được hàng 
                              tháng, muốn gửi biếu xén ai ở thật xa cũng được.
                              Cái thứ rươi rang này, cho vào hộp đậy thật kín, 
                              gặp hôm nào gió hiu hiu, trời buồn buồn, lấy ra 
mà 
                              gói kiểu chả Sài Gòn, ăn với rau xà lách, thơm, 
                              mùi, tía tô, kinh giới, xương sông, chấm nước mắm 
                              giấm ớt, cũng hay đáo để.
                              Nhưng mà thú hơn một bực là mắm rươi. Cứ đến mùa 
                              rươi, thường các bà nội trợ đảm đang vẫn đích 
thân 
                              làm một hai bình, đem ủ cho thật ngấu rồi cất đi 
                              thỉnh thoảng đem ra ăn với ruốc bông, rau cần, 
cải 
                              cúc, vỏ quít, thơm, mùi, lạc rang giã nhỏ, hành 
                              hoa, gừng và rau xà lách.
                              Ăn như thế mà lại gia thêm thịt luộc ba chỉ, 
không 
                              thể nói là ngon được; phải nói là ăn “cứ tỉnh cả 
                              người ra”. Ăn như thế, không mất cái vị rươi ngòn 
                              ngọt lại phảng phất tanh tanh; mà có khi đang ăn 
                              sực nghĩ rằng mình đang được dùng một của trái 
                              mùa, ta sướng rợn lên như được đặc hưởng ân tình 
                              với một người đẹp ở một nơi u tịch, không ai hay 
                              biết.
                              * * *
                              Đã có bao nhiêu bận, ngồi nhấm nháp miếng chả 
rươi 
                              thật kỹ, nghĩ đến cái ngon đậm đà của miếng quà 
                              đất nước, tôi đã nhớ ra rằng có bao nhiêu người 
                              con đất Việt như tôi, chẳng may lại không được ăn 
                              rươi - kẻ ăn rươi, người chịu bão - hay không 
biết 
                              ăn rươi! Tôi thấy tiếc cho họ, mà lại ngậm ngùi 
                              một chút.
                              * * *
                              Không phải chỉ có y học phương Đông mới nhận thấy 
                              rằng rươi có tính chất ôn, ăn vào thêm sức khỏe; 
                              ngay khoa học mới, phân tách con rươi, cũng thấy 
                              rằng rươi bổ lắm - mà cái phần bổ của nó nếu có 
                              kém thì chỉ kém lòng đỏ trứng, ngoài ra hơn hết 
                              các món ăn bổ khác.
                              Thật thế, một món ăn có nhiều chất lân, chất cái 
                              và tới mười một phần trăm chất đạm, không phải là 
                              lúc nào cũng tìm thấy dễ dàng đâu! Chính vì nó có 
                              một tính cách rất bổ như vậy, cho nên những người 
                              nào ngúng nguẩy, ho sốt, trẻ con cam sài đều 
không 
                              nên ăn, mà những người mới yếu dậy ăn cũng độc. 
                              Ngay những người bình thường không được khỏe lắm, 
                              ăn rươi cũng có thể không chịu, sinh đầy. Muốn 
chế 
                              hóa cái đầy đó, sả-chi-du (essence de 
citronnelle) 
                              là một môn thuốc hiệu nghiệm. Vì thế càng nghĩ, 
ta 
                              lại càng thấy rằng làm món rươi, tự các cụ ta 
                              truyền lại, phải có vỏ quít (trong có chất dầu 
                              chanh) thật là tài đặc biệt, vì không những vỏ 
                              quít đã làm dậy mùi rươi lại có tánh cách chế hóa 
                              cái độc của rươi đi, ta có thể ăn nhiều một chút 
                              mà không hại đến con tì, con vị.
                              Nghĩ đến sự tài tình đó của người, ta không khỏi 
                              lạ cho cái khéo của Trời. Ờ mà lạ thật, cứ có 
rươi 
                              là có quít; rươi và quít cùng tốt đôi; không có 
                              món rươi nào mà lại có thể làm không vỏ quít.
                              * * *
                              Nhưng tài tình hơn cả là cùng con rươi mà ăn khác 
                              món thì các gia vị cũng phải chế biến đi một chút 
                              mới ngon. Chả rươi không phải dùng lá gấc và 
gừng; 
                              rươi hấp phải có mấy cái tai mộc nhĩ; rươi xào 
                              phải có thìa là mới xong; nhưng đến cái mắm rươi 
                              ăn với hôm he bông tại sao không có rau cần và 
cải 
                              cúc thì hỏng kiểu?
                              Riêng tôi không thể nào quan niệm được một bữa 
mắm 
                              rươi “ra dáng” mà lại thiếu hai món rau quan yếu 
                              đó. Thiếu nó, thật y như một người đàn bà đẹp mà 
                              vô duyên: tẻ lắm.
                              Trái lại, ăn một bữa mắm rươi đủ vị, không những 
                              ngon miệng mà lại đẹp mắt nữ: mắm rươi ở dưới 
bát, 
                              tôm he xé thật bông ra phủ lên trên, trông như 
một 
                              bát san hô, thế rồi đến lúc ăn, gắp đủ các thứ 
rau 
                              vào bát, rải mắm lên trên. Màu mắm vàng tươi nổi 
                              bật hẳn lên trên màu trắng trong của men bát, màu 
                              xanh mát của rau, màu vàng nhạt của gừng và màu 
                              vàng thẫm gần ngả đỏ của vỏ quít, ai không biết 
ăn 
                              mắm mà trông thấy cũng phải thèm lên thèm xuống.
                              Ăn mắm sống mãi mà chán thì đem chưng lên. Chưng 
                              mắm với trứng, gia một cùi dìa đường tây vào rồi 
                              khuấy lên như khuấy bột, mắm gần đặc thì cho vỏ 
                              quít, lạc rang vào. 
                              Thứ mắm chưng này cũng ăn với rau sống, nhưng gia 
                              thêm một hai nhánh tỏi tươi thì lại càng nổi vị 
                              hơn. Thơm gọi là nức mũi! Người ốm phải ăn kiêng, 
                              lắm lúc thấy không chịu được, cũng cố đòi ăn một 
                              miếng. 
                              Nhưng mà coi chừng đấy nhé! Một, hai miếng mắm ăn 
                              vào tưởng là chiều ông Thần Khẩu tí ti chẳng có 
gì 
                              quan hệ, ấy thế mà chưa biết chừng chỉ chiều hôm 
                              trước, sáng hôm sau là thấy kiến hiệu ngay. Nhất 
                              là đàn bà mới ở cữ thì lại càng nên thận trọng.
                              “Chín tháng ăn rươi, mười tháng ăn nhộng”, qua 
câu 
                              tục ngữ đó có phải các cụ muốn khuyên những người 
                              đàn bà ở cữ mà kiêng chưa được đủ chín tháng thì 
                              đừng nên dùng món rươi chăng? Hay đó chỉ là câu: 
                              “tháng Chín ăn rươi, tháng Mười ăn nhộng” mà dân 
                              gian truyền khẩu rồi hóa ra sai lạc.
                              Dù sao, ta cũng thấy món rươi đi rất sâu vào văn 
                              nghệ Việt Nam. Nội trong các món ăn thuần túy của 
                              đất nước tôi nghĩ rằng có lẽ món rươi được nhắc 
                              nhở đến nhiều nhất trong văn nghệ bình dân; không 
                              những rươi đã làm chủ đề cho nhiều câu tục ngữ 
                              phương ngôn, mà lại còn là một thứ thách đố, một 
                              đầu đề khuyên răn, một phương pháp xem thiên văn 
                              của những người dân chất phác.
                              Này, cứ ngồi ngẫm nghĩ thì có món ăn nào trên thế 
                              giới lại được nhắc đến nhiều và được dân gian thi 
                              vị hóa đến như thế hay không?
                              Ấy thế mà rươi lại không phải là một món ăn đắt 
                              đỏ. Một lọ mắm rươi, nào có đáng bao lăm; nhưng 
có 
                              ai đã từng xa vắng cố đô lâu ngày, bặt tin nhạn 
                              cá, mà một buổi sáng bất thần có người gửi đến 
cho 
                              một lọ mắm rươi nho nhỏ gói vào trong mảnh giấy 
                              bóng kính màu hồng thì mới có thể quan niệm được 
                              hết cái đẹp của rươi và tất cả thi vị của đất 
nước 
                              tiềm tàng trong đó.
                              Không cần phải thư từ gì kèm theo dài dòng. Chỉ 
                              một chữ nhỏ thôi và một lọ mắm, người nhận được 
                              quà có thể mủi lòng, chảy nước mắt vì có lẽ không 
                              có thứ quà gì nhắc nhở ta nhiều kỷ niệm đằm thắm 
                              và sâu xa đến thế.
                              Nước ta là một nước sống bằng nghề nông, mà rươi 
                              là một sản phẩm của ruộng đất bao la Bắc Việt, 
                              cũng như là cốm.
                              Nhưng mà ở xa nhà thấy cốm thì lòng chỉ buồn nhè 
                              nhẹ, thấy ruốc hay trà mạn sen thì lòng nặng nhớ 
                              nhưng mà vẫn vui tươi, tại sao cứ thấy rươi thì 
                              lại buồn rã rượi?
                              Tôi nghĩ tại cốm, tại trà, tại ruốc... là những 
                              quà phong lưu mà đẹp cao sang, nhưng rươi thì 
trái 
                              hẳn đẹp một cách quê mùa, bình dị, đẹp cái mảnh 
                              đất hiền hòa của xứ sở ta.
                              Trông thấy cốm, ta nhớ đến những dải thóc nếp hoa 
                              vàng man mác, có những cô gái vừa hái vừa làm; 
                              trông thấy trà mạn sen, thấy ruốc, ta nhớ đến 
                              những người mẹ già thương con, những cô em gái 
                              thương anh, những người yêu thương người yêu, 
ngồi 
                              giã ruốc, sấy chè gửi cho nhau; nhưng đến món mắm 
                              rươi!...
                              Màu vàng tái của mắm rươi nhắc ta nhớ lại màu đất 
                              của đồng ruộng mịn mỡ, làm cho ta yêu mà như đau 
                              nhói ở tim, vì hình ảnh của những người làm ruộng 
                              chân lấm tay bùn ở dưới mưa dầu nắng lửa. Nhớ anh 
                              em khôn xiết, thương đồng bào bao nhiêu! Ăn một 
                              miếng mắm ở phương xa, bao nhiêu là kỷ niệm đất 
                              nước cũng đi theo luôn vào lòng mình: người khách 
                              tha hương thấy đồng bào tuy là cách mặt mà vẫn 
                              thương mình, vừa cảm động, vừa thương thân, sao 
                              cho khỏi vừa mừng, vừa tủi?
                              Tôi còn nhớ những người ở tản mác dưới những 
                              phương trời xa lạ cả Âu lẫn A, hồi trước chiến 
                              tranh vẫn gửi những lá thư về nhà nói với mẹ, với 
                              chị “cho xin một lọ mắm rươi”, và tôi thích nghĩ 
                              lan man về những nỗi lòng của họ khi hạ bút viết 
                              nên câu đó.
                              Ờ mà, ở Tàu, ở Nhựt, ở Pháp, ở Anh, nào thiếu gì 
                              đâu những quà ngon của lạ, mà sao người khách tha 
                              hương vẫn cứ đăm đắm nhớ đến “cái món ấy” của quê 
                              nhà?
                              Thì ra dù quan sơn cách trở, giữa người dân lưu 
                              lạc và đất nước bao giờ cũng có những dây hữu ái 
                              nối hai thâm tình lại với nhau.
                              Và khi nghĩ rằng mối dây liên lạc đó không phải 
là 
                              vàng mà cũng chẳng phải là bạc, không là chủ 
nghĩa 
                              này, lý thuyết nọ mà cũng không là giải pháp ấy, 
                              phái đảng kia, nhưng chỉ là một con rươi, một 
chút 
                              rươi làm thành mắm, tôi thấy muôn hoa ở trong 
lòng 
                              hé cánh như những bàn tay búp bê vẫy gọi nhau và 
                              tôi muốn cúi đầu xuống cảm ơn - cảm ơn bất cứ ai 
- 
                              đã cho người mình có con rươi, biết ăn rươi, và 
                              làm được những món rươi ăn thích thú và thơm ngon 
                              đến thế!

Other related posts: