[SMCC] Mat mot tay van lai duoc con thuyen

Mất đôi tay vẫn lái một con thuyền
17:49:38 22/02/2009
Có một người đàn ông cụt hai tay, nhưng vẫn chèo lái con thuyền gia đình đi đến 
bến bờ hạnh phúc, ấm no. Ai đó trêu: "Này cái ông cụt tay, chắc sợ vợ phải biết 
nhỉ!". Người đàn ông, chủ gia đình đó cười mà rằng: "Tôi cụt tay còn đẻ được 
sinh đôi, người khác không cụt, chỉ đẻ một. Ai hơn ai?".
Mất đôi tay, như mất cả cuộc đời

Người đàn ông đó là Ma Văn Léng, năm nay 50 tuổi, người dân tộc Tày, quê ở xã 
Minh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Hiện ông sống cùng vợ và con 
cháu ở một ngôi nhà nhỏ, bên dòng sông Cà Lồ, thuộc xã Đại Đức, huyện Bình 
Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. 

Đến tìm ông một lần không gặp, do ông đạp xe đi lĩnh lương rồi "bát ngát" với 
bạn bè luôn ở thị xã Phúc Yên. Lần này, tôi gọi điện trước khi đến. Hết Tết 
rồi, nhưng ông Léng vẫn vui như Tết. Bởi vì ông tự tin ở cuộc sống, con cái đã 
đàng hoàng. Ông lại còn vay tiền đầu tư làm trang trại ở quê nhà xứ Tuyên nữa. 

Ngồi nói chuyện với ông, tôi chẳng ngờ, đã có thời gian chàng thanh niên Ma Văn 
Léng tuyệt vọng muốn chết đi cho rồi. Vì đời trai như thế là hết, mất cả hai 
cánh tay, phải có người phục dịch, đến việc như ăn cũng phải có người bón. 
Nhưng cuộc đời con người đâu có đơn giản như hạt cát, như lá cây ngoài rừng. 
Giữa những ngày tháng tuyệt vọng đó, chàng Léng đã gặp một người phụ nữ, là vợ 
liệt sĩ. Người phụ nữ đó sau này là vợ, và vẫn chung thủy sống bên ông Léng đến 
tận giờ. 

Bà Đỗ Thị Nghị, vợ ông Léng, pha ấm trà. Tôi rót làm ba chén. Ông Léng cúi 
xuống hớp nước từ cốc bằng một động tác thuần thục. Rồi ông kể cho tôi nghe về 
đời mình: "Năm 1974, tôi đang học ở Trường cấp ba Tuyên Hoá, liền xung phong 
nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện ở Trường Thiếu sinh quân, tôi được điều về 
Sư đoàn 320 và hành quân vào Buôn Ma Thuột. Năm 1975, tôi tham gia trận mở màn 
chiến dịch giải phóng miền Nam và có mặt trong đoàn quân chiến thắng tiến vào 
giải phóng Sài Gòn. Đó là những ngày tháng không thể nào quên, chú ạ".

Dù đã giải phóng, nhưng Ma Văn Léng vẫn chưa kịp về quê. Vùng Tây Nguyên, bọn 
tàn quân FULRO vẫn bắn, giết cán bộ và người dân. Ma Văn Léng lại tiếp tục lên 
đường cũng đồng đội truy quét FULRO. Tiếp đó chiến tranh biên giới Tây Nam nổ 
ra, Ma Văn Léng lại cùng đơn vị đánh bọn Pôn Pốt ở vùng biên giới Tây Nam. Đơn 
vị ông hành quân sang giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. 

Vào một ngày tháng 7 năm 1979, Ma Văn Léng lái xe vận chuyển lương thực phục vụ 
Sư đoàn 339 thì bị địch phục kích ở Công Pông Chư Pư. Trong tiếng đạn nổ, Léng 
thấy một luồng gió lạnh tạt qua mặt, ông nhìn xuống thấy bên tay trái đã lìa 
khỏi cơ thể nhưng vẫn mắc ở vô-lăng. Tay phải thì còn dính một ít da. "Lúc đó, 
tôi vẫn kịp giậm phanh để chiếc xe khựng lại, rồi đạp cửa lao ra. Chạy một đoạn 
mới thấy người choáng, mắt tối sầm, rồi còn kịp hét lên: cứu tôi với. Sau đó 
ngã ra bất tỉnh. Cũng may, động mạch ở hai cánh tay đã dính vào xương, nên 
không chảy máu nhiều. Nếu không thì tôi toi rồi!". 

