[SMCC] Re: Gio to Hung vuong ki 3

Hi các bạn,

đọc cái danh sách quốc hiệu nước ta từ xưa đến nay bỗng thấy có một cái khá đặc 
biệt so với người trung Quốc.

Nước mình giống như nhiều dân tộc khác khi lấy tên nước là tên của một tộc 
người hoặc tên của một khu vực địa lý. Nước trung Quốc thì theo tên tiếng Anh 
là China hay tiếng Pháp là Chine có nguồn gốc từ việc phiên âm chữ Tần. Vì Tần 
Thủy Hòang có công thống nhất Trung Quốc và các triều đại Trung Quốc xem quốc 
gia thuộc sở hữu của triều đại đương trị. Khi triều đại đổi chủ thì lấy tên 
khác ví dụ như gọi họ là nước của nhà Chu, nhà đường, nhà tống v.v... 

Còn một chi tiết khác là cái tục lệ cưới xin ngày xưa có kèm theo một gói đất. 
đến nay, ở miền Bắc vẫn còn một vài vùng có tục ăn đất. Đất sét ngòai ruộng 
được mang về nhồi cho đều rồi cắt thành từng miếng vuông vuông bằng viên kẹo 
thời nay vậy. Sau đó đem nung cho chín dòn rồi ăn. Người ta cắn từng miếng đất 
nung này nhai rau ráu như nhai cơm cháy vậy. Tại sao ăn như thế thì có lời giải 
thích cho rằng bởi khi ăn nó có cái vị riêng. Tuy cái món ăn đất này không có 
hay chưa rõ có thể cung cấp một thứ dinh dưỡng gì cho cơ thể, nhưng ăn riết 
cũng nghiện như nghiện thuốc lá vậy. So ra cái kiểu ăn kẹo cao su nhai đỡ buồn 
ngày nay thì dân tộc mình đã có từ thời thượng cổ rồi.

Khi đọc lịch sử nếu tài liệu nói về thời tiền sử tức là thời kỳ trước khi có 
chữ viết và các chứng từ lịch sử nhé các bạn. 

Mến
Tran Ba Thien
tranbathien@xxxxxxxxx
  ----- Original Message ----- 
  From: Nguyen Hoang Bao Vu 
  To: tri thuc ; ho thanh ; Hoang Nhan ; Nguyen Thanh Phuoc ; Nguyenhoangbaovu 
; smcc ; thang nguyen 
  Sent: Wednesday, April 25, 2007 7:15 PM
  Subject: [SMCC] Gio to Hung vuong ki 3


  Quốc hiệu chính thức

   

  Dưới đây là danh sách các quốc hiệu chính thức của Việt Nam theo dòng lịch sử.

  Các quốc hiệu này đều được ghi chép trong các sách sử Việt Nam, hoặc được 
chính thức sử dụng trong nghi thức ngoại giao quốc tế.

   

  Văn Lang

   

  Văn Lang ( chữ Hán

  文郎) được coi là quốc hiệu đầu tiên cho Việt Nam. Quốc gia này có kinh đô đặt 
ở Phong Châu nay thuộc tỉnh

  Phú Thọ. Lãnh thổ gồm khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, 
Hà Tĩnh  bây giờ. Quốc gia này tồn tại cho đến năm 258 TCN.

   

   

   

  Âu Lạc

   

  Năm 257 TCN, nước Âu Lạc (甌雒, 甌駱, 甌貉) được dựng lên, từ liên kết các bộ lạc 
Lạc Việt (Văn Lang trước đây) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán - An Dương 
Vương.

   

  Khoảng năm 208 TCN

  [1],

  Triệu Đà - vua nước Nam Việt - tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của 
An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị xóa sổ.

   

   

   

  Vạn Xuân

   

  Vạn Xuân (萬春) là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi 
khỏi chính quyền trung ương Trung Hoa, dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế. Nó tồn 
tại từ năm 544 đến năm 602.

   

   

   

  Đại Cồ Việt

   

  Đại Cồ Việt (大瞿越, 大句越, 大御越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh năm 
968. Nó tồn tại đến đời vua Lý Thánh Tông năm 1054.

   

   

   

  Đại Việt

   

  Đại Việt (大越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý.

  Nó ra đời năm 1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi. Nó tồn tại không liên 
tục, đến năm 1804.

   

   

   

  Đại Ngu

   

  Đại Ngu (大虞) là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ. Quốc hiệu Đại Việt được 
đổi thành Đại Ngu năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau khi nhà Hồ bị thất 
bại trước nhà Minh và nhà Hậu Lê giành lại độc lập cho Việt Nam, quốc hiệu của 
Việt Nam đổi lại thành Đại Việt.

   

  Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn (là một 
trong Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ); sau này con Ngu Yên là Vĩ 
Mãn được Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần gọi là Hồ Công, sau dùng 
chữ Hồ làm tên họ. Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họ Hồ, con cháu Ngu Thuấn, 
nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu. Chữ Ngu (虞) ở đây có nghĩa là "sự yên vui", chứ 
không có nghĩa là "ngu si" (愚癡).

   

   

   

  Việt Nam

   

  Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long đã 
đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng Nam có ý nghĩa 
"An Nam" còn Việt có ý nghĩa "Việt Thường". Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với 
quốc hiệu của lãnh thổ  nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung 
Hoa; nhà Thanh đổi ngược lại để tránh nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên 
này năm 1804.

   

  Tuy nhiên, tên gọi "Việt Nam" có thể đã xuất hiện sớm hơn. Ngay từ cuối thế 
kỷ 14, đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí (nay không còn) do Hàn lâm 
viện học sĩ Hồ Tông Thốc biên soạn. Cuốn  Dư địa chí viết đầu thế kỷ 15 của 
Nguyễn Trãi (1380- 1442) nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam". Điều này còn 
được đề cập rõ ràng trong những tác phẩm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm 
(1491- 1585), chẳng hạn ngay trang mở đầu tập Trình tiên sinh quốc ngữ đã có 
câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Người ta cũng tìm thấy hai chữ "Việt Nam" trên 
một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16- 17 như

   bia chùa Bảo Lâm  1558) ở Hải Dương,

   bia chùa Cam Lộ ( 1590) ở Hà Tây,

  bia chùa Phúc Thánh   1664) ở Bắc Ninh...

  Đặc biệt bia Thủy Môn Đình  1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: "Việt Nam 
hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngõ yết hầu của nước Việt Nam và là 
tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các

  giả thuyết đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và 
địa lý (người Việt ở phương Nam).

   

   

   

  Đại Nam

   

  Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi xin nhà Thanh cho phép đổi quốc hiệu Việt 
Nam thành Đại Nam (大南), ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Tuy nhiên nhà Thanh đã 
không chính thức chấp thuận. Khi nhà Thanh bắt đầu suy yếu, vua Minh Mạng đã 
chính thức đơn phương công bố quốc hiệu mới Đại Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 
1839. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945.

   

   

   

  Đế quốc Việt Nam

   

  Sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, hoàng đế Bảo Đại 
tuyên bố độc lập và thành lập chính phủ độc lập ngày 17 tháng 4 năm 1945, đứng 
đầu là nhà học giả Trần Trọng Kim, với quốc hiệu Đế quốc Việt Nam. Trong thực 
tế Nhật vẫn cai trị Nam Kỳ.

  Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Nam Kỳ mới được trao trả ngày 14 tháng 
8 năm 1945, nhưng 10 ngày sau đó Hoàng đế Bảo Đại thoái vị.

   

   

   

  Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

   

  Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là tên gọi của cả nước Việt Nam từ 1945 đến 1954 và 
miền Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1976.

  Nhà nước này được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (ngày quốc khánh của 
Việt Nam ngày nay). Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối đầu với Pháp và Quốc gia 
Việt Nam được lập ra dưới cái ô của Pháp năm 1949. Trong thời kỳ 1954-1975, 
chính-thể này lại phải đối đầu với Việt Nam Cộng Hoà được thành lập tại miền 
Nam Việt Nam.

   

   

   

  Nam Kỳ quốc

   

  Nam Kỳ quốc hay Nam kỳ Cộng hòa quốc (tiếng Pháp: République de Cochinchine) 
là danh xưng do chính phủ Pháp đặt ra cho vùng lãnh thổ Việt Nam phía dưới vĩ 
tuyến 16. Chính quyền Nam Kỳ quốc được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1946, về 
danh nghĩa là một quốc gia độc lập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Danh xưng này 
tồn tại được 2 năm, sau đó lại chính quyền Nam kỳ quốc giải thể, đổi tên lại 
thành Chính phủ Nam phần Việt Nam, rồi sát nhập vào chính quyền lâm thời Quốc 
gia Việt Nam ngày 2 tháng 6 năm 1948.

   

   

   

  Quốc gia Việt Nam

   

  Quốc gia Việt Nam là danh xưng của toàn bộ vùng lãnh thổ Việt Nam, ra đời 
chính thức từ Hiệp ước Elysée ký ngày 8 tháng 3 năm 1949, giữa Tổng thống Pháp 
Vincent Auriol và Cựu hoàng  Bảo Đại. Về danh nghĩa, chính quyền thuộc khối 
Liên hiệp Pháp, độc lập, đối kháng và tồn tại trên cùng lãnh thổ với chính 
quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Danh xưng Quốc gia Việt Nam tồn tại trong 6 
năm (1949-1955). Năm 1955, Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, giải 
tán Quốc gia Việt Nam, thành lập chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

   

   

   

  Việt Nam Cộng Hòa

   

  Việt Nam Cộng Hòa là tên gọi quốc gia được thành lập tại miền Nam Việt Nam, 
kế tục Quốc gia Việt Nam (1949–1955). Năm 1955, trong một cuộc trưng cầu dân ý, 
thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, thành lập chính quyền 
Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền này tồn tại độc lập trong 20 năm và sụp đổ vào 
năm 1975.

   

   

   

  Cộng hòa Miền Nam Việt Nam

   

  Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là tên gọi mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam 
Việt Nam, được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn, đặt ra cho miền Nam Việt 
Nam với việc thành lập một chính phủ mới để chống lại chính quyền Việt Nam Cộng 
Hòa.

  Danh xưng này tồn tại trong 7 năm (1969-1976), sau đó, chính quyền lâm thời 
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã giải tán để hợp nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng 
hòa thành một quốc gia Việt Nam thống nhất.

   

   

   

  Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

   

  Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa 6 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã 
quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hiệu này 
được sử dụng từ đó đến nay.

   

   

   

  Các danh xưng gây tranh cãi

   

  Dưới đây là những danh từng được dùng không chính thức để chỉ vùng lãnh thổ 
quốc gia Việt Nam. Những danh xưng không chính thức được ghi nhận lại từ cổ

  sử hoặc từ các tài liệu nước ngoài từ trước năm 1945.

   

  Xích Quỷ

   

  Xích Quỷ, còn gọi là Thích Quỷ, theo Việt Nam Sử lược là có nguồn gốc từ thủy 
tổ của người Việt là Kinh Dương Vương.

   

  Sách chép :

   

  "Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần 
thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên,

  lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con 
trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương

  nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.

   

  Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam 
giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông 
giáp bể Nam Hải.

   

  Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm nhâm tuất (2879 trước 
Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi 
làm vua, xưng là Lạc Long Quân."

   

   

   

  Nam Việt

   

  Nam Việt là quốc hiệu thời nhà Triệu (207 TCN- 111 TCN), Nói chính xác thì 
đối tượng tranh cãi không phải là bản thân tên gọi Nam Việt, mà vấn đề là quốc 
hiệu này có đại diện cho nước Việt Nam hay không. Thời phong kiến xem Nam Việt 
chính là quốc hiệu của tộc người Việt, nhưng quan điểm chính thống ngày nay cho 
rằng quốc gia Nam Việt khi đó là của người Trung Hoa. Lý do không coi Nam Việt 
là của Việt Nam: Triệu Đà là người Hán,  quê huyện Chân Định, nhân lúc nhà Tần 
suy loạn đã nổi lên lập ra nhà Triệu, lấy quốc hiệu là Nam Việt. Các ý kiến cho 
rằng quốc hiệu này là của người Việt có các nhận định của các học giả như Lê 
Văn Hưu hay Ngô Sĩ Liên.

   

  Lê Văn Hưu

  nói: Đất Liêu Đông không có Cơ Tử thì không thành phong tục mặc áo đội mũ 
[như Trung Hoa], đất Ngô Cối không có Thái Bá thì không thể lên cái mạnh của bá 
vương. Đại Thuấn là người Đông Di nhưng là bậc vua giỏi trong Ngũ Đế. Văn Vương 
là người Tây Di mà là bậc vua hiền trong Tam Đại. Thế mới biết người giỏi trị 
nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu 
Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi 
thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước  Việt ta, công ấy có 
thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế 
mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải 
đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc 
không thể lại ngấp nghé được.

   

  Ngô Sĩ Liên

  nói: Truyện Trung Dung có câu: "Người có đức lớn thì ắt có ngôi, ắt có danh, 
ắt được sống lâu". Vũ Đế làm gì mà được như thế? Cũng chỉ vì có đức mà thôi. 
Xem câu trả lời Lục Giả thì oai anh vũ kém gì Hán Cao. Đến khi nghe tin Văn Đế 
đặt thủ ấp trông coi phần mộ tổ tiên, tuế thời cúng tế, lại ban thưởng ưu hậu 
cho anh em, thì bấy giờ vua lại khuất phục  nhà Hán, do đó tông miếu được cúng 
tế, con cháu được bảo tồn, thế chẳng phải là nhờ đức ư?

  Kinh Dịch

  nói: "Biết khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng, ngôi thấp mà không ai dám 
vượt qua". Vua chính hợp câu ấy.

   

  Hoặc vua Quang Trung sau khi đánh bại đội quân nhà Thanh năm 1789 đã có ý 
định đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây với lý do đây là đất cũ của Nam 
Việt thời Triệu Đà.

   

   

   

  An Nam

   

  An Nam là danh xưng của người nước ngoài chỉ lãnh thổ Việt Nam trong một số 
thời kỳ.

   

  Nguồn gốc danh xưng này từ thời Bắc thuộc (Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ), nhà 
Đường ở Trung Quốc đã đặt tên cho khu vực lãnh thổ tương ứng với khu vực miền 
Bắc  Việt Nam ngày nay là An Nam đô hộ phủ (673-757 và 768-866).

   

  Sau khi giành được độc lập, các triều vua Việt Nam thường phải nhận thụ phong 
của Trung Quốc, danh hiệu An Nam quốc vương.

   

  Từ đó người Trung Quốc thường gọi nước Việt Nam là An Nam, bất kể quốc hiệu 
là gì. Cách gọi này đã ảnh hưởng đến cách gọi của người châu Âu trước năm 1945.

   

  Thời kỳ thuộc Pháp, Annam (gọi theo tiếng Pháp) là tên gọi chỉ vùng lãnh thổ 
Trung Kỳ do nhà Nguyễn cai trị dưới sự bảo hộ của Pháp. Tuy vậy, người Pháp vẫn 
dùng danh xưng Annam để chỉ người Việt nói chung ở cả 3 vùng Bắc Kỳ (Tonkin), 
Trung Kỳ (Annam) và Nam Kỳ (Cochinchine).

   

   

   

  Chú thích

  List of 1 items

  1 Đa phần sách sử Việt Nam ( Đại Việt Sử ký Toàn thư, Khâm Định Việt Sử, Việt 
Sử Tiêu Án) đều chép là An Dương Vương mất nước năm 208 TCN, nhưng Sử Ký của Tư 
Mã Thiên chép là năm 179 TCN.

  list end

   

  Name: Nguyen Hoang Bao Vu
  Home: 210C Hiep Binh Chanh tenement. Thu Duc district Ho Chi Minh City Viet 
Nam
  Home Phone: 7262214
  Cell-phone: 0979878854
  Yahoo ID: nguyenhoangbaovu
  Skype ID: nguyenhoangbaovu
  Blog: 360.yahoo.com/nguyenhoangbaovu

Other related posts: