[SMCC] Re: Gio to Hung vuong ki 3
- From: "Tran Ba Thien" <tranbathien@xxxxxxxxx>
- To: <smcc@xxxxxxxxxxxxx>, "tri thuc" <trithucdoisong@xxxxxxxxx>, "ho thanh" <ht125h@xxxxxxxxx>, "Hoang Nhan" <nhanhop@xxxxxxxxx>, "Nguyen Thanh Phuoc" <phuocdaithanh@xxxxxxxxx>, "Nguyenhoangbaovu" <nguyenhoangbaovu@xxxxxxxxx>, "thang nguyen" <nguyenthangsm@xxxxxxxxx>
- Date: Thu, 26 Apr 2007 07:08:56 +0200
Hi các bạn,
đọc cái danh sách quốc hiệu nước ta từ xưa đến nay bỗng thấy có một cái khá đặc
biệt so với người trung Quốc.
Nước mình giống như nhiều dân tộc khác khi lấy tên nước là tên của một tộc
người hoặc tên của một khu vực địa lý. Nước trung Quốc thì theo tên tiếng Anh
là China hay tiếng Pháp là Chine có nguồn gốc từ việc phiên âm chữ Tần. Vì Tần
Thủy Hòang có công thống nhất Trung Quốc và các triều đại Trung Quốc xem quốc
gia thuộc sở hữu của triều đại đương trị. Khi triều đại đổi chủ thì lấy tên
khác ví dụ như gọi họ là nước của nhà Chu, nhà đường, nhà tống v.v...
Còn một chi tiết khác là cái tục lệ cưới xin ngày xưa có kèm theo một gói đất.
đến nay, ở miền Bắc vẫn còn một vài vùng có tục ăn đất. Đất sét ngòai ruộng
được mang về nhồi cho đều rồi cắt thành từng miếng vuông vuông bằng viên kẹo
thời nay vậy. Sau đó đem nung cho chín dòn rồi ăn. Người ta cắn từng miếng đất
nung này nhai rau ráu như nhai cơm cháy vậy. Tại sao ăn như thế thì có lời giải
thích cho rằng bởi khi ăn nó có cái vị riêng. Tuy cái món ăn đất này không có
hay chưa rõ có thể cung cấp một thứ dinh dưỡng gì cho cơ thể, nhưng ăn riết
cũng nghiện như nghiện thuốc lá vậy. So ra cái kiểu ăn kẹo cao su nhai đỡ buồn
ngày nay thì dân tộc mình đã có từ thời thượng cổ rồi.
Khi đọc lịch sử nếu tài liệu nói về thời tiền sử tức là thời kỳ trước khi có
chữ viết và các chứng từ lịch sử nhé các bạn.
Mến
Tran Ba Thien
tranbathien@xxxxxxxxx
----- Original Message -----
From: Nguyen Hoang Bao Vu
To: tri thuc ; ho thanh ; Hoang Nhan ; Nguyen Thanh Phuoc ; Nguyenhoangbaovu
; smcc ; thang nguyen
Sent: Wednesday, April 25, 2007 7:15 PM
Subject: [SMCC] Gio to Hung vuong ki 3
Quốc hiệu chính thức
Dưới đây là danh sách các quốc hiệu chính thức của Việt Nam theo dòng lịch sử.
Các quốc hiệu này đều được ghi chép trong các sách sử Việt Nam, hoặc được
chính thức sử dụng trong nghi thức ngoại giao quốc tế.
Văn Lang
Văn Lang ( chữ Hán
文郎) được coi là quốc hiệu đầu tiên cho Việt Nam. Quốc gia này có kinh đô đặt
ở Phong Châu nay thuộc tỉnh
Phú Thọ. Lãnh thổ gồm khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tĩnh bây giờ. Quốc gia này tồn tại cho đến năm 258 TCN.
Âu Lạc
Năm 257 TCN, nước Âu Lạc (甌雒, 甌駱, 甌貉) được dựng lên, từ liên kết các bộ lạc
Lạc Việt (Văn Lang trước đây) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán - An Dương
Vương.
Khoảng năm 208 TCN
[1],
Triệu Đà - vua nước Nam Việt - tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của
An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị xóa sổ.
Vạn Xuân
Vạn Xuân (萬春) là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi
khỏi chính quyền trung ương Trung Hoa, dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế. Nó tồn
tại từ năm 544 đến năm 602.
Đại Cồ Việt
Đại Cồ Việt (大瞿越, 大句越, 大御越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh năm
968. Nó tồn tại đến đời vua Lý Thánh Tông năm 1054.
Đại Việt
Đại Việt (大越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý.
Nó ra đời năm 1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi. Nó tồn tại không liên
tục, đến năm 1804.
Đại Ngu
Đại Ngu (大虞) là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ. Quốc hiệu Đại Việt được
đổi thành Đại Ngu năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau khi nhà Hồ bị thất
bại trước nhà Minh và nhà Hậu Lê giành lại độc lập cho Việt Nam, quốc hiệu của
Việt Nam đổi lại thành Đại Việt.
Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn (là một
trong Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ); sau này con Ngu Yên là Vĩ
Mãn được Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần gọi là Hồ Công, sau dùng
chữ Hồ làm tên họ. Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họ Hồ, con cháu Ngu Thuấn,
nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu. Chữ Ngu (虞) ở đây có nghĩa là "sự yên vui", chứ
không có nghĩa là "ngu si" (愚癡).
Việt Nam
Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long đã
đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng Nam có ý nghĩa
"An Nam" còn Việt có ý nghĩa "Việt Thường". Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với
quốc hiệu của lãnh thổ nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung
Hoa; nhà Thanh đổi ngược lại để tránh nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên
này năm 1804.
Tuy nhiên, tên gọi "Việt Nam" có thể đã xuất hiện sớm hơn. Ngay từ cuối thế
kỷ 14, đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí (nay không còn) do Hàn lâm
viện học sĩ Hồ Tông Thốc biên soạn. Cuốn Dư địa chí viết đầu thế kỷ 15 của
Nguyễn Trãi (1380- 1442) nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam". Điều này còn
được đề cập rõ ràng trong những tác phẩm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491- 1585), chẳng hạn ngay trang mở đầu tập Trình tiên sinh quốc ngữ đã có
câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Người ta cũng tìm thấy hai chữ "Việt Nam" trên
một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16- 17 như
bia chùa Bảo Lâm 1558) ở Hải Dương,
bia chùa Cam Lộ ( 1590) ở Hà Tây,
bia chùa Phúc Thánh 1664) ở Bắc Ninh...
Đặc biệt bia Thủy Môn Đình 1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: "Việt Nam
hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngõ yết hầu của nước Việt Nam và là
tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các
giả thuyết đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và
địa lý (người Việt ở phương Nam).
Đại Nam
Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi xin nhà Thanh cho phép đổi quốc hiệu Việt
Nam thành Đại Nam (大南), ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Tuy nhiên nhà Thanh đã
không chính thức chấp thuận. Khi nhà Thanh bắt đầu suy yếu, vua Minh Mạng đã
chính thức đơn phương công bố quốc hiệu mới Đại Nam vào ngày 15 tháng 2 năm
1839. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945.
Đế quốc Việt Nam
Sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, hoàng đế Bảo Đại
tuyên bố độc lập và thành lập chính phủ độc lập ngày 17 tháng 4 năm 1945, đứng
đầu là nhà học giả Trần Trọng Kim, với quốc hiệu Đế quốc Việt Nam. Trong thực
tế Nhật vẫn cai trị Nam Kỳ.
Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Nam Kỳ mới được trao trả ngày 14 tháng
8 năm 1945, nhưng 10 ngày sau đó Hoàng đế Bảo Đại thoái vị.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là tên gọi của cả nước Việt Nam từ 1945 đến 1954 và
miền Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1976.
Nhà nước này được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (ngày quốc khánh của
Việt Nam ngày nay). Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối đầu với Pháp và Quốc gia
Việt Nam được lập ra dưới cái ô của Pháp năm 1949. Trong thời kỳ 1954-1975,
chính-thể này lại phải đối đầu với Việt Nam Cộng Hoà được thành lập tại miền
Nam Việt Nam.
Nam Kỳ quốc
Nam Kỳ quốc hay Nam kỳ Cộng hòa quốc (tiếng Pháp: République de Cochinchine)
là danh xưng do chính phủ Pháp đặt ra cho vùng lãnh thổ Việt Nam phía dưới vĩ
tuyến 16. Chính quyền Nam Kỳ quốc được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1946, về
danh nghĩa là một quốc gia độc lập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Danh xưng này
tồn tại được 2 năm, sau đó lại chính quyền Nam kỳ quốc giải thể, đổi tên lại
thành Chính phủ Nam phần Việt Nam, rồi sát nhập vào chính quyền lâm thời Quốc
gia Việt Nam ngày 2 tháng 6 năm 1948.
Quốc gia Việt Nam
Quốc gia Việt Nam là danh xưng của toàn bộ vùng lãnh thổ Việt Nam, ra đời
chính thức từ Hiệp ước Elysée ký ngày 8 tháng 3 năm 1949, giữa Tổng thống Pháp
Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại. Về danh nghĩa, chính quyền thuộc khối
Liên hiệp Pháp, độc lập, đối kháng và tồn tại trên cùng lãnh thổ với chính
quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Danh xưng Quốc gia Việt Nam tồn tại trong 6
năm (1949-1955). Năm 1955, Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, giải
tán Quốc gia Việt Nam, thành lập chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Việt Nam Cộng Hòa
Việt Nam Cộng Hòa là tên gọi quốc gia được thành lập tại miền Nam Việt Nam,
kế tục Quốc gia Việt Nam (1949–1955). Năm 1955, trong một cuộc trưng cầu dân ý,
thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, thành lập chính quyền
Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền này tồn tại độc lập trong 20 năm và sụp đổ vào
năm 1975.
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là tên gọi mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam, được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn, đặt ra cho miền Nam Việt
Nam với việc thành lập một chính phủ mới để chống lại chính quyền Việt Nam Cộng
Hòa.
Danh xưng này tồn tại trong 7 năm (1969-1976), sau đó, chính quyền lâm thời
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã giải tán để hợp nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa thành một quốc gia Việt Nam thống nhất.
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa 6 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã
quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hiệu này
được sử dụng từ đó đến nay.
Các danh xưng gây tranh cãi
Dưới đây là những danh từng được dùng không chính thức để chỉ vùng lãnh thổ
quốc gia Việt Nam. Những danh xưng không chính thức được ghi nhận lại từ cổ
sử hoặc từ các tài liệu nước ngoài từ trước năm 1945.
Xích Quỷ
Xích Quỷ, còn gọi là Thích Quỷ, theo Việt Nam Sử lược là có nguồn gốc từ thủy
tổ của người Việt là Kinh Dương Vương.
Sách chép :
"Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần
thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên,
lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con
trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương
nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam
giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông
giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm nhâm tuất (2879 trước
Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi
làm vua, xưng là Lạc Long Quân."
Nam Việt
Nam Việt là quốc hiệu thời nhà Triệu (207 TCN- 111 TCN), Nói chính xác thì
đối tượng tranh cãi không phải là bản thân tên gọi Nam Việt, mà vấn đề là quốc
hiệu này có đại diện cho nước Việt Nam hay không. Thời phong kiến xem Nam Việt
chính là quốc hiệu của tộc người Việt, nhưng quan điểm chính thống ngày nay cho
rằng quốc gia Nam Việt khi đó là của người Trung Hoa. Lý do không coi Nam Việt
là của Việt Nam: Triệu Đà là người Hán, quê huyện Chân Định, nhân lúc nhà Tần
suy loạn đã nổi lên lập ra nhà Triệu, lấy quốc hiệu là Nam Việt. Các ý kiến cho
rằng quốc hiệu này là của người Việt có các nhận định của các học giả như Lê
Văn Hưu hay Ngô Sĩ Liên.
Lê Văn Hưu
nói: Đất Liêu Đông không có Cơ Tử thì không thành phong tục mặc áo đội mũ
[như Trung Hoa], đất Ngô Cối không có Thái Bá thì không thể lên cái mạnh của bá
vương. Đại Thuấn là người Đông Di nhưng là bậc vua giỏi trong Ngũ Đế. Văn Vương
là người Tây Di mà là bậc vua hiền trong Tam Đại. Thế mới biết người giỏi trị
nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu
Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi
thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có
thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế
mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải
đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc
không thể lại ngấp nghé được.
Ngô Sĩ Liên
nói: Truyện Trung Dung có câu: "Người có đức lớn thì ắt có ngôi, ắt có danh,
ắt được sống lâu". Vũ Đế làm gì mà được như thế? Cũng chỉ vì có đức mà thôi.
Xem câu trả lời Lục Giả thì oai anh vũ kém gì Hán Cao. Đến khi nghe tin Văn Đế
đặt thủ ấp trông coi phần mộ tổ tiên, tuế thời cúng tế, lại ban thưởng ưu hậu
cho anh em, thì bấy giờ vua lại khuất phục nhà Hán, do đó tông miếu được cúng
tế, con cháu được bảo tồn, thế chẳng phải là nhờ đức ư?
Kinh Dịch
nói: "Biết khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng, ngôi thấp mà không ai dám
vượt qua". Vua chính hợp câu ấy.
Hoặc vua Quang Trung sau khi đánh bại đội quân nhà Thanh năm 1789 đã có ý
định đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây với lý do đây là đất cũ của Nam
Việt thời Triệu Đà.
An Nam
An Nam là danh xưng của người nước ngoài chỉ lãnh thổ Việt Nam trong một số
thời kỳ.
Nguồn gốc danh xưng này từ thời Bắc thuộc (Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ), nhà
Đường ở Trung Quốc đã đặt tên cho khu vực lãnh thổ tương ứng với khu vực miền
Bắc Việt Nam ngày nay là An Nam đô hộ phủ (673-757 và 768-866).
Sau khi giành được độc lập, các triều vua Việt Nam thường phải nhận thụ phong
của Trung Quốc, danh hiệu An Nam quốc vương.
Từ đó người Trung Quốc thường gọi nước Việt Nam là An Nam, bất kể quốc hiệu
là gì. Cách gọi này đã ảnh hưởng đến cách gọi của người châu Âu trước năm 1945.
Thời kỳ thuộc Pháp, Annam (gọi theo tiếng Pháp) là tên gọi chỉ vùng lãnh thổ
Trung Kỳ do nhà Nguyễn cai trị dưới sự bảo hộ của Pháp. Tuy vậy, người Pháp vẫn
dùng danh xưng Annam để chỉ người Việt nói chung ở cả 3 vùng Bắc Kỳ (Tonkin),
Trung Kỳ (Annam) và Nam Kỳ (Cochinchine).
Chú thích
List of 1 items
1 Đa phần sách sử Việt Nam ( Đại Việt Sử ký Toàn thư, Khâm Định Việt Sử, Việt
Sử Tiêu Án) đều chép là An Dương Vương mất nước năm 208 TCN, nhưng Sử Ký của Tư
Mã Thiên chép là năm 179 TCN.
list end
Name: Nguyen Hoang Bao Vu
Home: 210C Hiep Binh Chanh tenement. Thu Duc district Ho Chi Minh City Viet
Nam
Home Phone: 7262214
Cell-phone: 0979878854
Yahoo ID: nguyenhoangbaovu
Skype ID: nguyenhoangbaovu
Blog: 360.yahoo.com/nguyenhoangbaovu
- Follow-Ups:
- [SMCC] Re: Gio to Hung vuong ki 3
- From: Nguyen Hoang Bao Vu
- References:
- [SMCC] Gio to Hung vuong ki 3
- From: Nguyen Hoang Bao Vu
Other related posts:
- » [SMCC] Gio to Hung vuong ki 3
- » [SMCC] Re: Gio to Hung vuong ki 3
- » [SMCC] Re: Gio to Hung vuong ki 3
- » [SMCC] Re: Gio to Hung vuong ki 3
- [SMCC] Re: Gio to Hung vuong ki 3
- From: Nguyen Hoang Bao Vu
- [SMCC] Gio to Hung vuong ki 3
- From: Nguyen Hoang Bao Vu