Ông Léng kể lại, như chuyện mới chỉ xảy ra vào năm trước. Một điều khiến đầu óc 
ông Léng xúc động ứa nước mắt mỗi khi nghĩ về, đó là hai cánh tay. Tay trái nằm 
ở đất Campuchia, còn tay phải được chôn ở TP Hồ Chí Minh. Năm đó, đồng đội đưa 
ông về Sài Gòn, cùng với cánh tay với hy vọng nối lại. Nhưng không được.

Ông Léng cho tôi xem hai bên đầu cánh tay đã cụt gần sát nách của mình. Viên 
đạn B40 của địch tiện gọn hai cánh tay ở vị trí đều nhau. Trải qua hơn một năm 
điều trị tại Bệnh viện 175 ở TP Hồ Chí Minh, anh thương binh nặng Ma Văn Léng 
được đưa về Đoàn An dưỡng 235 đóng tại xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh 
Phúc. 

Tuổi đôi mươi của chàng Léng gắn với nỗi sầu muộn, sự tuyệt vọng. Ông Léng nói: 
"Lúc đó tôi nghĩ, mất đôi tay rồi, cũng như mất cả cuộc đời. Sống thế là chẳng 
còn ý nghĩa gì nữa. Thế rồi tôi gặp bà Nghị, là vợ tôi đây, hiểu và thương 
nhau, nên kết duyên chồng vợ".

Không tay vẫn chèo lái con thuyền

Mất hai tay, nhưng còn hai chân. Ma Văn Léng đi lang thang ở những ngôi làng 
xung quanh Đoàn An dưỡng. Và một ngày, Léng đã gặp người phụ nữ nuôi dạy trẻ ở 
thôn Đại Phúc. Qua tìm hiểu, nói chuyện dẫn đến anh chị quý nhau. Ma Văn Léng 
biết người phụ nữ tên Nghị đã qua một đời chồng và đã có một con. 

Ông Léng nói: "Ngày đó, biết Nghị nhiều hơn tuổi, nhưng nghe nói về người chồng 
đã hy sinh của mình, tôi thấy cảm thông. Càng nói chuyện lại càng cảm thông. 
Tôi thấy người phụ nữ này hợp với mình, nên ngỏ lời. Nghị đồng ý luôn. Thế là 
chúng tôi làm đám cưới. Nghĩ cũng vui thật. Giờ chúng tôi có cả con cháu".

Bà Đỗ Thị Nghị, sinh năm 1953, hơn ông Léng 6 tuổi. Ngày mới yêu nhau (cuối năm 
1980), Ma Văn Léng muốn đưa cậu bé Hùng, con riêng của bà Nghị đi chơi, nhưng 
lại chẳng có cánh tay nào để bế đứa trẻ. Thế là nhiều lần, đôi tình nhân mới, 
cùng với một đứa trẻ đưa nhau vào Đoàn An dưỡng chơi. Tình yêu cứ thế lớn dần. 

Biết chuyện, bạn bè ủng hộ cho Léng, lãnh đạo Đoàn An dưỡng thăm hỏi và nhiệt 
tình ủng hộ. Thế nhưng mối lương duyên đã gặp phải sự cản trở của gia đình bà 
Nghị. Họ sợ con mình đã thiệt thòi do chồng hy sinh nay lại lấy anh thương binh 
nặng thì gánh cái vất vả sẽ đeo đuổi cả đời. 

Vì buồn chán mà tháng 2 năm 1981, Ma Văn Léng chuyển về Đoàn điều dưỡng thương 
binh số 5 Phú Thọ. Thời gian này, trong làng cũng có một vài người góa vợ đem 
lòng yêu thương, nhưng trái tim của Đỗ Thị Nghị vẫn hướng về Ma Văn Léng. Năm 
1982, Nghị thuyết phục được gia đình. Vì tình yêu, con tim từng bị thương đã 
gọi được người mình yêu trở về làm đám cưới.

Đám cưới đạm bạc và nhiều niềm vui. Chú rể Ma Văn Léng nén nỗi buồn vì không có 
người thân nào từ Tuyên Quang xuống, do không có tiền. "Họ nhà trai" của Léng 
toàn là những thương binh. Kinh phí do nhà gái cấp, cùng với số tem phiếu ít ỏi 
của chú rể. 

Sau đám cưới, vợ chồng Léng - Nghị cùng bé Hùng ra ở riêng. Nhờ địa phương quan 
tâm, đồng đội giúp đỡ, cùng xúm vào giúp vợ chồng trẻ dựng một nếp nhà vách 
đất. Ngôi nhà nhỏ bên dòng sông ấy từ đó tràn đầy niềm vui, hạnh phúc. Nhưng 
cuộc sống của họ không ngớt khó khăn. 

Bà Nghị là người phụ nữ can trường. Ngoài là vợ, bà còn như một bảo mẫu chăm 
sóc cho chồng, rồi cho những đứa con chung. Để bù lại, ông Léng cũng cố gắng 
làm những việc nặng nhọc để đỡ đần vợ. Từ nuôi lợn, băm bèo thái khoai, đến 
việc buôn bán chè để có tiền nuôi các con. 

Ông Léng từng nhiều năm đạp xe về Hàm Yên (Tuyên Quang), Thái Nguyên mua chè 
rồi đem về Vĩnh Yên bán. Những năm sau hàng ế ẩm, không lời lãi, ông lại mua 
máy bơm để bơm ao thuê. Kết hợp với việc đào đất, đóng gạch để xây dựng căn nhà 
khang trang hơn, thay cho ngôi nhà vách đất trước đó. 

Vốn là một chàng trai khỏe mạnh xứ núi, từng đi bẫy thú rừng, Ma Văn Léng áp 
dụng hết khả năng vốn có của mình để đi soi ếch, câu cá, đánh lưới trên sông, 
kiếm con tôm, con cá mang về cho vợ con. Ông Léng bảo mình có thể làm được mọi 
việc, kể cả việc nặng nhọc nhất là vác đất, xúc đất. 

Tôi thắc mắc, chưa hiểu ông làm việc đó bằng cách nào. Ông Léng giảng giải: 
"Tôi dùng cổ giữ cán, chân đạp xẻng xắn đất rồi hất lên xe cải tiến, sau đó 
dùng hai bên nách kéo càng xe đi băng băng. Tôi trực tiếp làm đất cho nhà tôi 
và các cháu đóng gạch rồi đốt lò. Cứ thế trong 3 năm thì đủ gạch và xây lên 
ngôi nhà hai tầng này". 

Đã 27 năm vợ chồng sống với nhau. Vất vả và hạnh phúc. Vượt qua đói nghèo, khó 
khăn, để lúc này con cháu đàng hoàng. Năm 1984, bà Nghị sinh con trai đặt tên 
là Ma Văn Liệu, hai năm sau sinh đôi 2 con gái là Ma Thị Tuyết và Ma Thị Nhung. 
Vợ chồng Nguyễn Mạnh Hùng đã có nhà riêng và ở cạnh bố mẹ. Ma Văn Liệu đã lấy 
vợ, có con đang ở cùng bố mẹ. Hai cô con gái sinh đôi đã được gả chồng. Tất cả 
con cái, các cháu đều chăm ngoan. 

Để làm được những điều đó, ông Léng khẳng định là nhờ tình yêu và lòng ham 
sống. Chính hai con người chịu mất mát này đã thắp lửa cho nhau. Ông Léng tâm 
niệm rằng, sống ở đâu cũng được, miễn là phải sống tốt. Mấy chục năm, sống bên 
cạnh hàng xóm, ông luôn là người mẫu mực, giúp đỡ mọi người, cải thiện tình 
làng nghĩa xóm. Làm cho gia đình yên ấm để hàng xóm nể trọng cũng là một trong 
những đức tính tốt mà ông Léng có. 

Sống ở nơi đất khách quê người, ông Léng không bao giờ quên nơi mình sinh ra và 
lớn lên. Ông giúp đỡ các em mình ở quê bằng cách đầu tư vốn để xây dựng trang 
trại. Và Tết Nguyên đán, hay dịp mồng 3 tháng 3 âm (Tết Thanh minh) ông lại đưa 
vợ con về thăm quê nội Tuyên Quang và tảo mộ các cụ. 

Nghĩ lại những ngày tháng khó khăn qua, bà Nghị rơm rớm nước mắt: "Ngày đó, tôi 
cũng chẳng định đi bước nữa đâu. Nhưng duyên số thế nào đó mà không dứt nhau ra 
được. Sống với ông ấy, tôi chẳng thắc mắc điều gì, chỉ mong ông ấy đừng uống 
quá chén, để khỏi mang bệnh, sống được lâu và hưởng phúc cùng con cháu".

"Em là bảo mẫu của đời anh"

Đó là tâm sự của ông Léng với người vợ của mình. Bởi vì gần 30 năm qua, bà Nghị 
là "bảo mẫu" riêng cho chồng. Mới đây, bà còn được nhận lương chăm sóc chồng. 
Lúc bước vào nhà, tôi thấy ông Léng mặc quần cộc, ông vào phòng trong chưa đầy 
nửa phút, đi ra, đã thấy ông mặc quần dài. Hỏi: "Ông tự mặc à?". Ông Léng nói: 
"Bà ấy mặc cho chứ, tôi mặc cũng được nhưng mà lâu lắm". Vì thế, nói bà Nghị là 
"bảo mẫu" của chồng chẳng ngoa. 

Từ việc ăn đến một vài sinh hoạt thường đều do bà vợ đảm nhiệm. "Bà ấy tốt lắm, 
anh có tưởng tượng được người vợ mấy chục năm đút cơm cho chồng không? Có bà 
ấy, tôi thấy mình muốn sống và sống có ích". Ông Léng vừa nói vừa nhìn sang 
người vợ của mình.

Có lẽ, ông Léng là người "biết làm mà không biết ăn" đầu tiên mà tôi biết. Bởi 
vì, ông có thể làm gần như mọi việc, chỉ có tự ăn là không làm được, phải có 
người giúp. Vì thế, ở trong làng, nếu có tiệc cưới, tiệc nhà mới… ông Léng chỉ 
đến hỏi thăm, còn ăn thì để vợ, vì ông ngại.

Năm 1980, Trung tâm chỉnh hình tại TP Hồ Chí Minh đã nghiên cứu 6 tháng trời để 
mong chế tạo một dụng cụ giúp ông Léng có thể tự ăn được nhưng chưa thành công. 
Họ làm cho ông một bên tay giả có khuỷu, giúp ông có thể làm được việc. Mới 
đây, một người cháu đã giúp ông chế tạo một cánh tay giả tiện lợn hơn. Được nối 
với cái cùi tay còn lại bên phải. Ở đầu có cái kẹp sắt được nối bằng dây với 
cùi tay trái, giúp ông điều chỉnh và làm việc dễ dàng hơn.

Ông Léng có khả năng uống rượu. Một lần, ông đã khiến cả một đám dám thách đố 
ông nằm la liệt như ngả rạ vì rượu. Nhờ có người vợ, ông đã khống chế được bản 
thân và uống điều độ. Mỗi bữa ông uống 2 chén nhỏ để có sức khỏe làm việc. Ông 
bảo, không có chút men, thấy người yếu đuối, khó chịu. 

Ông vê thuốc, bật lửa, châm thuốc lào và hút bằng đôi chân một cách thuần thục. 
Ông Léng bình thản nhả khói. Làn khói mỏng bay bay trong tiết xuân non bấy. 
Ngoài kia, luống mạ nhà ông đang phơi phới xanh, chuẩn bị được đưa ra ruộng 
cấy. Tôi biết, mùa xuân đã ở ngôi nhà này. Không, mùa xuân đã về ngôi nhà yên 
ấm của người thương binh nặng này từ mấy chục năm qua. Lúc tôi xin phép ra về, 
ông Léng gọi đứa cháu ra sân tập đá bóng cho khỏe người. Đôi chân ông nhớ bóng, 
hỏi ra mới biết, ngày trước trong quân ngũ, ông là một cầu thủ xuất sắc

Other related posts: