[SMCC] Mieng Ngon Ha Noi 10
- From: "Nguyen Khanh Quoc" <khanhquoc78@xxxxxxxxx>
- To: "SMCC" <smcc@xxxxxxxxxxxxx>, "chu thu ha" <chuthuha76@xxxxxxxxx>, <thienan2000@xxxxxxxxx>, "Ha center" <minhhacenter@xxxxxxxxx>, "Thanh Tu" <chocolategirl1980@xxxxxxxxx>, "Thanh Phong" <phonghaiquan@xxxxxxxxx>
- Date: Wed, 31 Dec 2008 10:04:42 +0700
MIẾNG NGON HÀ NỘI
RƯƠI
Ngày ngắn dần đi. Đêm, cứ vào khoảng gần sáng thì
trời lại hơi lành lạnh. Thế mà đã sang tháng Chín
lúc nào rồi!
Tháng chín, những ngày nắng tưng bừng không còn
nhiều; một vài chiếc lá đã bắt đầu rụng xuống mặt
hồ; nhưng thời tiết vẫn chưa thay đổi hẳn, tựa
như
ở vào một lúc giao thời của một người con gái
đương tiến từ giai đoạn bé bỏng sang tuổi dậy thì.
Người con gái dậy thì lúc vui, khi buồn, như nũng
nịu, như hờn dỗi, thì trời tháng Chín cũng thế,
đương nắng như cười bỗng chẳng nói chẳng năng xịu
hẳn mặt lại, đương tưng bừng nhảy múa bỗng rầu rĩ
và nặng trĩu mối buồn lê thê.
Thế rồi có nhiều khi mấy hạt mưa tím bỗng dưng
trút xuống hắt hiu để cho người ta ngỡ là rét đã
về, giục nhau sắm sửa mền êm áo ấm... Thế nhưng
mà
lầm. Chưa rét. Rươi đấy mà!
Đương nắng mà mưa: rươi; đương nóng mà rét: rươi;
đương mưa mà nắng: rươi. Có nắng rươi, có mưa
rươi, và do đấy, nếu người ta bị nóng lạnh hay se
mình, ngào ngạt hay yếu phổi, người ta đều hạ một
tiếng rất bình hòa: “Rươi đấy!”
Thực, không ai có thể tưởng tượng được rằng ở đời
này lại có một món ăn liên quan tới thời tiết mật
thiết đến như vậy. Mà hơn thế nữa, rươi, món ăn
đặc biệt của mùa thu phương Bắc, lại còn ảnh
hưởng
cả đến tinh thần, và sức khỏe của người ta.
Ông hơi ngúng nguẩy mà nói chuyện đến thuốc thang
thì sẽ bị gạt đi ngay vì ai cũng sẽ bảo ông: “Vẽ
trò, rươi đấy, ăn rươi đi thì khỏi!”
Rươi là cái hàn thử biểu; rươi là vị thuốc bách
giải mà người ta gán cho một sức công hiệu như
thần; nhưng rươi còn là một mối bí mật để cho
người ta hỏi lẫn nhau trong mấy ngày ngắn ngủi có
rươi ăn.
Nó là thứ sâu gì mà ăn ngon đến thế nhỉ? Nó ở đâu
đến mà lại đúng ngày, đúng giờ như một quyển lịch
thế nhỉ? Nó có những chất gì ở trong mình mà ăn
sướng khẩu cái, lại bổ béo như thế nhỉ? Tại làm
sao nó bổ mà những người ho, sốt ăn vào lại độc
như thế nhỉ?
Ờ mà thật thế, cứ đến những ngày cuối thu, tất cả
các gia đình Bắc Việt, không nhiều thì ít, cũng
đều ăn rươi, nhưng có lẽ không mấy ai đã thật
biết
rõ đời con rươi.
Đương ngồi ở trong nhà bỗng nghe tiếng những
người
đàn bà lanh lảnh rao: “Ai mua rươi! Ai mua rươi
ra
mua!” người ta bỗng thấy lòng tưng bừng như có
muôn đóa hoa hé cánh và người ta vội vàng chạy ra
cửa gọi mua: “Rươi! Rươi!”.
Hỡi các bà nội trợ, đừng có lần chần lắm mà nhỡ
việc, vì rươi không phải là một món ăn ngày nào
cũng có đâu. Cả một năm chỉ có mấy ngày có rươi
thôi; mà những ngày có rươi đó nếu bà không mua
nhanh lên thì hết đấy. Cả một mùa không được ăn
một miếng rươi vào miệng, không những bà ân hận,
mà người chồng yêu quí của bà rất có thể lại làu
nhàu.
Bởi vì ở Bắc Việt, ăn rươi là một công lệ, đến
mùa
mà không được ăn thì như là một người đàn bà đẹp
đã để phí mất tuổi hoa, sau này sẽ nặng một niềm
tiếc nhớ...
Chính người bán rươi cho ta cũng vội vàng. Bán
cũng phải nhanh, vừa bán vừa chạy, không thể kề
cà
được như hàng cau, hàng bún. Rươi bán cho người
ăn
phải thật tươi, nếu lần chần đến quá trưa thì ôi
mất, nhiều con chết, ăn không quí bằng thứ rươi
mua sớm. Là vì ai cũng đã biết rươi không phải
sản
xuất ở ngay Hà Nội hay vùng ngoại châu thành,
nhưng là từ các tỉnh gần miền biển như Hải Phòng,
Hải Dương, Đông Triều, Thái Bình, Kiến An... đem
về.
Tính từ lúc đơm được rươi, qua một chặng buôn đi
bán lại rồi chở ôtô về được đến Hà Nội bán vào
buổi trưa, cũng đã mất khá lâu thì giờ; nếu không
bán nhanh thì rươi, chồng chất lên nhau ở trong
hai cái thúng của người bán hàng, sẽ chết nhiều;
mà nếu mua về mà không làm để ăn ngay thì ôi, ăn
cũng giảm mất một đôi phần thích thú.
Nhưng mà hỡi người ăn rươi, anh có biết rằng mỗi
khi ăn rươi, anh đã nuốt vào lòng bao nhiêu là
cuộc tình duyên khăng khít của cái giống hải
trùng
đó hay không? Anh có biết rằng mỗi con rươi là
một
câu chuyện đa tình của giống cái thèm trai, có
một
tấm lòng ác liệt không?
* * *
Có người bảo rươi là một loài sâu bọ ở đồng bằng
sống ở dưới những chân lúa, cuống rạ. Đến mùa,
đất
vỡ ra (người ta gọi thế là nứt lỗ rươi), rươi
hiện
lên trên mặt ruộng. Do đó, có người đã liệt nó
vào
giống “đông trùng hạ thảo” và cho rằng sức bổ béo
của nó không quá những con dế mèn, châu chấu.
Những nhận xét đó không giải thích được một phần
nào nguyên nhân tại sao chỉ những ruộng ở gần bể
mới có rươi và cũng không cho ta thấy tại sao
rươi
chỉ nhất định có vào những ngày mùng 5 tháng 9,
hai nhăm tháng 10 và tháng 9 đôi mươi, tháng 10
mùng 5.
Sự xuất hiện của con rươi vào mấy ngày trong
tháng
Chín và tháng Mười đó phù hợp với một câu vè mà
người ta dùng để đố nhau:
Con gì bé tí tì ti.
Mình đi dưới đất, bóng đi trên trời.
Một năm mấy bận đi chơi,
Đi thời lở đất, long trời mới yên?
Thật ra, sự xuất hiện của con rươi quả là có chịu
ảnh hưởng của thời tiết thật - muốn nói cho đúng
thì phải nói là chịu ảnh hưởng của tuần trăng.
Nguyên rươi là một giống hải trùng, sinh sống
bằng
những con bọ vi ti dưới biển. Vào những dịp trăng
thượng huyền, tháng Giêng, tháng Hai, nước biển
rút xuống: những con rươi đẻ trứng ở ruộng; trứng
đó ở cách sâu dưới đất chừng bốn, năm mươi phân.
Vào tuần trăng hạ huyền, nước biển dâng cao, tràn
vào các ruộng; trứng rươi nở ra con rồi nhô ở
dưới
đất lên và dứt ra từng đoạn như hầu hết các giống
sâu bọ khác.
Mỗi một đoạn là một con rươi. Nhưng không phải
tất
cả các đoạn còn ở lại. Con rươi có đặc điểm là
nếu
ta chặt đầu nó đi, mà có nước biển thuận tiện cho
nó sống thì nó lại sinh ra đầu khác, chặt đuôi nó
thì nó lại sinh ra đuôi khác.
Vào những ngày mùng 5 tháng 9, 25 tháng 10, tháng
9 đôi mươi, tháng 10 mùng 5, là những ngày nước
thủy triều dâng lên, những con rươi chui ra khỏi
mặt đất (người ta gọi là nứt lỗ rươi) chính là để
sống cuộc đời, tình ái.
Những cánh ruộng gần bể lúc đó đầy rươi: con cái
bụng căng lên những trứng, thèm khát ái tình như
giống vật đến ngày “con nước”, không thể ngồi yên
một chỗ, phải nhởn nha đi dạo chơi trong ruộng
(và
có khi quá chân đi cả ra sông), cũng như tiểu thư
đi “bát phố” để kiếm kẻ giương cung bắn cho một
phát tên... tình!
Còn công tử rươi cũng nhân dịp đó trưng bảnh với
chị em, tha hồ mà tán tỉnh, tha hồ mà gạ gẫm,
nhưng “họ” không phải mất công gì cho lắm, vì
rươi
cũng như mình hiện nay có cái nạn... trai thiếu,
gái thừa. Mười con rươi cái thì mới chỉ có một
con
rươi đực mà thôi: con đực chạy chung quanh rươi
cái, lượn lờ uốn éo; con rươi cái, xúc động tâm
tình, bài tiết những cái trứng ra ngoài.
Con rươi đực cũng như con cá đực, rạo rực cõi
lòng
cũng tiết ra một thứ nước để bao bọc lấy những
trứng đó của con rươi cái... rồi lại đi tìm một
mối tình duyên khác mới hơn, nhưng chưa chắc đã
lạ
hơn.
Kết cục là con rươi đực chết (kiếp nam nhi có
mong
manh!) nhưng có một điều an ủi là đã để lại cho
đời một kỷ niệm: những cái trứng chìm sâu xuống
đất để sang năm lại sinh ra một lũ rươi con, nối
dõi tông đường, lo việc hương khói nhà rươi và
cũng là để làm một... món ăn đặc biệt cho những
khách sành ăn nơi Bắc Việt.
Khoảng thời gian trong một năm mà giống rươi từ
dưới đất nhoi lên để làm nhiệm vụ ái tình, chính
là quãng đời hoa mộng nhất trong kiếp con rươi
vậy.
Nhưng đau đớn là cuộc hôn lễ ấy hoặc vừa cử hành
xong hoặc đương cử hành thì loài người đã đem
những cái lưới riêng (gọi là xăm) hay những cái
vợt làm bằng vải mỏng vét cả đàn cả lũ cho vào
thúng đem về.
* * *
Rươi thường chỉ hiện về đêm, không lên ban ngày.
Vì thế, người ta chỉ bắt rươi về ban đêm. Muốn
cho
dễ dàng công việc, người ta - nhất là về vùng Hải
Dương, Đông Triều - thường đốt đèn, đốt đuốc lên
để bắt rươi; rươi thấy ánh đèn, cho là thiên
đường, lại càng lượn khỏe để cùng nhau đú đởn. Và
kết quả là cả lũ cùng... chết vì tình!
Đông Triều - thường đốt đèn, đốt đuốc lên để bắt
rươi; rươi thấy ánh đèn, cho là thiên đường, lại
càng lượn khỏe để cùng nhau đú đởn. Và kết quả là
cả lũ cùng... chết vì tình!
Chở được về đến Hà Nội, con rươi tính ra ít nhất
cũng đã bị tù đày trong năm, sáu tiếng đồng hồ.
Nhiều con đã chết, nhưng cũng có nhiều con còn
sống. Nhìn vào một thúng rươi, ta thấy chúng có
nhiều màu khác nhau: xanh nhờ nhờ, đỏ đùng đục,
vàng mờ mờ, lại có khi xám nhạt như màu bạc ô;
tất
cả quằn quại trong một thứ nhớt quánh như hồ.
Nhớt
đó, người ta gọi là vẩn, và chính cái vẩn đó đã
nuôi sống con rươi trên cạn.
Bây giờ, nếu ta bắt một con rươi còn sống mà đem
thả xuống nước, ta sẽ thấy nó uốn cả mình đi mà
lượn rất nhanh. Một phần bơi nhanh được như thế
cũng là vì hai hàng lông tơ ở chung quanh mình;
nhưng lông ấy không phải chỉ có công dụng đó, hơn
thế, lông ấy còn là những “ăng ten” dẫn điện,
những cái lông có tính cách rung động để cho con
đực “mồi chài” con cái và để cho con cái “tống
tình” con đực.
Người ta đã thử lấy một chất khoa học làm rụng
hàng lông “tống tình” đó đi thì con vật bị “bỏ
rơi” ngay, không những đờ đẫn ra như chết, mà lại
còn bị đồng bào “phớt lạnh”.
* * *
Tháng Chín, tháng Mười, thường thường trời bắt
đầu
rét, đêm nằm gần về sáng, đã phải dùng đến chăn
bông. Những buổi chiều tà, ngồi ở cạnh mâm cơm có
ánh đèn hồng rủ xuống, vợ chồng cùng ăn cơm có
món
rươi, cùng nghĩ đến những cuộc tình ái của loài
rươi, đưa mắt nhìn nhau cùng nghĩ rằng trong khi
ăn như thế là ăn bao nhiêu cuộc giao tình, mấy ai
không thấy trái tim rung nhè nhẹ như dạo một bản
đàn hòa âm...
Này, con rươi không phải chỉ đẹp về lý tưởng như
thế mà thôi; xét theo khoa học, nó lại còn có
tính
cách bồi bổ sức khỏe cho người ăn nữa đấy.
Cách làm ra món cũng chẳng khó khăn gì lắm. Cần
nhất là lúc làm lông phải dùng nước nóng cho già,
quấy đều, nhặt cho hết rác, rồi rửa đi rửa lại
nhiều nước cho thật sạch. Để ráo đi một lúc, bà
có
thể làm nhiều món để ông xơi, mà món nào cũng rất
có thể ngon; nhưng thường thì có rươi, ta vẫn
quen
thưởng thức mấy món chính là chả rươi, rươi hấp,
rươi xào, rươi nấu và rươi đúc với trứng.
Riêng tôi, tôi thích ăn món rươi xào với niễng
thái chỉ (nếu không có niễng thì dùng măng tươi
hay củ cải). Vỏ quít thái nhỏ, ướp với nước mắm,
hành tây đảo với mỡ thơm ngào thơm ngạt lên thì
cho rươi vào xào chín rồi xúc ra; bỏ thêm mỡ vào
chảo, đổ đồ độn xào lẫn với thịt dọi thái chỉ (đã
luộc qua) cho tí muối vào nước luộc thịt, mười
phần chín đến tám phần thì bỏ rươi vào, đảo lên
cho thật đều...
Mùi thơm tỏa ra lúc đó nịnh khứu giác của người
ta
đáo để nhưng mà đừng hấp tấp, hỡi người bạn sành
ăn! Anh phải chờ cho chín kỹ đã (rươi có một đặc
điểm là xào lâu không nát: trái lại, lại dai),
bắc
ra, đập trứng và bỏ hành hoa, trộn mau tay cho
đều.
Chao ôi! Đĩa rươi đó vừa mềm không khô, chế một
ít
dầu vừng, rắc mấy lá gấc thái nhỏ và mấy ngọn rau
mùi vào, gia vừa hạt tiêu, để lên trên bàn, khói
bốc lên nghi ngút mà ăn ngay thì nuốt đến đâu
sướng đến đấy, không chịu được.
Có nhiều người cho là trứng khét, làm hại mất mùi
rươi, lúc xào cho nấm hương vào thay trứng. Lại
cũng có nhà xào rươi ra nhiều nước, lúc ăn miếng
rươi có ý nóng lâu hơn; nước chan lại ngọt, có ý
thích thú hơn là ăn khô xâm xấp.
Nhưng đã dùng rươi thì muốn ăn cách nào cũng thế,
cần phải cho đủ cay mới được; ớt làm nổi hẳn vị
rươi lên một cách thần tiên, ăn một miếng, húp
một
ít nước cho gia vị thật vừa, ta nghe thấy dâng
lên
một phong vị rất lạ lùng: béo, vừa đủ ngọt, không
bùi hẳn như nhộng mà nhai lại hơi sừn sựt - và ta
tưởng tượng như ta ăn những con ong non mới lấy ở
khoái ra, thơm vừa vặn, không ngào ngạt nhưng ý
nhị.
Thêm vào đó, trần bì (vỏ quýt) thơm một mùi hăng
hăng, lá gấc ngọt thoang thoảng, thìa là và rau
mùi thơm cái mùi thơm của hoa cỏ đồng quê; tất cả
nâng đỡ lẫn nhau, hòa hợp với nhau để tạo nên một
hương vị thật tiết tấu, tưởng chừng như một bản
đàn tuyệt diệu, chỉ thiếu một nét là hỏng cả.
Phổ thông hơn cả là chả rươi. Rươi trộn với thịt
băm, đập trứng, thìa là, thêm vài nhát vỏ quít
băm
nhỏ, tất cả ướp với nước mắm ngon, trộn đều, đổ
vào chảo, rán nho nhỏ lửa thôi; món này thơm
“chết
mũi”, láng giềng, hàng xóm ngửi thấy không chịu
được.
Lúc ăn, cho tí hạt tiêu, điểm mấy cái rau mùi,
dùng lúc đương nóng hổi.
Rươi hấp ăn thanh hơn một chút: cũng thịt, hành
củ, vỏ quít, thìa là và nước mắm (xin đừng quên
dăm sáu tai mộc nhĩ cho thơm mà giòn) nhưng không
dùng đến mỡ, chỉ trộn đều rồi hấp.
Vì rươi là một món ăn hiếm có trong một năm lại
được người ta yêu chuộng, nên nhiều nhà tìm cách
giữ rươi để có thể gửi biếu xén bạn bè, quyến
thuộc ở xa hay là giữ để ăn dần, thỉnh thoảng một
chút, cho sướng ông thần khẩu.
* * *
Có thể giữ rươi theo hai lối: rươi rang hay là
làm
mắm rươi. Rươi rang mà muốn làm cho cẩn thận thì
nên dùng nồi đất lót lá chuối rồi để rươi lên
trên, rang đều tay một lát rồi lấy một cái nồi
đất
khác chụp lên, đốt rơm như kiểu nhà quê hầm cá;
rươi lấy ra, giòn tan mà không khô, giữ được hàng
tháng, muốn gửi biếu xén ai ở thật xa cũng được.
Cái thứ rươi rang này, cho vào hộp đậy thật kín,
gặp hôm nào gió hiu hiu, trời buồn buồn, lấy ra
mà
gói kiểu chả Sài Gòn, ăn với rau xà lách, thơm,
mùi, tía tô, kinh giới, xương sông, chấm nước mắm
giấm ớt, cũng hay đáo để.
Nhưng mà thú hơn một bực là mắm rươi. Cứ đến mùa
rươi, thường các bà nội trợ đảm đang vẫn đích
thân
làm một hai bình, đem ủ cho thật ngấu rồi cất đi
thỉnh thoảng đem ra ăn với ruốc bông, rau cần,
cải
cúc, vỏ quít, thơm, mùi, lạc rang giã nhỏ, hành
hoa, gừng và rau xà lách.
Ăn như thế mà lại gia thêm thịt luộc ba chỉ,
không
thể nói là ngon được; phải nói là ăn “cứ tỉnh cả
người ra”. Ăn như thế, không mất cái vị rươi ngòn
ngọt lại phảng phất tanh tanh; mà có khi đang ăn
sực nghĩ rằng mình đang được dùng một của trái
mùa, ta sướng rợn lên như được đặc hưởng ân tình
với một người đẹp ở một nơi u tịch, không ai hay
biết.
* * *
Đã có bao nhiêu bận, ngồi nhấm nháp miếng chả
rươi
thật kỹ, nghĩ đến cái ngon đậm đà của miếng quà
đất nước, tôi đã nhớ ra rằng có bao nhiêu người
con đất Việt như tôi, chẳng may lại không được ăn
rươi - kẻ ăn rươi, người chịu bão - hay không
biết
ăn rươi! Tôi thấy tiếc cho họ, mà lại ngậm ngùi
một chút.
* * *
Không phải chỉ có y học phương Đông mới nhận thấy
rằng rươi có tính chất ôn, ăn vào thêm sức khỏe;
ngay khoa học mới, phân tách con rươi, cũng thấy
rằng rươi bổ lắm - mà cái phần bổ của nó nếu có
kém thì chỉ kém lòng đỏ trứng, ngoài ra hơn hết
các món ăn bổ khác.
Thật thế, một món ăn có nhiều chất lân, chất cái
và tới mười một phần trăm chất đạm, không phải là
lúc nào cũng tìm thấy dễ dàng đâu! Chính vì nó có
một tính cách rất bổ như vậy, cho nên những người
nào ngúng nguẩy, ho sốt, trẻ con cam sài đều
không
nên ăn, mà những người mới yếu dậy ăn cũng độc.
Ngay những người bình thường không được khỏe lắm,
ăn rươi cũng có thể không chịu, sinh đầy. Muốn
chế
hóa cái đầy đó, sả-chi-du (essence de
citronnelle)
là một môn thuốc hiệu nghiệm. Vì thế càng nghĩ,
ta
lại càng thấy rằng làm món rươi, tự các cụ ta
truyền lại, phải có vỏ quít (trong có chất dầu
chanh) thật là tài đặc biệt, vì không những vỏ
quít đã làm dậy mùi rươi lại có tánh cách chế hóa
cái độc của rươi đi, ta có thể ăn nhiều một chút
mà không hại đến con tì, con vị.
Nghĩ đến sự tài tình đó của người, ta không khỏi
lạ cho cái khéo của Trời. Ờ mà lạ thật, cứ có
rươi
là có quít; rươi và quít cùng tốt đôi; không có
món rươi nào mà lại có thể làm không vỏ quít.
* * *
Nhưng tài tình hơn cả là cùng con rươi mà ăn khác
món thì các gia vị cũng phải chế biến đi một chút
mới ngon. Chả rươi không phải dùng lá gấc và
gừng;
rươi hấp phải có mấy cái tai mộc nhĩ; rươi xào
phải có thìa là mới xong; nhưng đến cái mắm rươi
ăn với hôm he bông tại sao không có rau cần và
cải
cúc thì hỏng kiểu?
Riêng tôi không thể nào quan niệm được một bữa
mắm
rươi “ra dáng” mà lại thiếu hai món rau quan yếu
đó. Thiếu nó, thật y như một người đàn bà đẹp mà
vô duyên: tẻ lắm.
Trái lại, ăn một bữa mắm rươi đủ vị, không những
ngon miệng mà lại đẹp mắt nữ: mắm rươi ở dưới
bát,
tôm he xé thật bông ra phủ lên trên, trông như
một
bát san hô, thế rồi đến lúc ăn, gắp đủ các thứ
rau
vào bát, rải mắm lên trên. Màu mắm vàng tươi nổi
bật hẳn lên trên màu trắng trong của men bát, màu
xanh mát của rau, màu vàng nhạt của gừng và màu
vàng thẫm gần ngả đỏ của vỏ quít, ai không biết
ăn
mắm mà trông thấy cũng phải thèm lên thèm xuống.
Ăn mắm sống mãi mà chán thì đem chưng lên. Chưng
mắm với trứng, gia một cùi dìa đường tây vào rồi
khuấy lên như khuấy bột, mắm gần đặc thì cho vỏ
quít, lạc rang vào.
Thứ mắm chưng này cũng ăn với rau sống, nhưng gia
thêm một hai nhánh tỏi tươi thì lại càng nổi vị
hơn. Thơm gọi là nức mũi! Người ốm phải ăn kiêng,
lắm lúc thấy không chịu được, cũng cố đòi ăn một
miếng.
Nhưng mà coi chừng đấy nhé! Một, hai miếng mắm ăn
vào tưởng là chiều ông Thần Khẩu tí ti chẳng có
gì
quan hệ, ấy thế mà chưa biết chừng chỉ chiều hôm
trước, sáng hôm sau là thấy kiến hiệu ngay. Nhất
là đàn bà mới ở cữ thì lại càng nên thận trọng.
“Chín tháng ăn rươi, mười tháng ăn nhộng”, qua
câu
tục ngữ đó có phải các cụ muốn khuyên những người
đàn bà ở cữ mà kiêng chưa được đủ chín tháng thì
đừng nên dùng món rươi chăng? Hay đó chỉ là câu:
“tháng Chín ăn rươi, tháng Mười ăn nhộng” mà dân
gian truyền khẩu rồi hóa ra sai lạc.
Dù sao, ta cũng thấy món rươi đi rất sâu vào văn
nghệ Việt Nam. Nội trong các món ăn thuần túy của
đất nước tôi nghĩ rằng có lẽ món rươi được nhắc
nhở đến nhiều nhất trong văn nghệ bình dân; không
những rươi đã làm chủ đề cho nhiều câu tục ngữ
phương ngôn, mà lại còn là một thứ thách đố, một
đầu đề khuyên răn, một phương pháp xem thiên văn
của những người dân chất phác.
Này, cứ ngồi ngẫm nghĩ thì có món ăn nào trên thế
giới lại được nhắc đến nhiều và được dân gian thi
vị hóa đến như thế hay không?
Ấy thế mà rươi lại không phải là một món ăn đắt
đỏ. Một lọ mắm rươi, nào có đáng bao lăm; nhưng
có
ai đã từng xa vắng cố đô lâu ngày, bặt tin nhạn
cá, mà một buổi sáng bất thần có người gửi đến
cho
một lọ mắm rươi nho nhỏ gói vào trong mảnh giấy
bóng kính màu hồng thì mới có thể quan niệm được
hết cái đẹp của rươi và tất cả thi vị của đất
nước
tiềm tàng trong đó.
Không cần phải thư từ gì kèm theo dài dòng. Chỉ
một chữ nhỏ thôi và một lọ mắm, người nhận được
quà có thể mủi lòng, chảy nước mắt vì có lẽ không
có thứ quà gì nhắc nhở ta nhiều kỷ niệm đằm thắm
và sâu xa đến thế.
Nước ta là một nước sống bằng nghề nông, mà rươi
là một sản phẩm của ruộng đất bao la Bắc Việt,
cũng như là cốm.
Nhưng mà ở xa nhà thấy cốm thì lòng chỉ buồn nhè
nhẹ, thấy ruốc hay trà mạn sen thì lòng nặng nhớ
nhưng mà vẫn vui tươi, tại sao cứ thấy rươi thì
lại buồn rã rượi?
Tôi nghĩ tại cốm, tại trà, tại ruốc... là những
quà phong lưu mà đẹp cao sang, nhưng rươi thì
trái
hẳn đẹp một cách quê mùa, bình dị, đẹp cái mảnh
đất hiền hòa của xứ sở ta.
Trông thấy cốm, ta nhớ đến những dải thóc nếp hoa
vàng man mác, có những cô gái vừa hái vừa làm;
trông thấy trà mạn sen, thấy ruốc, ta nhớ đến
những người mẹ già thương con, những cô em gái
thương anh, những người yêu thương người yêu,
ngồi
giã ruốc, sấy chè gửi cho nhau; nhưng đến món mắm
rươi!...
Màu vàng tái của mắm rươi nhắc ta nhớ lại màu đất
của đồng ruộng mịn mỡ, làm cho ta yêu mà như đau
nhói ở tim, vì hình ảnh của những người làm ruộng
chân lấm tay bùn ở dưới mưa dầu nắng lửa. Nhớ anh
em khôn xiết, thương đồng bào bao nhiêu! Ăn một
miếng mắm ở phương xa, bao nhiêu là kỷ niệm đất
nước cũng đi theo luôn vào lòng mình: người khách
tha hương thấy đồng bào tuy là cách mặt mà vẫn
thương mình, vừa cảm động, vừa thương thân, sao
cho khỏi vừa mừng, vừa tủi?
Tôi còn nhớ những người ở tản mác dưới những
phương trời xa lạ cả Âu lẫn A, hồi trước chiến
tranh vẫn gửi những lá thư về nhà nói với mẹ, với
chị “cho xin một lọ mắm rươi”, và tôi thích nghĩ
lan man về những nỗi lòng của họ khi hạ bút viết
nên câu đó.
Ờ mà, ở Tàu, ở Nhựt, ở Pháp, ở Anh, nào thiếu gì
đâu những quà ngon của lạ, mà sao người khách tha
hương vẫn cứ đăm đắm nhớ đến “cái món ấy” của quê
nhà?
Thì ra dù quan sơn cách trở, giữa người dân lưu
lạc và đất nước bao giờ cũng có những dây hữu ái
nối hai thâm tình lại với nhau.
Và khi nghĩ rằng mối dây liên lạc đó không phải
là
vàng mà cũng chẳng phải là bạc, không là chủ
nghĩa
này, lý thuyết nọ mà cũng không là giải pháp ấy,
phái đảng kia, nhưng chỉ là một con rươi, một
chút
rươi làm thành mắm, tôi thấy muôn hoa ở trong
lòng
hé cánh như những bàn tay búp bê vẫy gọi nhau và
tôi muốn cúi đầu xuống cảm ơn - cảm ơn bất cứ ai
-
đã cho người mình có con rươi, biết ăn rươi, và
làm được những món rươi ăn thích thú và thơm ngon
đến thế!
Other related posts:
- » [SMCC] Mieng Ngon Ha Noi 10 - Nguyen Khanh Quoc