[SMCC] DanCaTaiTuNamBo

Đờn ca tài tử 
Nhạc thính phòng là một thể loại nhạc gồm các bài hát hoặc bản đàn được biểu 
diễn trong phòng khách tại tư gia hay trong một phòng nhỏ. Nhạc thính phòng Tây 
phương bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ thứ 16 ở châu Âu, đặc biệt là ở Ý và Anh, 
do những nhóm nhỏ các nhạc sĩ, ca sĩ chuyên trình bày các bài hát [1]
rồi sau đó được phổ biến và phát triển tới việc trình tấu các bản đàn. Tại Việt 
Nam, từ thế kỷ thứ 10, dưới các triều vua Lê và Đinh đã xuất hiện những buổi ca 
múa trong cung đình, đền miếu, hoặc hội họp tại tư thất các quan tướng. Chính 
hình thức ca múa này đã làm nền tảng cho âm nhạc “thính phòng” Việt Nam ngày 
nay [2].
Tựu trung, âm nhạc thính phòng Việt Nam bao gồm ca trù, ca Huế và đờn ca tài 
tử, phát triển mạnh từ đầu thế kỷ thứ 20. Điểm khác biệt chính yếu giữa nhạc 
thính phòng Việt Nam và dân ca Việt Nam là: nhạc thính phòng gồm những tác phẩm 
(có khi được ký âm) mà người trình diễn cũng như người thưởng thức phải được 
huấn luyện để có thể sử dụng các nhạc cụ, trình bày tác phẩm, cũng như hiểu 
biết về thi ca [3] ; trong khi dân ca mang tính cách tự phát, tự diễn
trong lúc lao động hoặc giải trí. 
Đờn ca tài tử (còn gọi là nhạc tài tử) được phát triển chủ yếu tại miền Nam 
Việt Nam. Thuật ngữ tài tử có thể hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, tài tử là 
những người tài năng (talent), những bậc thầy tham gia trình diễn; thứ hai, tài 
tử là những người nghiệp dư (amateur), gồm cả những bậc thầy - nhưng không
lấy đó làm kế sinh nhai - tham gia biểu diễn (music of the amateurs)[4] . 
Nền tảng của đờn ca tài tử chính là nhạc lễ (còn gọi là nhạc ngũ âm), một loại 
nhạc được phát triển vào thế kỷ thứ 17 dựa trên nhạc tế tự cung đình Huế và âm 
nhạc của các tỉnh Nam Trung bộ. Nhạc lễ trở nên thịnh hành ở miền Nam vào cuối 
thế kỷ 19, phục vụ chính yếu cho các lễ hội tại địa phương. Các ban nhạc lễ lúc 
bấy giờ thường gồm có các nhạc cụ gõ và dây kéo vĩ. Do nhu cầu phục vụ cho các 
tang lễ về khuya, nhạc lễ cần phải chơi với âm lượng nhỏ theo yêu cầu của gia 
chủ. Từ đó các ban nhạc lễ được tổ chức một cách gọn nhẹ hơn và bắt đầu dùng 
song lang thay cho trống nhạc để giữ tiết tấu, cũng như bỏ
bớt các nhạc cụ dây kéo vĩ để chỉ còn có đàn cò [5] . 
Những ban nhạc lễ nhỏ gọn như vậy còn có tên gọi là nhóm đờn cây. Kể từ năm 
1885 trở về sau, các nhóm đờn cây này được gọi là ban đờn ca tài tử để phân 
biệt với các ban nhạc lễ và nhạc hát bội đang thịnh hành song song [6] . Một 
điểm khác biệt khác giữa nhạc tài tử và nhạc lễ là sự có mặt của ca sĩ. Do vậy 
ngoài việc hòa đàn với nhau, ban nhạc tài tử còn tham gia việc đệm đàn cho ca 
hát [7] . Mặt khác, các ban nhạc tài tử dần dần không đàn cho đám tang
nữa, trừ những trường hợp rất đặc biệt. Đối tượng phục vụ mới là những đám vui 
như đám ăn tân gia, đám cưới nhà giàu, đám thăng quan tiến chức, hoặc đám giỗ 
lớn [8] . 
Đầu thế kỷ thứ 20, đờn ca tài tử trở thành một phong trào ca nhạc phổ thông tại 
miền Nam, nhất là tại các địa phương như Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Đước 
(Long An), Cái Thia (Mỹ Tho), và Sài Gòn, v.v.. Các nhóm tài tử khối miền Đông 
(ở vùng Sài Gòn - Chợ Lớn và phụ cận) , và nhóm tài tử khối miền Tây
(ở Vĩnh Long và Sa Đéc) cũng được hình thành. Đứng đầu nhóm tài tử khối miền 
Đông là ông Nguyễn Quang Đại tức Ba Đợi, một nhạc sư từ triều đình Huế vào sống 
ở Cần Đước cùng với các nghệ sĩ khác như Cao Huỳnh Cư và Cao Huỳnh Điểu. Riêng 
nhóm tài tử khối miền Tây có ông Trần Quang Quờn tức Ký Quờn người Huế vào sống 
ở Vĩnh Long làm thủ lĩnh cùng với các nghệ nhân Trần Quang Diệm, Nguyễn Liên 
Phong và Nguyễn Tư Ba người gốc Quảng Nam. 
Các nghệ nhân này là những nhà tiên phong trong những cố gắng biên soạn, sáng 
tác và giảng dạy nhạc tài tử theo phong cách riêng của mình. Các ấn bản nhạc 
tài tử bắt đầu xuất hiện vào năm 1909. Riêng trong những thập niên 60 và 70, 
nhạc tài tử được các hãng đĩa phát hành rộng rãi trong và ngoài nước như hãng 
Béka, Ocora, Pathé, Việt Hải, Hồng Hoa, Marconi, và Odéon..v.v.. Từ đó nhiều 
danh ca, danh cầm được nhiều người biết đến. Tuy nhiên, ít thấy có những trường
hợp đưa nhạc tài tử lên sân khấu trình diễn như thể loại âm nhạc thính phòng 
phương Tây[9] . 
So với các loại nhạc thính phòng khác của Việt Nam và phương Tây, trong nhạc 
tài tử, vai trò của những người đàn và hát là ngang nhau. Ca sĩ trong ca trù và 
ca Huế thường là phụ nữ, nhưng trong nhạc tài tử, ca sĩ nam và nữ đều có vai 
trò ca hát bình đẳng. Dàn nhạc của đờn ca tài tử có nhiều nhạc cụ hơn dàn nhạc 
của ca trù và ca Huế . Các nhạc cụ sử dụng trong nhạc tài tử thường có đàn 
tranh, cò, kìm, gáo, độc huyền, song lang, và ống tiêu ..v.v.. Khoảng từ
năm 1920, đàn guitar phím lõm (hay “lục huyền cầm” hoặc chỉ gọi đơn giản là 
“ghi-ta”), hạ uy cầm, và violon (hay vĩ cầm) cũng được thêm vào trong ban nhạc 
[10] . 
Khi biểu diễn nhạc tài tử, các nghệ sĩ thường chú trọng đến sự kết hợp của các 
nhạc cụ có âm sắc khác nhau; ít thấy có sự kết hợp giữa các nhạc cụ cùng âm 
sắc. Thường thấy nhất là song tấu đàn kìm và đàn tranh - là sự kết hợp giữa 
tiếng tơ và tiếng sắt - mà giới chuyên môn gọi là sắt cầm hảo hiệp; hoặc tam 
tấu đàn kìm-tranh-cò, kìm-tranh-độc huyền, tranh-cò-độc huyền với từ chuyên môn 
là tam chi liên hoàn pháp [11] . Nếu một ban nhạc có 3 nhạc công và
1 ca sĩ thì được gọi là ban tứ tuyệt, nếu có 4 nhạc công và 1 ca sĩ thì gọi là 
ban ngũ tuyệt. 
Một điểm đặc biệt của nhạc tài tử là lối đàn ngẫu hứng - tương tự lối chơi ngẫu 
hứng trong nhạc jazz của Mỹ. Ở đây, người nghệ sĩ dựa trên bài bản truyền thống 
để thêm thắt những nhấn nhá, luyến láy của riêng mình một cách rất tinh tế dựa 
trên hơi và điệu của những chữ nhạc chính, nhưng đồng thời phải hòa hợp với 
những nghệ sĩ cùng diễn khác. Chính vì thế mà mỗi lần nghe lại cùng bản đàn, 
khán thính giả luôn luôn thấy mới lạ và hài hòa. Có lẽ phần ngẫu hứng
nhiều nhất trong nhạc tài tử là ở phần rao của người đàn hoặc nói lối của người 
ca. Người đàn dùng rao - hoặc người ca dùng nói lối - để lên dây đàn và nhất là 
với mục đích gợi cảm hứng cho bạn diễn, tạo không khí cho dàn tấu, và chuẩn bị 
hình tượng âm nhạc cho người thưởng thức [12] . Ngoài ra, khi trình
tấu, các nghệ sĩ cũng có thể dùng tiếng đàn của mình để "đối đáp" hoặc "thách 
thức" với người đồng diễn. Chính vì vậy mà nhạc tài tử luôn luôn sinh động và 
hấp dẫn người nghe. 
Đờn ca tài tử có một số lượng bài bản rất phong phú và đa dạng. Ngoài việc sử 
dụng một số bài bản trong nhạc lễ, còn có các bài bản từ ca Huế, dân ca miền 
Trung, miền Nam, và cả một số lượng lớn do các nghệ nhân bậc thầy sáng tác và 
cải biên. Do đặc tính ngôn ngữ và sinh hoạt riêng của người miền Nam mà nhạc 
miền Trung đã được phát triển đặc biệt trong nhạc tài tử[13] . Ví dụ bài Bình 
Bán của ca Huế được phát triển thành Bình Bán Vắn trong nhạc tài tử, Lưu Thủy 
Huế thành Lưu Thủy Đoản, Kim Tiền Huế thành Kim Tiền Bản, Phú Lục Huế thành Phú 
Lục Chấn, hoặc Bình Bán Huế thành Bình Bán Chấn..v.v.. Các bài bản phổ biến 
nhất trong nhạc tài tử là 20 bài bản tổ (còn gọi là nhị thập huyền tổ bản) 
thuộc hai điệu Bắc và điệu Nam [14] . 20 bài bản tổ gồm có 7 bản lễ, 6 bản Bắc, 
3 bản Nam và 4 bản Oán. Tương truyền rằng các bài bản này do ông Ba Đợi đúc kết 
và được xem như là những bài căn bản cho những người bắt đầu bước vào lĩnh vực 
nhạc tài tử. Một trong những bài bản nổi tiếng trong đờn ca tài tử là bản Dạ Cổ 
Hoài Lang - nghĩa là đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng - do nhạc sĩ Cao Văn 
Lầu tức Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác vào năm 1917 [15] . Dạ Cổ Hoài Lang là bài 
hát được phát triển dựa trên bài Hành Vân của ca Huế. Lời ca của bài hát này 
được sửa nhiều lần bởi các nghệ sĩ như cô Ba Vàm Lẻo, ông Nguyễn Tử Quang, ông 
Trịnh Thiên Tư[16] và được nhiều người yêu thích. Về sau, Dạ Cổ Hoài Lang được 
đổi tên là Vọng Cổ Hoài Lang, rồi được đơn giản hóa thành Vọng Cổ [17] . Từ năm 
1945, ông Giáo Thinh tức Nguyễn Văn Thinh, một nhạc sư có uy tín tại Sài Gòn, 
đã đúc kết và phổ biến một hệ thống mới gọi là 72 bài bản cổ nhạc miền Nam (còn 
gọi là thất thập nhị
huyền công). Theo đó, một nghệ nhân được công nhận là bậc thầy nếu biết hết 20 
bài bản tổ; và để đạt mức cao siêu hơn, nghệ nhân đó cần biết hết 72 bài bản 
này[18] . 
Nhạc tài tử được phát triển mạnh ở miền Nam một phần là nhờ có khá nhiều lò dạy 
được mở ra ở khắp lục tỉnh và Sài Gòn. Đầu tiên, chỉ có những gia đình khá giả 
mới đủ tiền mời thầy ở các tỉnh khác về nhà để dạy. Vào những năm của thập kỷ 
40 và 50, các lò dạy mới bắt đầu phổ biến, nhất là tại Sài Gòn, do
các nghệ sĩ từ tỉnh lên phụ trách. Những lò nổi tiếng thời bấy giờ như các lò 
của nghệ sĩ Chín Phàng (từ Long An), Hai Đậu (từ Tiểu Cần, Trà Vinh), Năm Lòng 
và Năm Được (từ Cần Giuộc). Các lò lớn nhất, nhiều uy tín, và đào tạo nhiều 
danh ca danh cầm nhất có thể kể đến là lò Văn Giỏi và Tấn Đạt [19] . Các nghệ 
nhân nổi tiếng như Sáu Thới, Năm Xem, Ba Đồng, Út Lăng, Tư Huyện, Tư Tụi, Sáu 
Thoàn, Văn Vĩ, Mười Đờn, Năm Vinh, Ba Trung, Sáu Xiếu và Nguyễn Văn Thinh cũng 
có nhiều đóng góp cho việc phát triển này . 
Trong những năm gần đây, chính quyền địa phương các tỉnh và huyện ở miền Nam đã 
cố gắng khôi phục lại các lớp dạy đờn ca tài tử cũng như tổ chức các liên hoan 
đờn ca tài tử cấp tỉnh hoặc liên tỉnh. Ở hải ngoại cũng đã và đang có nhiều cố 
gắng khôi phục lại thể loại nhạc thính phòng này của Việt Nam; nhưng hầu hết 
vẫn còn rời rạc và thiếu sự bảo trợ về mặt tổ chức cũng như tài chánh v.v.. 
Do chịu ảnh hưởng của sự du nhập nhạc Tây phương, các phương tiện thông tin 
hiện đại và một số nhận thức sai lạc của người dân về đờn ca tài tử nên thể 
loại nhạc thính phòng đặc sắc của Việt Nam này đang mất dần tính chính thống. 
Nhiều nơi đã thay đổi không gian thính phòng của đờn ca tài tử để diễn viên hòa 
nhạc và hòa ca trong không gian sân khấu - nơi mà người nghe và người diễn bị 
tách biệt. Nhiều chương trình nặng phần trình diễn, chú trọng nhiều đến
phần ca hơn là hòa đàn. Thậm chí người ca hoặc người đàn còn học thuộc lòng các 
bài bản ký âm theo phương Tây một cách chi tiết; và do đó làm mất đi tính ứng 
tác, tính ngẫu hứng đặc trưng của nghệ thuật đờn ca tài tử truyền thống. 
Mặc dù về mặt thang âm điệu thức giữa âm nhạc cải lương [20] và âm nhạc của đờn 
ca tài tử không có ranh giới rõ rệt [21] , nhưng với cùng một làn điệu, cùng 
một bản đàn, lối ca và hòa tấu nhạc tài tử có một số khác biệt với lối ca và 
hòa tấu nhạc trên sân khấu cải lương. Do không bị hạn chế vào việc diễn xuất và 
kịch bản sân khấu, người nghệ sĩ của nhạc tài tử có nhiều thuận lợi hơn trong 
việc ứng tác và chơi ngẫu hứng. 
Xuất phát từ việc nhận thức được tầm quan trọng của nhạc đờn ca tài tử trong 
nền âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung, ngày 
nay đã có khá nhiều nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học ở trong và ngoài nước đang 
tìm cách sưu tầm và hệ thống hóa các bài bản của nhạc tài tử, nghiên cứu thang 
âm điệu thức, phương pháp ký âm ..v.v.. Một số nhạc sĩ cũng đang tìm cách sáng 
tác thêm các bài bản mới để góp phần vào số lượng bài bản đang thịnh hành hiện 
nay.

ĐÔI NÉT VỀ ĐỜN CA TÀI TỬ
GSTS Trần Văn Khê -
Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở Nam bộ. Các nhạc 
sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đã đem theo 
truyền thống Ca Huế. Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng 
Nam, từ đó tiếng đờn giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng. Nhưng 
khi vào đến miền Nam thì tiếng đờn miền Trung đã thay đổi rất nhiều, thậm chí 
một số bài bản tuy mang cùng tên mà nét nhạc đã khác xa. Bản chất phóng khoáng 
của con người và nếp sống tại miền Nam khiến cho các bài bản không còn y khuôn 
bản gốc ngày xưa. 
Người đờn người ca không muốn giữ nguyên si như thầy đã dạy mà luôn có đôi nét 
thêm thắt, thay đổi, tô điểm, đưa một chút ta hòa vào trong chúng ta khiến 
những bài bản đậm đà thấm thía hơn. Mặt khác, do lòng luôn luôn thương nhớ cội 
nguồn nên các điệu các hơi của đờn ca tài tử đều phảng phất nỗi buồn và được 
người mộ điệu ưa thích.
Có người cho rằng chữ “tài tử” có nghĩa là không chuyên nghiệp, không phải nhà 
nghề. Nhưng thật ra ý nghĩa chữ “tài tử” ở đây là “người có tài” như trong câu 
dập dìu tài tử giai nhân (Kiều). Ngoài ra, “tài tử” còn ám chỉ việc không lấy 
đó làm nghề, không dùng tiếng đờn giọng hát làm kế sinh nhai mà chỉ để giải 
trí, để gởi gắm tâm sự riêng, hay cùng với bạn đồng điệu hòa đờn cho người mộ 
điệu thưởng thức. 
Nhưng không phải vì vậy mà những người đờn ca tài tử có trình độ nghệ thuật 
thấp. Ngược lại họ thường tập luyện rất công phu, phải theo thầy học từ chữ 
nhấn, chữ chuyền, phải rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và tạo cho mình một 
phong cách riêng. Vì vậy muốn trở thành một người đờn ca tài tử đúng nghĩa phải 
trải qua một thời gian luyện tập khá công phu.
Dàn nhạc tài tử sử dụng đờn kìm và đờn tranh, thường thì lựa tiếng thổ hòa với 
tiếng kim, mà nếu có thêm cây đờn cò thì càng hay. Có thể thêm đờn độc huyền, 
đờn tỳ bà, đờn tam. Ống sáo, ống tiêu thường dùng trong các bài buồn như Tứ đại 
oán hay Văn thiên tường. Và đặc biệt là song lang (có nghĩa là hai thanh tre 
già) dùng để gõ vào nhau khi câu nhạc đến nhịp quan trọng. 
Đờn tài tử mở đầu với những câu “rao” để thử dây đồng thời thử đờn, giống như 
kỵ mã trước khi cưỡi ngựa ngồi ướm thử xem yên cương có đặt đúng chỗ và con 
ngựa có nổi chứng gì không. Câu rao của mỗi người hoàn toàn theo ngẫu hứng nên 
có thể đờn một cách khác nhau, chỉ cần theo đúng điệu thức đã chọn lựa.
Sau đó mới lần lần đưa người nghe đi vào điệu thức, giống như hướng dẫn viên 
đưa du khách từng bước đi vào ngắm một căn nhà đẹp hay một khu vườn nhiều kỳ 
hoa dị thảo. 
Về bài bản thì đờn ca tài tử có rất nhiều, nhưng đại đa số các “thầy đờn” đều 
cho rằng có 20 bài tổ gồm 6 Bắc (Tây thi, Cổ bản, Lưu thủy trường, Phú lục 
chấn, Bình bán chấn, Xuân tình chấn hay Xuân tình điểu ngữ), 3 Nam (Nam xuân, 
Nam ai, Nam đảo hay Đảo ngũ cung), 4 Oán (Tứ đại oán, Phụng cầu, Giang nam, 
Phụng hoàng), 7 bài lớn (Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long 
ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá).
Đờn tài tử có khi đờn một mình như độc tấu đờn kìm hay đờn tranh. Khi hòa đờn, 
nếu chỉ có hai nhạc cụ thì thông thường là đờn tranh hòa với đờn kìm hoặc đờn 
cò. Nếu ba cây hòa chung (tam tấu) gồm đờn tranh, đờn kìm và đờn cò. Năm cây – 
gọi là ngũ tuyệt – gồm đờn tranh, kìm, cò, độc huyền và tỳ bà. Thỉnh thoảng lại 
có ống sáo hay ống tiêu cùng hòa và về sau có thêm ghi-ta phiếm lõm. Hiếm khi 
hòa đờn mà không có ca, vì vậy người ca đóng vai trò rất quan trọng. 
Điểm độc đáo của cách hòa đờn trong ca tài tử là áp dụng nguyên tắc học chân 
phương, đờn hoa lá ngang qua lăng kính của dịch học, phù hợp với quy luật biến 
dịch trong vũ trụ. 
Con người và sự vật luôn luôn thay đổi không ngừng, mỗi giây phút trôi qua 
trong cơ thể chúng ta có hằng trăm ngàn tế bào cũ chết đi và cũng chừng đó tế 
bào mới được sản sinh. Tuy nhiên sự thay đổi đó không làm chúng ta biến dạng 
bởi bên trong vẫn tồn tại những yếu tố căn bản không thay đổi, nghĩa là có biến 
dịch mà cũng có bất dịch. 
Cũng vậy, trong đờn tài tử thì nét nhạc, chữ nhấn, chữ chuyền của mỗi câu trong 
bài bản có thể thay đổi tùy trường phái hay người đờn nhưng lòng bản thì không 
thể thay đổi. Nhờ vậy, dầu cho người đờn có thêm chữ chuyền, có đổi nhịp nội ra 
nhịp ngoại, người nghe vẫn nhận ra bản đờn.
Ngoài biến dịch và bất dịch còn có qui luật giao dịch. Trong cuộc sống khi có 
sự gặp gở của hai yếu tố thì các yếu tố đó phải thay đổi để không trở thành 
xung đột. Khi hòa đờn cũng vậy, nếu tỳ bà hòa với đờn kìm, do hai tiếng đờn có 
màu âm gần giống nhau nên thông thường đờn kìm đờn nhịp nội trong khi tỳ bà đờn 
nhịp ngoại: sự thay đổi này chính là tinh thần giao dịch để có được sự hòa hợp.
Khi hòa đờn, người đờn tranh thường dùng những chữ đặc biệt như chữ “Á” (ngón 
tay cái của bàn tay mặt kéo rải dài từ dây đờn giọng cao xuống dây đờn giọng 
thấp), trong khi đó tiếng đờn kìm khảy chững chạc, nghiêm trang, chậm rãi, còn 
đờn cò thì dùng nhiều chữ vuốt. Ba cách đờn thay đổi để không bị đồng điệu, 
phối hợp một cách nhuần nhuyễn, không bị trùng lắp và không làm biến dạng nhau, 
hoàn toàn đúng với quan điểm giao dịch. 
Rõ ràng phong cách đờn ca tài tử rất phù hợp với triết lý dân gian của người 
Việt Nam chúng ta.

Đờn ca tài tử Nam Bộ
--- Thanh Bình ---
Ở Nam Bộ, kể cả dân gốc gác tại chỗ hoặc những người từ xứ xa "tới đây thì ở 
lại đây" đều nằm lòng câu tán dương khi nghe đờn ca tài tử vọng cổ sáu câu: Ca 
xuống xề nghe "ngọt" quá! Đờn nghe "mùi" quá! Hai tính từ biểu cảm mang đặc thù 
Nam Bộ này được chuyển hóa từ trạng thái vị giác sang trạng thái thính
giác ở cấp độ cao, nói lên sự khoái cảm đến say mê, cái "đã" của người thưởng 
thức, cái tài nghệ của nghệ sĩ và chỉ xuất hiện khoảng 80 năm nay, tức sau khi 
bài Dạ Cổ Hoài Lang (nay là Vọng cổ) - bài nòng cốt trong 20 bài tổ của đờn ca 
tài tử ca nhạc Cải lương: Nhạc sĩ tài hoa Cao Văn Lầu sáng tác bài Dạ Cổ Hoài 
Lang tại quê hương Bạc Liêu (1919) - lan nhanh ra ở Nam Bộ, nay phổ biến cả 
nước. Nghệ sĩ nhân dân Út Trà Ôn được tôn vinh là "Đệ nhất danh ca miền Nam", 
"Vua vọng cổ" nổi danh từ nửa thế kỷ nay từ bài Vọng cổ.
Tại sao người ta mê Vọng cổ, Cải lương? Về lịch sử, vào khoảng năm 1885, khi 
Vua Hàm Nghi xuất bôn, một nhạc quan của triều đình Huế là Nguyễn Quang Đại 
(Nam Bộ gọi là Ba Đợi) vào Nam Kỳ ở vùng Đa Kao, Sài Gòn, rồi xuống miệt Cần 
Đước, Cần Giuộc (tỉnh Chợ Lớn) rồi lại trở lên sống và qua đời tại Hộ 16 (quận 
8, thành phố Hồ Chí Minh) ngày nay. Ông dạy, phổ biến nhạc lễ, nhạc tài tử, có 
cải biên, các thế hệ học trò của ông rất đông ở nhiều nơi, nhiều người nổi danh 
như: Sáu Thới (thầy giáo của Giáo Thinh), Năm Xem (ông ngoại nhạc sĩ Hai Biểu), 
Ba Đồng (Chợ Lớn), Út Lăng (Bình Dương), lớp sau đó: Tư Huyện, Bảy Hàm, Tư Tụi, 
Văn Vĩ, Sáu Thoàn...
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở Nam Bộ đã hình thành 2 nhóm ca nhạc tài tử và 
tranh đua với nhau về nghệ thuật, ra sức cải tiến, nâng cao sáng tác thêm nhiều 
bài bản mới bổ sung vào. Trưởng nhóm miền Tây là ông Trần Quan Quờn (Ký Quờn), 
trưởng nhóm miền Đông là ông Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại). Ông Ba Đợi có công lớn, 
đã cùng các văn nhân và học trò giỏi ra sức nghiên cứu, cải biên các bài bản 
gốc của ca nhạc Cung đình Huế, bằng cách giản dị hóa lối ấn nhịp
(nhịp hội, nhịp ngoại, nhịp lơi) song vẫn tôn trọng lòng bản, để tạo một nhịp 
điệu hòa hợp với ngôn ngữ, phong cách của dân Nam Bộ, dễ thâm nhập vào quần 
chúng. Ông Ba Đợi thường nhắc nhở học trò: "Lễ phải có Nghi. Nhạc phải có Hòa. 
Tiếng đàn phải đủ trầm, bổng, nhặt, khoan".
Nếu nhạc lễ cung đình biểu trưng cho nền văn minh, văn hóa Phú Xuân, thì Ca 
nhạc tài tử, Cải lương biểu hiện cho văn minh, văn hóa Nam Bộ. Các nhà nghiên 
cứu: Sơn Nam, giáo sư Huỳnh Minh Đức, nhạc sĩ Vũ Chỗ, luật sư nhạc sĩ Tấn 
Nhì... đều cho rằng nhạc tài tử Nam Bộ dựa theo học thuyết âm - dương ngũ hành 
với ngũ cung: Giốc: Hò (Mộc), Chủy: Xự (Hỏa), Cung: Xang (Thổ), dựa trên nền 
tảng lễ nghĩa, đạo đức phương Đông mang trong mình cái gốc luân lý, mục tiêu
đào tạo cung cách làm người. Nó vừa mang nét trang trọng cung kính của nhạc lễ 
vừa dịu êm ngọt ngào dễ hòa vào tâm hồn những con người vừa định cư ở vùng đất 
mới mà lòng không nguôi thương nhớ quê cũ làng xưa. Nó phù hợp vì rất đa dạng 
đáp ứng được mọi khía cạnh tình cảm con người, hoàn cảnh cuộc đời. Có đủ 4 
điệu: Bắc, Hạ, Nam, Oán; 4 hơi: Xuân, Ai, Đào, Ngự, chia ra 3 Nam, 6 Bắc, 4 
Oán, 7 Bài (Ngự)... Vẫn bản nhạc đó, người ta chỉ cần thay lời mới là
sát hợp trong mọi hoàn cảnh: quan, hôn, tang, tế, biệt ly, thất tình, thất 
sủng... nên rất đắc dụng, nên tồn tại và phát triển hàng thế kỷ nay và sẽ lưu 
truyền mãi mãi. Vì nó là tiếng lòng. 
Mục đích của các ban đờn ca tài tử là phục vụ vô tư cho các lễ hội, đình đám, 
đám cưới, đám giỗ, buổi tiễn đưa tân binh, đơn vị bộ đội lên đường đánh giặc... 
không vụ lợi, không cần thù lao, gọi là "giúp vui", mang tính cộng đồng sâu 
sắc, bình đẳng giữa mọi người. Ai biết đờn thì đờn, biết ca thì ca, một bài 
cũng được, thậm chí đờn ca có lỡ "rớt" nhịp cũng chẳng ai chê cười mà còn động 
viên cố gắng. Những người không biết đờn ca, đủ cả trẻ già trai gái, cả
người đi đường thích thì tham gia, cũng tự nhiên đến ngồi nghe với thái độ chăm 
chú thưởng thức càng động viên các tài tử ca đờn càng hay hơn, nếu lâu lâu có 
bánh trái, trà lá bồi dưỡng cho ban tài tử càng tốt. Ban tài tử nào, ở ấp, xã 
nào cũng có đông đảo khán, thính giả trung thành. Cuộc chơi không hạn định giờ 
giấc. Đến khuya, khi mọi người cảm thẩy thỏa mãn thì chia tay ra về, hẹn lại 
vào buổi tối hôm sau.
Cứ như vậy thành lệ. Không ai bảo ai, hàng ngày làm lụng vất vả trên đồng 
ruộng, hoặc có chuyện đi xa, đến chiều phải tranh thủ về để kịp có mặt tham gia 
hoặc thưởng thức buổi đờn ca tài tử. Năm này tháng nọ cũng lặp lại những bài 
bản cũ - lâu lâu mới có lời ca mới - nhưng người đờn lẫn người nghe vẫn không 
ai thấy chán, mà trái lại họ như bị ghiền (nghiện) không có không được. Thỉnh 
thoảng, để "thay đổi không khí" vài người giỏi chữ nghĩa, nắm vững bài bản
vừa sáng tác vừa ca, gọi là "Văn sống" rất được hoan nghênh. Nhiều nam, nữ 
thanh niên sáng dạ nghe riết thuộc lời, thuộc giọng, được vào ca, được truyền 
nghề. Ông Trượng - Tiên Bửu, Bùi Kiệm - Nguyệt Nga, Lan - Điệp, Tôn Tẩn giả 
điên... là những bài vỡ lòng. Mỗi người tự giác rèn luyện tiếng đờn, lời ca cho 
thêm trau chuốt ngọt ngào.
Ở Cần Giuộc, xóm ấp nào cũng có ban đờn ca tài tử, nòng cốt từ những người giỏi 
đờn ca tập hợp lớp trẻ làm thầy truyền nghề trực tiếp. Khi có lực lượng đờn ca 
khá, ai cũng muốn thi thố tài năng bằng cách mở rộng giao lưu với ban nhạc các 
ấp, xã khác. Bí quyết chắc thắng là phải vững nhịp mới tránh được "nhịp lọt" 
khỏi bị rớt khi gặp đối thủ có bản lĩnh đờn nhử, đờn phá. Ở Cần Đước có Sáu Nữa 
nổi tiếng đờn nhịp lọt.
Thú chơi đờn ca tài tử còn vì phong cảnh hữu tình, gợi cảm, gần với thiên 
nhiên. Ngoài số cuộc chơi ở các lễ hội đình đám ngồi bộ ván trải chiếu bông 
nghiêm trang, phần nhiều các ban ca nhạc tài tử thích chơi giữa cảnh trời trăng 
mây nước. Có thể dưới bóng mát gốc me, gốc xoài, gió lộng, trên gò đất cao cạnh 
ao làng được bao bọc bốn bề là đồng lúa xanh tươi, vàng rực. Hay trên chiếc 
thuyền trôi xuôi êm ả theo dòng nước lồng lộng trăng rằm, nên thơ tĩnh mịch,
tiếng lá dừa nước hai bên bờ rì rào dịu êm như nền nhạc đệm làm tăng vẻ hữu 
tình cho buổi đờn ca tài tử trên sông.
Hò ơi!... Gió đưa con buồn ngủ lên bờ, Mùng ai có trống (xin) cho ngủ nhờ một 
đêm!
Câu hò huê tình nhẹ nhàng có ý trêu chọc bâng quơ của chàng thanh niên nào đó 
thường cũng là câu mở đầu đánh giá cho bài ca Văn Thiên Tường, Trường Tương Tư, 
hay vọng cổ Tình anh bán chiếu... Tiếng đờn, lời ca ngân nga hòa quyện vào làn 
gió lan tỏa mãi trên mặt sông đầy.
Ở nông thôn Nam Bộ, việc biết đờn ca tài tử như là lẽ đương nhiên. Trên đường 
đi câu, đi cấy gặt lúa, nhất là khi chèo xuồng một mình trên sông rộng, hay 
chống xuồng ba lá thanh thoát giữa rừng rậm U Minh hoặc trong mênh mông đồng 
nước Tháp Mười, không ai giấu nổi tình cảm trắc ẩn riêng tư. Những bài ca
vọng cổ nằm lòng, bài ruột sẽ được trào dâng, thậm chí có bài nội dung không 
dính dáng gì với hoàn cảnh thực tại vẫn ca "chay" (không có đệm đờn), vẫn phóng 
khoáng lời ca có sức truyền cảm lạ lùng. Không có ai nghe thì ca cho "mình ên" 
nghe cho đã. Vì "nghệ sĩ" trước tiên là người thưởng thức sản phẩm của chính 
mình.
"Nhìn trời hiu quạnh rừng đêm sương gió lạnh; hướng quê nhà lòng thêm chạnh nỗi 
niềm riêng"... Sầu vương biên ải, nói lên tâm trạng người chiến binh đồn trú 
nơi biên cương nhớ quê nhà. "Hận sông Gianh" rất thường được dùng khi đất nước 
còn nỗi đau chia cắt hai miền Nam - Bắc. Lãng mạn cách mạng không gì qua bài 
"Dệt chặng đường xuân" ca ngợi anh chị giao liên lạc quan trong gian khổ hy 
sinh, ngày đêm như con thoi khắp sông rạch, đồng bưng của khu Tây Nam
Bộ kiên cường hết lòng đánh giặc. Thời đánh Mỹ, nhiều cán bộ, chiến sĩ Giải 
phóng quân súng đạn oằn vai trên đường hành quân ra trận vẫn mở radio bỏ túi 
nghe 6 câu vọng cổ "Long An xanh màu lá mạ" trong cảnh bom đạn Mỹ tàn phá quê 
hương. "Bài ca Trường Sơn" nỗi lòng người con An Giang Nam Bộ đang đứng trên 
đỉnh Trường Sơn thương nhớ về Bảy Núi quê nhà mà khắc ghi mối căm thù, tự động 
viên mình, động viên đồng đội quyết chiến quyết thắng.
Lời ca của bản Vọng cổ cũng được trau chuốt, súc tích trữ tình như thơ. Cô giao 
liên “đưa chiến sĩ qua sông Sài Gòn như chở trăng mây trời" sang sông.
Chị du kích "sau đợt chống càn, bầu sữa căng, về nhà cho con bú không quên hái 
bông sen hồng mọc lên trong hố bom đìa" giành tặng con yêu. Anh hùng đến độ lạ 
thường. Coi việc đánh giặc như nhổ cỏ bắt sâu hàng ngày ở vườn cà, ruộng lúa... 
Vọng cổ tài tình như vậy, chính trị, triết lý, đạo lý nhân bản sâu sắc thời đại.
Bởi vậy, không chỉ giới công, nông, binh mà cả giới trí thức gần thế kỷ nay ở 
Nam Bộ rất yêu thích và tham gia học đờn ca tài tử, cải lương. Những học trò 
nổi danh của thầy Ba Đợi, thầy Sáu Lầu có nhiều thầy thông, thầy ký, đốc học, 
hương chức hội tề. Vì đờn ca tài tử vừa bình dân, vừa cao cấp, vừa gần gũi, vừa 
thâm sâu, lời ca quyện chặt tiếng đờn, tiếng nâng bổ lời ca mang theo cả tâm 
hồn nghệ sĩ, người thưởng thức. Tôi đã được nghe các ban, các câu
lạc bộ đờn ca tài tử của các huyện, thị ở Long An, câu lạc bộ đờn ca tài tử thị 
xã Cà Mau, câu lạc bộ đờn ca tài tử Cao Văn Lầu - thị xã Bạc Liêu... cây đờn 
ghi ta điện phím lõm có xôm tụ, nhưng không thay được các cây đờn: Cò, Kìm, 
Tranh, Sến cổ truyền vẫn luôn là chủ đạo.
Giáo sư Trần Văn Khê đã có nhận xét rất chính xác: "... chân phương hoa lá 
trong bài vọng cổ đã được áp dụng một cách thần tình. Hoa chẳng những đẹp mà 
còn thơm. Lá chẳng những xanh mà còn tươi. Thành ra bản Vọng cổ có cái tươi 
mát, cái đẹp đẽ, có cái phong phú, cái dồi dào mà sức sống, sức đóng góp của 
tất cả những người nghệ sĩ, từ đứa con của bác Sáu Lầu sáng tạo, nuôi dưỡng cho 
nó lớn lên mạnh mẽ, nó đẹp đẽ...". Đó chính là ma lực, sức hấp dẫn, làm say mê 
lòng người, ai biết qua rồi khó lòng bỏ được. Vì nó là bản sắc văn hóa Nam Bộ, 
văn hóa Việt Nam.

Other related posts:

  • » [SMCC] DanCaTaiTuNamBo - Nguyen Khanh Quoc