[SMCC] Da co Hoai Lang - Mot Xuat Xu Buon

Dạ Cổ Hoài Lang - Một Xuất Xứ Buồn
 
Vào đầu thế kỷ thứ 20, âm nhạc Tài tử 
miền Nam đã thành hình, nhờ các nhạc sĩ, nhạc 
quan của triều Nguyễn, theo phong trào Cần 
Vương vào Nam, đem theo truyền
thống âm nhạc đất thần kinh, chuyển thành 
hơi miền Nam, có khi đi ngang qua các tỉnh miền 
Quảng Nam, Quảng Ngãi trước khi vào Nam, nên các 
bực thầy trong
nghề thường nói gốc đờn tài tử là 
từ đờn Huế hay đờn Quảng.
 
Chữ "tài tử" có nghĩa là "người có tài", mà 
cũng có nghĩa là "không chuyên nghiệp". Mà không chuyên 
nghiệp không phải là tài nghệ không cao, không cần 
luyện
tập. Những người nổi tiếng trong giới 
Tài tử là những bực thầy, bài bản đầy 
đủ, lại có những ngón đờn, những 
chữ độc đáo, tuyệt diệu. Nhưng 
muốn nghe tiếng
đờn kỳ diệu đó, không phải có tiền mà 
được. Người đờn "tài tử" chỉ 
gặp nhau trong những buổi hòa nhạc để 
thưởng thức tài nghệ chớ không phải 
đờn để kiếm
tiền mưu sống.
 
Tác giả bài Dạ cổ hoài lang
 
Ông Sáu Lầu, tên là Cao Văn Lầu sanh ra vào lối năm 
1890 tại xã Thuận Lễ, tỉnh Tân An. Năm lên 6 
tuổi, theo cha về Bạc Liêu (theo ông Trần Văn 
Khải, Nghệ
thuật sân khấu Việt Nam, Sài Gòn, Khai Trí, xuất 
bản năm 1970) hay là năm 1892 theo lời ông Bùi Trung Tín 
(Bản vọng cổ trên từng chặng 
đường phát triển,
tạp chí Văn Hóa tháng 5.1994).
 
Trong bài báo Một cuộc phỏng vấn bất ngờ 
của Thanh Cao đăng trong báo Dân Mới ngày chủ 
nhật 20-12-53, khi Thanh Cao hỏi ông Sáu Lầu: "Chẳng 
hay từ ngày
bác cho ra đời bản Vọng cổ, đến nay 
đã được bao nhiêu năm rồi. Và bác còn nhớ 
năm nào chăng?". Ông Sáu Lầu đã trả lời:"Tôi 
không nhớ rõ đã được bao nhiêu
lâu, nhưng chỉ nhớ năm ấy tôi được 
29 tuổi và bây giờ tôi đã lên 63". Báo đăng bài 
phỏng vấn năm 1953, ông 63 tuổi năm ấy, 
tức là ông chào đời năm 1890.
Và năm ông sáng tác bài Dạ cổ hoài lang là năm 1919, lúc 
"khủng hoảng tinh thần", trong "hoàn cảnh đau 
thương", bị mẹ bắt buộc phải ly 
dị với vợ ông sau
8 năm chung sống, vì lý do bà vợ không sanh con nối 
dòng. Ông buồn nhớ bạn lang nên đặt ra bài ca tên 
Hoài lang.
 
Ông Bùi Trung Tín cũng nói lý lẽ như trên và thêm chi 
tiết là ông Bảy Kiên đề nghị thêm vô hai chữ 
Dạ cổ là tiếng trống ban đêm... Năm sáng tác 
là 1920,
và nơi sáng tác là nhà đèn Bạc Liêu.
 
GS Thuyết Phong thì ghi rằng: ông Sáu Lầu sáng tác bài 
Dạ cổ hoài lang vào khoảng 1919-1920, không phải vì 
thương nhớ bạn lang, nhớ vợ bị 
bắt buộc ly dị,
mà nhân dịp có một nhóm nghệ sĩ từ Huế vào 
trình diễn trong Nam, ông Sáu Lầu sáng tác bài Dạ cổ 
hoài lang để đáp lễ nhóm nghệ sĩ Huế 
(Thế giới âm thanh
Việt Nam - Hoa Cau xb, California, tr.72).
 
Tuy những việc ấy không quan trọng lắm nhưng 
tôi ghi lại để các bạn thấy rằng chỉ 
có mấy điểm: năm sanh ông Sáu Lầu, năm sáng 
tác bài Dạ cổ hoài lang và
trường hợp sáng tác, mà các nhà báo, nghiên cứu âm 
nhạc chưa nhất trí. Ông Sáu Lầu là học trò ông 
Nhạc Khi, thường gọi là ông Hai Khi thầy 
đờn tại Bạc
Liêu. Ngoài bài Dạ cổ hoài lang, ông Sáu Lầu còn sáng tác bài 
Minh Hoàng thưởng nguyệt, Giọt mưa đêm 
nhưng không ai biết mấy bài ấy. (Thanh Cao, Báo Dân
Mới 20-12-53, trang 3).
 
Lời bài Dạ cổ hoài lang
 
Từ là từ phu tướng
Báu kiếm sắc phán lên đường
Vào ra luống trông tin nhạn
Năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng
Ôi gan vàng thêm đau
Đường dù xa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Còn đêm luống trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu luống trông tin chàng
Lòng xin chớ phụ phàng
Chàng là chàng có hay
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Biết bao thuở đó đây sum vầy ?
Duyên sắc cầm đừng lợt phai
Là nguyện cho chàng
Hai chữ bình an
Trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi
 
(Trích trong bài của Bùi Trung Tín đã dẫn phía trên).
 
Nhớ người ra đi, nhắc người 
đừng phụ tình bạc nghĩa. Người ở 
nhà mòn mỏi trông tin nhạn, luôn luôn mong mỏi từng 
giây phút trùng phùng. Tâm trạng đó là
tâm trạng chung của nhiều thiếu phụ Việt 
Nam thời bấy giờ. Vì bổn phận, vì nhiệm 
vụ chồng phải "chấp kiếm lên 
đường", đi ra biên ải. Biên ải thật 
sự hay
biên ải của một cuộc đấu tranh giành 
độc lập cho xứ sở. Hay biên ải xa vời 
của những người lính Việt bị mộ sang 
Pháp trong thế chiến thứ nhất (1914-1918).
Trong các trường hợp ấy, người thiếu 
phụ trông chồng phải vì nghĩa chung mà gác niềm 
tây. Cái buồn của người Việt Nam thường 
ém vào trong, muốn nói, lắm
khi nghẹn ngào chẳng thốt nên lời, nhưng nó 
đã có từ khi lập quốc, vì phải chống thiên 
tai, chống ngoại xâm, cái buồn khó tả khôn nguôi trong 
thời bị trị.
Cái buồn dính liền với bản chất người 
Việt Nam đa tình, đa cảm, hay quyến luyến, 
hay bịn rịn, dầu sanh ly hay tử biệt, khó 
cắt đứt sợi dây vô hình cột
chặt người ở lại với người ra 
đi.
 
Bài Dạ cổ hoài lang gợi lên được cái 
buồn bí ẩn trong thâm tâm của con người Việt 
Nam.
 
Trong cổ nhạc Việt Nam chưa có bài nào, bản 
nhạc nào được như bài Dạ cổ hoài lang, 
biến thành "Vọng cổ", từ một sáng tác tập 
thể, sanh ra từ thế kỷ, lớn
lên, sống mạnh, phát triển không ngừng, biến hóa 
thiên hình vạn trạng, mà sẽ còn sống mãi trong lòng 
người Việt trong nước và rải rác khắp 
năm châu.
 
GS. Trần Văn Khê
 
Paris - 1998

 
---------------------------------
The fish are biting.
 Get more visitors on your site using Yahoo! Search Marketing.

Other related posts: