[SMCC] Dan Ca Viet Nam

Dân ca Việt Nam
 
Dân ca Việt Nam rất là phong phú. Tất cả những 
bài ca do dân quê sáng tác và không thuộc nhạc triều 
đình, nhạc thính phòng, nhạc tôn giáo thì được 
xếp vào
loại dân ca.
 
Xứ Việt Nam với gần 80 triệu người 
Việt và 53 sắc tộc khác nhau thừa hương 
một truyền thống dân ca đa diện.
 
Ðịnh nghĩa danh từ dân ca, theo tôi, là những bài ca 
không biết ai là tác giả, được truyền 
miệng từ đời này sang đời khác, dính 
liền với đời sống hàng ngày
của người dân quê, từ bài hát ru con, sang các bài hát 
trẻ em lúc vui chơi, đến các loại hát lúc làm 
việc, hát đối đáp lúc lễ hội 
thường niên.
 
Dân ca lại mang một màu sắc địa phương 
đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ, 
giọng nói, và âm nhạc tính từng vùng mà khác đi đôi 
chút. Nhưng nhìn chung,
vẫn là bài hát thoát thai từ lòng dân quê với tính chất 
mộc mạc, giản dị của họ
 
Dân ca Việt Nam được trình bày theo trình tự 
một đời người, nghĩa là bắt 
đầu bằng các bài hát ru em khi em bé bắt đầu 
chào đời, đến khi đứa bé lớn lên,
trương thành và chết đi, sẽ có những bài hát 
liên hệ đến từng giai đoạn của 
một đời người.
 
Tôi xin bàn về các bài hát ru em và các bài hát nghe trong lúc trẻ 
em vui chơi, nô đùạ Chúng ta thường nghe lúc còn 
ấu thơ, được chị, mẹ hay bà ngoại 
hoặc
bà nội ru cho ngủ. Loại hát này được 
gọi là hát ru (miền Bắc), ru con (miền Trung), hay hát 
đưa em, ầu ơ ví dầu (miền Nam). Âm giai dùng 
trong loại hát
ru em được thay đổi tùy theo vùng. Ở 
miền Bắc, hát ru dựa vào thang âm ngũ cung 
(do-ré-fa-sol-la-do). Miền Trung sử dụng âm giai tứ 
cung (do-fa-sol-sib-do),
và miền Nam thì chọn âm giai ngũ cung (do-mib-fa-la-do). 
Người mẹ thường bày tỏ nỗi lòng 
của mình, hay than van số phận hẩm hiu của mình 
qua bài ầu ơ ví
dầu. Lời ca thường lấy trong ca dao và thể 
thơ là lục bát.
Block quote start
Ầu ơ Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẩm tay bồng
Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng bông.
Block quote end
 
Ðến khi đứa trẻ lớn lên, trong lúc chơi 
giỡn thường hay hát những bài mà đa số các 
giai điệu đều dựa trên thang âm tam cung 
(do-fa-sol). Chẳng hạn, khi
chơi ú tìm, các trẻ em để ngón tay trỏ của 
mình vào trong lòng bàn tay của một em trong bọn. Một 
đứa trẻ hát:
Block quote start
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết chương
Ba vương thượng hạ
Ba cạ đi tìm
Ú tim oà ập.
Block quote end
 
Khi nói tới tiếng "ập" thì bàn tay nắm 
được ngón tay người nào thì người đó 
nhắm mắt đếm để cho những 
người khác chạy đi trốn.
 
Ngoài ra còn có những trò chơi khác như đánh trõng, táng 
u, đánh dũa, hoặc là oánh tù tì (từ chữ Anh là one, 
two, three, nghĩa là một, hai, ba) giúp cho
trẻ em Việt Nam giải trí trong khi nhàn rỗi, ngoài 
giờ học hỏi ở nhà trường.
 
HÒ
 
Hò từ chữ HÔ mà ra, có nghĩa là làm cho giọng mình manh 
hơn. Do đó, Hò thường đi đôi với 
việc làm nặng như kéo gỗ, chèo thuyền, 
đập đạ Nhưng hò cũng có
thể hát lúc nghỉ ngơi, lúc hội hè, lúc đám tang 
như hò đưa linh, và có khi dính liền với một 
vùng nào đó như hò Nghệ An, hò Thanh Hóa, hò Sông Mã, hò 
Ðồng
Tháp.
 
Có ba loại Hò chánh:
 
Hò trong lúc làm việc, tiết điệu ăn khớp 
với động tác, và thường dùng những chữ 
như dô ta, rố khoan, hụ là khoan, vv...
 
Hò trong lúc nghỉ xả hơi, thường là hò 
đối giữa trai gái có tính cách đùa giỡn, chọc 
ghẹo hay tỏ tình.
 
Hò trong lúc lễ hội, thường là hò đối 
đáp để tranh giải.
Hò làm việc thường hò đông người với 
nhaụ Một người hò trước và tất cả 
phụ họa theo saụ Người hò chánh gọi là hò 
cái và những người phụ họa gọi là hò con.
Hò chia làm hai phần: lớp trống hay vế kể thì do 
một người hát, còn lớp mái hay vế xô thì do toàn 
thể phụ họa.
 
Ở miền Nam, hò thường nghe trên sông, hay lúc làm 
việc ngoài ruộng. Mỗi tỉnh, mỗi vùng có 
những loại hò đặc biệt. Do đó có tên 
gọi như hò Bến Tre, hò Cần
Thơ, hò Ðồng Tháp.
 
Ở tỉnh Bến Tre, có thể có loại hò như sau:
 
Hò ớ ơ Xứ nào vui cho bằng xứ Cù Lao, ớ 
ợ Hò ớ ợ Tiếng muỗi kêu như ống sáo 
thổi Bông mọc như hàng rào sương lý, ớ ợ 
Hoặc xuyên qua câu hò, chúng ta có
thể biết người hò thuộc địa 
phương nào như:
Block quote start
Hò, ớ ơ.
Ghe anh nhỏ mũi trắng lườn
Ở trên Gia Ðịnh xuống vườn thăm em, ớ 
ơ.
Block quote end
 
Hò miền Nam gồm có hò ba lý xuất xứ từ bài Bá Lý 
Hề của cải lương rất được 
thông dụng giữa các ca sĩ chuyên nghiệp. Hò theo 
điệu ai oán dùng để kể chuyện.
A li hò lờ xuất hiện khoảng 50 năm nay thôi, dùng 
thể thơ lục bát. Hò lô tô, hò cấy, vv... Các loại 
hò thường được ứng khẩu tùy hứng, 
nhạc thì chỉ có một
giai điệu duy nhứt, hay theo một thang âm đặc 
biệt miền Nam (do-mib-fa-sol-la-do).
 
Miền Trung là nơi tập trung của nhiều loại 
hò và nhiều giai điệu hơn hai miền Bắc và 
Nam. Ngoài loại hò làm việc, hò đối, còn có hò 
đưa đám mạ Ở Thanh Hóa
có hò sông Mã được chia làm năm loại hò tùy theo 
giai đoạn: hò rời bến, hò đò ngược, hò 
đò xuôi, hò mắc cạn, hò cập bến, với các 
đoạn kể, xô nhịp nhàng
theo nhịp một, nhịp hai.
 
Trong khi chèo thuyền, chúng ta còn được nghe các 
loại hò mái xấp, hò mái nhì, hò mái đẩy. Có giả 
thuyết cho rằng mái có nghĩa là mái chèo, và còn có giả
thuyết khác nữa cho rằng mái là đàn bà đối 
với trống là đàn ông. Còn xấp có nghĩa là mau 
hơn, nhì có nghĩa là đôi, là phải hát hai lần, còn 
đẩy có nghĩa
là làm cho thuyền đi tớị Ở vùng Thừa Thiên, 
Quảng Trị còn nghe hò mái ba nghĩa là phải hát ba 
lần.
 
Các loại hò làm việc như hò đạp nước, hò 
tát nước, hò khiêng nước, hò xay lúa, hò giã gạo, 
hò giã đậu, hò giã vôi, hò mài dừa,v.v...
 
Khi leo giốc, thì có hò leo dốc. Khi đập đá thì có 
hò nện hay hò hụị Tiết tấu rất nhanh, và 
theo nhịp đập đạ Người kể hát 
một đoạn, thì toàn thể hát "hụ
là khoan" để làm tăng sức mạnh khi làm việc.
 
Ở miền Bắc, hò đẩy xe, hò kéo gỗ rất 
được phổ thông. Một người hát một 
câu thì cả đám hát rố khoan, rố khoan rố 
khuầy hay hố khoan trong điệu bắt cái hố
khoan hay bắt cá hò khoan do các người chài lưới 
hát. Ngoài ra, chúng ta còn tìm thấy điệu hò giã vôi và hò 
dứt chỉ ở miền Bắc nữa.
 
Hầu hết các điệu hò ở Việt Nam 
đều dùng thể thơ lục bát với thể 
thức thêm những chữ không có nghĩa vào như "là 
hụ là khoan, rố khoan rố khuầy", v.v... Với
nghệ thuật ngắt câu khác nhau tùy theo từng 
điệu hò hoàn toàn khác biệt và phong phú qua tài sáng tác 
của các người dân quê, kho tàng dân ca do đó ngày
càng to lớn hơn và xuyên qua các lời ca trong điệu 
hò, chúng ta thấy một nền văn chương bình dân 
phản ảnh trung thực ngôn ngữ của tiếng nói 
Việt Nam.
 
LÝ
 
Miền Nam có rất nhiều điệu hò và lý. Những 
bài nào không thuộc vào hò thì là lý. Có Lý chim khuyên, Lý bông 
lựu, Lý chuồn chuồn, Lý cây chanh, Lý chè hương,
Lý bỏ bìa, Lý con khỉ đột, Lý ngựa ô, Lý quạ 
kêu.
 
Lời ca rất mộc mạc, chỉ hai câu thơ 
lục bát trong bài Lý chim khuyên như:
Block quote start
Chim khuyên ăn trái nhãn lồng
Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi
Block quote end
 
mà được hát thành:
 
Chim khuyên (quầy a) ăn trái (quây a) Nhãn lồng (à), nhãn 
lồng, ớ con bạn mình ơi ! Lia thia (quầy a) quen 
chậu (quây a) Vợ chồng (à), vợ chồng, ớ con 
bạn
quen hơi.
 
Miền Trung có thể nói là trung tâm của các điệu lý 
và họ Lý có nghĩa là hát của giai cấp dân quê (do 
chữ lý làng mà ra), so với Ca Huế thuộc giai cấp 
vua
chúa, quan liêu trí thức. Tất cả điệu lý 
được thoát thai từ các bài hát chèo, ca Huế, hát 
tuồng, và hát cải lương.
 
Ðiệu lý giao duyên bốn mùa hay lý vọng phu 
được hát theo điệu Nam ai Trung chuyển sang Ai 
Oán Nam khi xuống tới miền Nam và trở thành lý 
bốn mùa hay lý
ru con. Thể thơ được dùng là thất ngôn:
 
Thí dụ như:
Block quote start
Giãi sông Ngân mây rầu rầu chuyển
Một bước đường trời biển chia hai
Hỡi nàng nàng ơi!
Anh dặn một lời xưa nhớ đừng quên.
Block quote end
 
Từ đó các nhà nho mới đem vào Ca Huế và 
đổi tên lại thành lý giao duyên 12 tháng như:
Block quote start
Ðầu tháng giêng mãn thiên xuân sắc
Ai nấy vui mưng thiếp bặt mắt trông
Qua tháng hai bông hoa nhài ướm nở
Thiếp luống trông chàng vừa trở gió đông,
v.v...
Block quote end
 
Hát giao duyên với loại thơ thất ngôn cũng 
được dùng trong hát chèo. Ðến khi bài Lý giao duyên 
được sử dụng với thể thơ lục 
bát qua hai câu thơ:
Block quote start
Ai đem con sáo sang sông
Ðể cho con sáo sổ lồng bay xa.
Block quote end
 
Thì lại được đổi lại là Lý con sáo. 
Ðiệu Lý con sáo rất được quãng bá ở ba 
miền Bắc, Trung, Nam. Mỗi miền với thang âm 
đặc thù đã tạo ra ba điệu lý khác
nhau: Lý con sáo Bắc, Lý con sáo Trung, và Lý con sáo Nam. Ngoài ra, 
chúng ta còn biết thêm một điệu Lý con sáo nữa là 
Lý con sáo Quảng.
 
Ở Thừa Thiên, khi hát bài lý con sáo, thay vì hát đoạn 
"ơi người ơi", lại hát "tang tình tang". Bài lý con 
sáo được gọi là Lý tình tang,và khi hát bài 10
thương thì được đổi thành lý 
mười thương.
 
Các điệu lý đều dựa trên thể thơ 
lục bát trên âm giai tứ cung nhu bài lý ba cô, lý lượn, 
hoặc âm giai ngũ cung như bài lý bắt bướm hay 
lý cây đa.
 
Nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát 
của người Việt rất tài tình. Qua hai bài Lý con 
sáo Trung và Nam, chúng ta nhận thấy dân tộc Việt Nam 
đưa vào những tiếng
đệm bằng cách lập lại những chữ trong 
câu chẳng hạn nhu "í a, ố tang tình tang", vv mà làm cho 
nhạc điệu trở nên phong phú vô cùng.
 
Dân ca do đó đi sâu vào lòng dân và đôi khi còn ảnh 
hương rất mạnh vào nhạc thính phòng Ca Huế 
hay Ðàn Tài Tử miền Nam hoặc vào các điệu hát 
Chèo, Cải lương.
 
Hát hội
 
Hát hội là loại hát đối giữa trai gái tùy 
hứng ca hát đối đáp thi tài cao thấp trong 
những dịp lễ đầu xuân hay thu, hoặc khi 
đêm trăng thanh gió mát sau
một ngày làm việc mệt nhọc ngoài đồng.
 
Hát hội có nhiều loại: hát trống quân, hát quan 
họ, cò lả ở vùng Bắc Ninh, hát đúm ở 
Hải Dương, hát phường vải ở Nghệ 
Tĩnh, hát ghẹo ở Thanh Hóa, hát xoan
ở Phú Thọ, v.v..
 
Hát hội hay hát đối đều mang những 
đặc điểm chung như sau:
 
Người hát, làng xã, phải đối nhau chẳng 
hạn nhóm nam ca sĩ đối lại với nhóm nữ 
ca sĩ, và thuộc làng xã khác nhau
 
Hầu hết đều là tình ca để đưa 
đến hôn nhân.
 
Ðặc tính đoàn thể rất được nhấn 
mạnh, như trong quan họ có tục kết bạn và 
phải thuộc vào gia đình quan ho Truyền thống này 
được thấy ở hát ghẹo ở Thanh
Hóa, và hát xoan ở Phú Thọ có tục lệ "nước 
nghĩa".
 
Thi đua là một trong những đặc tính quan 
trọng. Trong một cuộc hát đối, các 
người hát thi đua về trí nhớ, lời ca, óc 
nhạy bén, phải tùy cơ ứng biến, khi
gặp khó khăn, tài sáng tác tùy hứng, và kỹ thuật 
ca hát phải có trình độ cao. Do đó, các làng xã xứ 
ta thường hay tổ chức hát lấy giải.
 
Ðặc tính bán chuyên nghiệp. Người hát quan họ 
phải thuộc một số bài căn bản, phải 
luyện tập thường xuyên. Do đó mới có 
tục lệ ngủ bọn, nghĩa là các người
hát cùng chung một nhóm thường tựu hợp ở nhà 
của một người trong bọn, ăn ngủ 
tại đó để có thì giờ học tập với 
nhau và tập hát gọi là bẽ giọng.
 
Hát hội xảy ra trong một phạm vi địa lý 
nhỏ hẹp, nhứt là ở Bắc Ninh, Thanh Hóa, Phú 
Thọ miền Bắc xứ Việt Nam mà thôi.
 
Mỗi cuộc thi hát như thế thường chia làm ba 
hay bốn giai đoạn:
List of 4 items
? Hát mời ăn trầu trong trống quân
? Hát giọng lề lối trong quan họ
? Hát dạo, hát chào, hát mừng, hát hỏi trong hát 
phường vải
? Hát dạo, hát mừng, hát thăm trong hát ghẹo
list end
 
Sau khi hát mở đầu thì đến phần hát thi. 
Phần này, bắt đầu các bài hát khó vì phải sáng tác 
tại chỗ, như hát trả lời câu đố trong 
trống quân, giọng sỗng,
giọng vặt trong quan họ,hát đố, hát đối 
trong phường vải, và hát đối, hát đố, 
hát xe kết trong hát ghẹo. Chẳng hạn như trong bài 
hát trả lời câu đố trong
trống quân, bên gái ra câu đố thì bên trai phải 
giải cho trúng và đố lại. Bên nào không đối 
được thì kể như thua. Loại hát này 
được đệm bằng một nhạc khí
đặc biệt là cây trống quân hay thổ cô. Một 
cây mây dài bốn, năm thước căng vòng cầu 
bắt ngang một cái hố được đào ngay 
điểm giữa cây mây. Một người hát
đánh vào cây mây để đệm, tạo âm thanh 
giống như tiếng trống.
 
Cuộc thi hát tiếp tục sang giai đoạn ba với 
các bài hát khen tặng trong trống quân, hát mời, hát xe 
kết trong phường vải, và giọng hãm, giọng 
huỳnh trong
quan họ.
 
Sau cùng là hát tiễn như trong phường vải, hát giã 
bạn trong quan họ, hát thề, hát dặn, hát tiễn 
trong hát ghẹo.
 
Hò, lý, hát hội với Trống quân, Quan Họ, Hát 
phường vải, Hát ghẹo, Hát xoan, cò lả,vv... 
rất gần với chúng ta qua lời ca đơn 
giản, diễn đạt tất cả hình
ảnh sống động của xã hội nông thôn 
Việt Nam và mỗi người hát là một nhà thơ.
 
HÁT VÈ / NÓI VÈ
 
Vè là một bài văn kể một chuyện đặc 
biệt xảy ra và ngụ ý khen chê. Bài văn làm theo 
thể thơ bốn chữ, năm chữ, lục bát, hay 
song thất lục bát hoặc các thể
thơ biến thể. Hát những câu vè thường 
lấy giọng đọc lên, không có đệm trên, 
đệm giữa, hay đệm dưới như các 
lối hát dân ca khác, nhưng dựa trên nhịp 2/4.
Ở miền Nam, những câu vè về trái cây, các loại 
cá, các thứ bánh, vv... ngoài lối vè kể chuyện. Các câu 
vè thường bắt đầu bằng sáu chữ:
 
Nghe vẻ nghe ve. Nghe vè...
 
Thí dụ vè trái cây:
Block quote start
Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè trái cây
Dây ở trên mây
Là trái đậu rồng
Có vợ có chồng
Là trái đu đủ
Chặt ra nhiều mủ
Là trái mít ướt
Hình tựa gà xước
Vốn thiệt trái thơm
Cái đầu chơm bơm
Ðúng là bắp nấu
Hình thù xâu xấu
Trái cà dái dê
Ngứa mà gãi mê
Là trái mắt mèo
v.v...
Block quote end
 
Hát vè để tiêu khiển trong lúc làm việc, hát lúc nhàn 
rỗi một mình. Hát vè không có nhạc, nhưng có tiết 
điệu. Gần đây ở Việt Nam, có nhiều nhóm 
nhạc trẻ
đã chuyển hát vè thành nhạc Rap rất được 
ưa thích.
 
Dân ca Việt Nam rất phong phú, đa dạng, dính liền 
với bài ca hơn là với dàn nhạc, và nhạc khí. Dân 
ca đi liền với tiếng hát ru, đồng dao, trò 
chơi trẻ em,
đến các điệu hò, lý, các điệu hát trong khi 
làm việc, trong các lễ hội tạo cơ hội cho 
thế hệ gặp nhau qua các loại hát giao duyên, qua 
tục "nước nghĩa",
"kết bạn", "ngủ bọn ". Mức sáng tác bài bản 
mới vượt qua những thể loại nhạc cung 
đình, nhạc bác học, nhạc thính phòng và đưa 
vào trong văn chương bình
dân những đóng góp đáng kể (hát quan họ, hát 
phường vải). Phần nhiều chỉ có tùy 
hứng lời trên một điệu nhạc (hát trống 
quân, cò lả). Chỉ có hát quan họ
là vừa sáng tác lời lẫn nhạc. Hiện có trên 700 
làn điệu khác nhau trong truyền thống hát quan họ. 
Hiểu được dân ca Việt Nam sẽ mang lại 
một niềm tự hào
cho chính mình, tạo một sự hãnh diện trong lòng khi 
xứ mình có một nền văn học dân gian phong 
phụ Ngoài dân tộc Việt hay Kinh, chúng ta còn có 53 sắc 
tộc
anh em sống rải rác trên khắp lãnh thổ Việt Nam 
với hàng trăm thể loại dân ca, nhạc khí hoàn toàn 
khác với dân tộc Việt. Ðó là đề tài nghiên 
cứu trong
tương lai.
 
GS Trần Quang Hải
Paris, Pháp

       
---------------------------------
Fussy? Opinionated? Impossible to please? Perfect.  Join Yahoo!'s user panel 
and lay it on us.

Other related posts: