Duong Que Xa Lac

Đường quê xa lắc
 
TTXUÂN - Làng quê thật nghèo, heo hút nơi đồng khô 
cỏ cháy. Con đường lộ đất chạy dài 
giữa làng. Những căn nhà lá nhỏ thưa thớt 
nằm nép mình sau tre trúc,
già trẻ bé lớn ngồi đan lát, rổ rá lờ 
lọp chất đống cạnh bên.
 
Trời đã xế chiều nắng vẫn còn gắt, 
đang giữa tháng tư, thỉnh thoảng lộ ra sau 
hàng tre trúc cánh đồng chói nắng, mặt ruộng khô 
nẻ xác xơ rơm rạ. Xa tít
đường viền chân trời lô nhô những dãy núi 
xanh mờ.
 
Nam đi giữa đường làng. Một đám trẻ 
quần áo rách rưới chạy đuổi nhau làm tung 
bụi mù. Một con sông bờ dốc dựng đứng, 
chiếc cầu tre cheo leo đong đưa. Đám
trẻ leo thoăn thoắt qua cầu, cười nói rí ré. 
Nam tháo giày đi từng bước một. Ủy ban xã bên 
kia cầu, gian nhà mái tôn vách lá, mặt sân lầm bụi, 
đám trẻ
nhào vô chạy nhảy, chun qua lại giữa bầy bò.
 
Đã hết giờ làm việc nhưng vẫn còn 
người, hai ông bà già, một người phụ nữ 
bồng con, một người đàn ông chân gỗ đi 
tới lui thình thịch. Đứa nhỏ khóc ngằn
ngặt, chị phụ nữ vạch vú nó ngậm một 
chút nhả ra lại khóc, người đàn ông giậm 
chiếc chân gỗ dọa nạt, nó nhoẻn miệng 
cười rồi lại khóc.
 
Tiếp khách là người đàn ông ngồi ở bàn có 
biển đề ?phó chủ tịch?, trạc tuổi 
trung niên cười nói vui vẻ. Hai ông bà già xin chứng 
nhận giấy tờ hộ khẩu, chị
phụ nữ bồng con xin giấy khám bịnh, 
người phó chủ tịch giải quyết tất 
cả. Người đàn ông chân gỗ không xin giấy 
tờ, đến tìm đứa cháu nhân viên bỏ vợ, 
ông
đến lôi đầu nó về. Ủy ban giấu nó 
đâu, sao lần nào ông đến cũng không thấy nó? 
Người phó chủ tịch cười nói giấu làm gì 
giấu làm gì, ai giấu chi thằng bỏ
vợ.
 
Nam bước lên nói anh không xin giấy tờ, ở thành 
phố lặn lội mấy ngày trời về đây 
chỉ để thăm nhà một người...
 
Nam cố không lên giọng, tuy thấy nghẹn ở 
cổ. Hơn hai mươi năm anh chờ giây phút này, 
về đây tìm nhà người bạn thân, một 
chiến sĩ có công trạng, hồi ở đơn
vị Nam viết bản báo công cho anh ấy, anh ấy hi 
sinh Nam gần như độc quyền nắm giữ 
những tư liệu quí giá. Sau ngày hòa bình Nam viết 
nhiều bài báo, đi đây
đó nói chuyện, giờ về quê hương heo hút này 
nghe bà con kể chuyện thời thơ ấu của anh 
ấy, và chính Nam cũng có nhiều chuyện để 
kể, những giây phút hào
hùng, những ngày tháng gian lao khổ cực.
 
Nhưng có vẻ Nam không được chờ đón 
nồng nhiệt. Hai ông bà già đang cần giấy tờ 
chứng nhận. Người phụ nữ bồng con 
cũng vậy. Ông chân gỗ đang cáu giận đứa
cháu bỏ vợ, bắt đầu sinh sự tranh cãi. 
Thừa lúc mọi người ngưng một chút Nam chen 
vào nói tên họ người bạn, phiên hiệu đơn 
vị, năm được phong danh hiệu,
rằng anh muốn đến thăm nhà... Người phó 
chủ tịch trố mắt nhìn Nam như chưa hiểu 
ra:
 
?Cái gì? Ở đâu? À phải rồi, nhà anh ấy 
đằng kia nhưng không còn gì đâu. Bà má chết từ 
lâu, người chị lấy chồng xa, người 
ở nhà không biết bà con như thế
nào, mẹ con anh ấy ở đậu nhà người ta. 
Ở nhà anh ấy tên Đực, hồi nhỏ chăn trâu 
dở ẹt, gặt lúa đập lúa cũng dở, không 
hiểu sao đi bộ đội lập được 
công như
vậy?.
 
?Anh ấy được phong danh hiệu có huy 
chương loại cao - Nam nói - Chính tôi là người làm 
bản báo công?.
 
?Phải rồi, mỗi người mỗi việc?, 
người phó chủ tịch nói, cốt cho vui.
 
?Như tôi đây chỉ có ký tên?.
 
Nam thấy chán nản mệt mỏi. Hơn hai mươi 
năm chờ đợi bỗng thấy hụt hẫng. 
Cũng lâu quá rồi, cuộc sống vẫn phải 
tiếp tục, anh chỉ là người ở xa ghé qua.
 
Nam ra ngồi ngoài sân, chút sau người phó chủ tịch 
đi ra xoa tay cười:
 
?Xong rồi, mệt quá! Thôi để tôi đưa anh 
đến nhà anh ấy, cũng nên ghé qua một chút, đã 
tới đây rồi. Rồi về nhà tôi ngủ, tối 
rồi còn đi đâu nữa?.
 
Nam ôm đít người phó chủ tịch trên chiếc xe 
gắn máy chạy lọc xọc hết con 
đường làng, tiếp tục băng đồng, 
theo con đường mòn nhỏ đầy những cây 
hoang cỏ dại.
Rồi không thấy đường đâu nữa, xe 
chạy bừa qua những bãi cát bờ đất khóm sim 
khóm mua mọc lưa thưa, đổ xuống lòng con 
suối cạn, leo lên bờ dốc dựng đứng.
Nhà người bạn chiến đấu như ở 
tận cùng trời cuối đất. ?Đây rồi?, 
người phó chủ tịch nói, xe vẫn chạy, lên 
xuống lồi lõm, một căn nhà lá nhỏ hiện ra 
dưới
triền dốc, xe chạy đâm sầm vào dừng 
lại ở sân. Trong nhà có nhiều người già trẻ 
bé lớn, mấy đứa nhỏ chạy đến nhìn 
tận mặt. Nam nói mấy lời thăm hỏi, bà
già ngồi trong góc tối nói vọng ra:
 
?Đây không phải nhà thằng Đực, má con nó không có 
nhà ở đậu nhà tụi này. Rồi thằng 
Đực đi hoang, con chị đi lấy chồng, má 
nó bị bịnh nằm liệt giường tụi
này phải nuôi, mấy năm sau má nó chết tụi này chôn 
cất, có bàn thờ kia...?.
 
Im lặng một lúc rồi bà già nói tiếp:
 
?Thằng Đực hồi nhỏ ở đây đi 
chăn trâu, làm lò rèn, lò gạch, đập đá, gặt 
đập lúa, làm đủ chuyện, một dạo đi 
len trâu rồi lại đi đập đá. Nó chỉ có 
đập đá
là giỏi, dang sức ra mà đập, nhiều chuyện 
khác chẳng nên thân gì. Nó cũng không nuôi má nó ngày nào, đi 
đập đá không thấy gởi tiền về, 
lần cuối cùng đập
đá trong hẻm núi rồi đi luôn. Rồi con chị 
đi lấy chồng, má nó bịnh tụi này phải 
tốn tiền thuốc, không phải bà con họ hàng 
cũng người ở chung nhà...?.
 
Ngưng một chút rồi bà già tiếp tục:
 
?Nghe tin thằng Đực có mề-đay công trạng nhà 
này mừng lắm, không phải bà con họ hàng cũng 
mừng. Nhưng rồi mấy năm sau có tốp cán 
bộ đến ngó căn nhà bàn
chuyện làm nhà tưởng niệm, tụi này sợ quá, 
nói không phải đâu mấy ông ơi, đây không phải 
nhà thằng Đực, má con nó ở đậu nhà tụi 
này, nó bỏ đi chị nó đi
lấy chồng, má nó bịnh tụi này phải nuôi, 
chết tụi này phải chôn, mấy ông lập bàn thờ 
thì được, làm nhà tưởng niệm không 
được...?.
 
Bà già thò đầu ra nhìn Nam dò xét:
 
?Ông đến đây làm chi? Có định lấy nhà 
tụi này làm nhà tưởng niệm không??.
 
Nam chào từ giã ra đi, ôm đít người phó chủ 
tịch về nhà. Nhà có khách năm bảy người, 
đám thôi nôi đứa cháu ngoại, khách ngồi hai bên 
chiếc bàn tre giữa
sân, có cả ông chân gỗ ở đó, không biết 
được mời theo kiểu nào. Nam được 
mời ngồi vào đầu bàn, được giới 
thiệu ?đồng chí trên về?, mấy đứa 
nhỏ chạy tới
nhìn tận mặt. Thức ăn dọn ra, vài dĩa 
đồ xào thịt trâu luộc, cá nướng chấm 
muối, rau rừng để trên mặt bàn.
 
Chủ nhà bồng đứa con trai ở truồng đen 
thui đi vòng quanh, mọi người nựng nịu 
đứa nhỏ chòi đạp la hét. Cuộc tiệc 
bắt đầu, rượu rót ra uống chuyền 
từng đôi,
người này người kia kể chuyện đám 
khỉ trên núi xuống phá rẫy, chuyện một bà góa có 
chửa, bà mẹ chiến sĩ ở một mình không ai 
nuôi. Ông chân gỗ nói chuyện
đứa cháu bỏ vợ. Nam ngồi lọt thỏm 
giữa mọi người, không có chuyện gì để 
kể, không ai chú ý tới, đầu óc mông lung không một 
ý nghĩ.
 
Cuộc tiệc kéo dài, rượu lạt uống nhiều 
cũng nóng mặt, Nam không còn mong gì, cố gắng ngồi 
tàn cuộc tiệc ngủ một chút sáng ra về. Nhưng 
cuộc tiệc vẫn kéo
dài, người ta lại nói chuyện mùa màng thời 
tiết đan lát. Có ai đó nói chuyện xây một cây 
cầu. Ông già choàng dậy ngơ ngác: ?Cầu nào? Ai xây 
cầu??.
 
Mọi người cười rộ: ?Xây cầu cho ông 
đi học, ông già ơi! Trường học bên kia kìa?.
 
Một người đàn ông tuổi trung niên vấn 
khăn rằn sấn sổ đi vào chống nạnh tay, 
xưng tên Tư Cò cất giọng oang oang: ?Ai muốn nghe 
chuyện thằng Đực? Tôi là
anh nó đây, không bà con họ hàng cũng là anh, là 
người bảo ban nó mọi việc.
 
Tôi nói: mày len trâu không nên thân, đếm sừng trâu còn không 
biết, gặt lúa đập lúa cũng dở, làm thợ 
rèn thợ mộc không có tay nghề, mày chỉ có sức 
đi đập
đá là tốt. Nó nghe lời tôi đi đập đá, 
mỏ đá bên kia dãy núi, tôi đi theo cầm tay chỉ 
từng chút một, cách quai búa cách giật khuỷu tay, 
vậy rồi ngay ngày
đầu tiên nó đập què chân thằng 
cặp-rằng...?.
 
Tư Cò uống liền hai ly rượu, càng lúc càng 
lớn tiếng: ?Nó đập đá suốt ngày tối 
đến đi mò gái. Đúng ra con gái mò nó. Cũng không 
phải con gái, là mấy mụ
góa. Xứ này những năm đó con gái góa nhiều 
lắm, công việc nổ đá bắn đá đàn ông 
bị đá văng trúng dập đầu gãy cổ 
chết là thường, các bà vợ góa nhiều khi
chưa quá hai mươi. Thằng Đực suốt ngày 
gục đầu gò lưng đập đá, đám vợ 
góa qua lại mê lưng và vai nó. Nó không phải là thằng 
ham gái, cũng không dại gái,
chỉ tội nhẹ dạ.
 
Đám vợ góa nói chuyện dai nhách, rù rì rủ rỉ, nói 
gì nó nghe nấy, nó có tình yêu bao la yêu được 
nhiều đàn bà. Nhưng rồi có chuyện các bà đánh 
ghen khiến
nó phải bỏ đi...?. ?Đi bộ đội??, Nam 
hỏi. ?Không. Đi sang mỏ đá khác, tôi lại đi 
theo kèm cặp chỉ bảo nó, mừng không thấy có 
chuyện đàn bà góa nữa, con
gái tơ cũng không. Nó có vẻ tu tỉnh, ăn uống 
đạm bạc, để dành tiền gói kỹ trong 
miếng giấy báo.
 
Vậy rồi một hôm nó đem cúng hết cho một nhà 
chùa, phát thệ đi tu. Trên đỉnh núi có một ngôi 
chùa, nó tu hành thành tâm lắm, thức khuya dậy sớm gõ 
mõ tụng
kinh. Một buổi sáng mỏ đá chuẩn bị cho 
nổ đá, bỗng thấy một hàng dài nhà sư áo cà sa 
vàng rực đi từ trên đỉnh núi xuống, đi 
đầu là thằng Đực, quần áo đập
đá rách bươm, nón lá sùm sụp.
 
Hàng người tới chỗ nổ đá thì dừng 
lại. Vậy là biểu tình đây, phản đối 
chuyện phá đá động đến chùa chiền 
thần linh, đầu trò là thằng Đực?. Cuộc 
tiệc tàn
mọi người ra về. Nam được cấp 
chiếc võng ngủ ngoài hàng hiên. Trời lạnh không 
thể ngủ được, rạo rực mãi những 
hồi ức xưa cũ. Có tiếng động, ông chân 
gỗ
hiện ra lập bập điếu thuốc cháy 
đỏ.
 
?Tôi biết chuyện biểu tình đó?, ông chân gỗ nói, 
lót dép ngồi cạnh đầu võng. ?Để tôi kể 
tiếp anh nghe. Thằng Đực bị bắt liền 
sau đó, bị nghi ?làm chính
trị?, tuy chỉ trò ngông quậy phá của nó thôi. Xưa 
nay người ta vẫn tu hành vẫn phá đá làm 
đường xây nhà, mắc mớ gì lôi sư sãi sắp 
hàng xuống núi như vậy.
Tôi dạo đó chăn trâu cho một lão địa 
chủ, có chuyện rắc rối với bầy trâu, 
bị tù gặp nó trong tù.
 
Tôi hỏi: ?Có đúng mày muốn đi tu không??.
 
Nó cười không đáp, vẫn gò lưng đập 
đá, không thấy có động tịnh gì, rảnh 
rỗi liên hệ với sư sãi trên chùa hốt thuốc 
cho người bịnh, người trong tù cũng như
ngoài tù. Cánh nhà chùa ngày càng thêm tin tưởng nó, sư sãi 
xuống núi vào trại thăm nó, tới giờ cơm cùng 
ăn, bằng lòng một lần ngả mặn. Rồi 
xảy ra một
chuyện. Trại tù không nghiêm ngặt lắm trong 
chuyện canh giữ, rừng núi hoang vu chẳng trốn 
đi đâu, thằng Đực giỏi dụ sư sãi 
cũng giỏi tán tỉnh đám cai tù,
đập đá suốt ngày, chiều đến nó xin phép 
đi đâu đó, giường ngủ của nó cạnh 
giường tôi thường khi trống không.
 
Nó xuống núi vào xóm mua trâu về xẻ thịt bán lại 
cho đám cai tù, buôn thêm vải vóc kim chỉ, mật ong và 
khô dê, rượu trắng và đường thốt 
nốt. Rồi nó tuyên
bố lập quán, bữa trước bữa sau thấy 
căn nhà mọc lên ở ngã ba đường, phía 
trước có sạp bày hàng, phía sau có buồng ngủ rèm 
che, một cô gái trẻ bận áo ngắn
đầu trùm khăn vuông tươi cười đi 
tới lui, thằng Đực lăng xăng ra vào bưng 
bê sắp xếp.
 
Rồi mấy hôm sau nghe tin ngôi chùa trên núi biến mất 
một cô vãi, rằng chính cô chủ quán đầu trùm 
khăn vuông ấy, không tin giở chiếc khăn vuông ra 
coi. Vậy
là có chuyện thằng Đực dụ dỗ cô vãi hoàn 
tục, nhà chùa nổi giận chấm dứt việc 
xuống núi nấu thuốc tụng kinh, nghe đâu còn 
đâm đơn kiện tụng. Nhưng chính
quyền sở tại, bọn lính cai tù bắt đầu 
ham vui với chiếc quán và cô chủ quán, bỏ ngoài tai coi 
như không nghe thấy.
 
Tôi lúc đó cũng mãn hạn tù, chẳng vì chuyện 
mượn tạm mấy con trâu mà ở tù mãn kiếp, 
không biết đi đâu tôi chuyển sang đập đá 
cho mỏ đá, tháng tháng lãnh
lương đem cúng hết cho quán thằng Đực. 
Cuộc biểu tình sư sãi của nó đã có kết 
quả, tuy chậm mất hơn năm, mỏ đá 
chuyển qua hướng khác, ngôi chùa được yên
bề tụng niệm.
 
Chuyện cô vãi hoàn tục cũng đi vào quên lãng, tóc đã 
mọc lại rồi chẳng mất công giở khăn 
vuông ra coi làm gì. Nhưng một hôm thằng Đực 
biến mất vào trong
hẻm núi không thấy ra nữa. Trong đó nghe nói 
đầy những hang hốc, thằng Đực hẳn 
đã thăm dò từ lâu, nó biến mất cùng nhóm bạn 
tù chính trị, cô chủ quán cũng
bỏ đi luôn.
 
Vậy là đã có kế hoạch từ trước. 
Bọn lính tỏa đi bao khắp quanh núi chặn hết 
các ngõ ngách, đốt lửa hun khói vào các hang hốc, ba 
ngày sau thằng Đực thò
đầu ra, đầu tóc quần áo nám khói, cánh chính 
trị biến mất luôn không biết theo ngõ ngách nào, cô gái 
cũng bặt tăm. Thằng Đực chuyển sang tù 
cấm cố và tôi
bặt tin nó từ đó...?.
 
Sáng sớm Nam bám đít xe người phó chủ tịch 
trở về văn phòng ủy ban nhờ người 
đưa ra lộ đón xe về thành phố, rề rà mãi 
lại thấy có người phụ nữ đến tìm.
Đó là chị của anh ấy, người đàn bà 
luống tuổi trông gian lao dầu dãi, ăn bận nâu 
sòng, vẻ bận rộn gấp rút, chưa ngồi 
xuống đã kể một thôi dài:
 
?Thằng Đực ở tù cấm cố, ban đầu 
không dính líu gì với đứa con gái bán quán, lôi con nhỏ 
xuống núi mở quán chỉ muốn con nhỏ có cơ 
ngơi lấy chồng sanh con.
Sau đó nó tổ chức nhóm tù trốn trại, bị 
bắt bị tù cấm cố, con nhỏ đi thăm nuôi 
một dạo hai đứa thương nhau, tổ 
chức lễ cưới, thằng trong tù cưới con 
ngoài
tù. Rồi chúng có con, thằng Đực chuyển sang 
đập đá, chân bị xiềng, từ mỏ đá 
này sang mỏ đá khác, con nhỏ ôm con đi theo mở quán 
cạnh trại tù. Một lần tôi
ghé quán thăm hai má con, thằng con trai to đùng cứ 
đập tay vào mặt tôi, trên đường về tôi 
hay thằng Đực lại trốn trại, lần này 
mọi việc suôn sẻ, do có
tổ chức chu đáo từ bên ngoài...?.
 
Người đàn bà ngưng một chút rồi nói 
tiếp, có vẻ đây mới là điều chính yếu: 
?Chuyện thằng Đực là như vậy. Giờ nó 
đã chết rồi, má tôi cũng chết, chỉ còn mình
tôi sống cực khổ, cả đời vất vả 
không nên thân, nhà cửa không có, không biết công trạng 
thằng em tôi có giúp tôi được gì không??.
 
?Giúp gì??, Nam hỏi.
 
?Xin căn nhà chẳng hạn, kiểu nhà tình nghĩa 
ấy. Cả đời má tôi rồi chị em tôi không có 
nhà, đến giờ cũng vậy, tôi chỉ cần có 
căn nhà nhỏ lập bàn thờ em tôi
má tôi, anh xin giùm được không??.
 
Buổi trưa nắng đổ lửa. Người phó 
chủ tịch chở Nam ra lộ đón xe, thở phì phò 
một lúc rồi nói: ?Anh thấy xã tụi này nghèo quá không? 
Thấy cây cầu cheo leo
kia không? Thương đám trẻ quá, ngày nào cũng leo qua 
lại, anh về thành phố viết bài báo nói khéo xin cho 
tụi này cây cầu được không??.
 
?Được tôi sẽ nói, tôi sẽ viết...?.
 
Nam thấy giờ đây đó là điều chính yếu, 
những việc bình thường với những con 
người bình thường. Chuyện xưa đã qua lâu 
rồi. Những người dân ở đây không hề
quên người chiến sĩ của họ, nhớ 
như in không sót chuyện nào. Nhưng họ còn phải 
sống, và trước tiên họ muốn người 
chiến sĩ của họ cũng giống như họ, 
cũng
là người bình thường.
 
Truyện ngắn của LÊ VĂN THẢO

                        
---------------------------------
 Yahoo! Autos. Looking for a sweet ride? Get pricing, reviews, & more on new 
and used cars.

Other related posts: