[SMCC] Da co Hoai Lang - Mot Xuat Xu Buon
- From: Nguyen Khanh Quoc <khanhquoc78@xxxxxxxxx>
- To: SMCC <smcc@xxxxxxxxxxxxx>
- Date: Sat, 23 Jun 2007 13:27:42 -0700 (PDT)
Dạ Cổ Hoài Lang - Một Xuất Xứ Buồn
Vào đầu thế kỷ thứ 20, âm nhạc Tài tử
miền Nam đã thành hình, nhờ các nhạc sĩ, nhạc
quan của triều Nguyễn, theo phong trào Cần
Vương vào Nam, đem theo truyền
thống âm nhạc đất thần kinh, chuyển thành
hơi miền Nam, có khi đi ngang qua các tỉnh miền
Quảng Nam, Quảng Ngãi trước khi vào Nam, nên các
bực thầy trong
nghề thường nói gốc đờn tài tử là
từ đờn Huế hay đờn Quảng.
Chữ "tài tử" có nghĩa là "người có tài", mà
cũng có nghĩa là "không chuyên nghiệp". Mà không chuyên
nghiệp không phải là tài nghệ không cao, không cần
luyện
tập. Những người nổi tiếng trong giới
Tài tử là những bực thầy, bài bản đầy
đủ, lại có những ngón đờn, những
chữ độc đáo, tuyệt diệu. Nhưng
muốn nghe tiếng
đờn kỳ diệu đó, không phải có tiền mà
được. Người đờn "tài tử" chỉ
gặp nhau trong những buổi hòa nhạc để
thưởng thức tài nghệ chớ không phải
đờn để kiếm
tiền mưu sống.
Tác giả bài Dạ cổ hoài lang
Ông Sáu Lầu, tên là Cao Văn Lầu sanh ra vào lối năm
1890 tại xã Thuận Lễ, tỉnh Tân An. Năm lên 6
tuổi, theo cha về Bạc Liêu (theo ông Trần Văn
Khải, Nghệ
thuật sân khấu Việt Nam, Sài Gòn, Khai Trí, xuất
bản năm 1970) hay là năm 1892 theo lời ông Bùi Trung Tín
(Bản vọng cổ trên từng chặng
đường phát triển,
tạp chí Văn Hóa tháng 5.1994).
Trong bài báo Một cuộc phỏng vấn bất ngờ
của Thanh Cao đăng trong báo Dân Mới ngày chủ
nhật 20-12-53, khi Thanh Cao hỏi ông Sáu Lầu: "Chẳng
hay từ ngày
bác cho ra đời bản Vọng cổ, đến nay
đã được bao nhiêu năm rồi. Và bác còn nhớ
năm nào chăng?". Ông Sáu Lầu đã trả lời:"Tôi
không nhớ rõ đã được bao nhiêu
lâu, nhưng chỉ nhớ năm ấy tôi được
29 tuổi và bây giờ tôi đã lên 63". Báo đăng bài
phỏng vấn năm 1953, ông 63 tuổi năm ấy,
tức là ông chào đời năm 1890.
Và năm ông sáng tác bài Dạ cổ hoài lang là năm 1919, lúc
"khủng hoảng tinh thần", trong "hoàn cảnh đau
thương", bị mẹ bắt buộc phải ly
dị với vợ ông sau
8 năm chung sống, vì lý do bà vợ không sanh con nối
dòng. Ông buồn nhớ bạn lang nên đặt ra bài ca tên
Hoài lang.
Ông Bùi Trung Tín cũng nói lý lẽ như trên và thêm chi
tiết là ông Bảy Kiên đề nghị thêm vô hai chữ
Dạ cổ là tiếng trống ban đêm... Năm sáng tác
là 1920,
và nơi sáng tác là nhà đèn Bạc Liêu.
GS Thuyết Phong thì ghi rằng: ông Sáu Lầu sáng tác bài
Dạ cổ hoài lang vào khoảng 1919-1920, không phải vì
thương nhớ bạn lang, nhớ vợ bị
bắt buộc ly dị,
mà nhân dịp có một nhóm nghệ sĩ từ Huế vào
trình diễn trong Nam, ông Sáu Lầu sáng tác bài Dạ cổ
hoài lang để đáp lễ nhóm nghệ sĩ Huế
(Thế giới âm thanh
Việt Nam - Hoa Cau xb, California, tr.72).
Tuy những việc ấy không quan trọng lắm nhưng
tôi ghi lại để các bạn thấy rằng chỉ
có mấy điểm: năm sanh ông Sáu Lầu, năm sáng
tác bài Dạ cổ hoài lang và
trường hợp sáng tác, mà các nhà báo, nghiên cứu âm
nhạc chưa nhất trí. Ông Sáu Lầu là học trò ông
Nhạc Khi, thường gọi là ông Hai Khi thầy
đờn tại Bạc
Liêu. Ngoài bài Dạ cổ hoài lang, ông Sáu Lầu còn sáng tác bài
Minh Hoàng thưởng nguyệt, Giọt mưa đêm
nhưng không ai biết mấy bài ấy. (Thanh Cao, Báo Dân
Mới 20-12-53, trang 3).
Lời bài Dạ cổ hoài lang
Từ là từ phu tướng
Báu kiếm sắc phán lên đường
Vào ra luống trông tin nhạn
Năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng
Ôi gan vàng thêm đau
Đường dù xa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Còn đêm luống trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu luống trông tin chàng
Lòng xin chớ phụ phàng
Chàng là chàng có hay
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Biết bao thuở đó đây sum vầy ?
Duyên sắc cầm đừng lợt phai
Là nguyện cho chàng
Hai chữ bình an
Trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi
(Trích trong bài của Bùi Trung Tín đã dẫn phía trên).
Nhớ người ra đi, nhắc người
đừng phụ tình bạc nghĩa. Người ở
nhà mòn mỏi trông tin nhạn, luôn luôn mong mỏi từng
giây phút trùng phùng. Tâm trạng đó là
tâm trạng chung của nhiều thiếu phụ Việt
Nam thời bấy giờ. Vì bổn phận, vì nhiệm
vụ chồng phải "chấp kiếm lên
đường", đi ra biên ải. Biên ải thật
sự hay
biên ải của một cuộc đấu tranh giành
độc lập cho xứ sở. Hay biên ải xa vời
của những người lính Việt bị mộ sang
Pháp trong thế chiến thứ nhất (1914-1918).
Trong các trường hợp ấy, người thiếu
phụ trông chồng phải vì nghĩa chung mà gác niềm
tây. Cái buồn của người Việt Nam thường
ém vào trong, muốn nói, lắm
khi nghẹn ngào chẳng thốt nên lời, nhưng nó
đã có từ khi lập quốc, vì phải chống thiên
tai, chống ngoại xâm, cái buồn khó tả khôn nguôi trong
thời bị trị.
Cái buồn dính liền với bản chất người
Việt Nam đa tình, đa cảm, hay quyến luyến,
hay bịn rịn, dầu sanh ly hay tử biệt, khó
cắt đứt sợi dây vô hình cột
chặt người ở lại với người ra
đi.
Bài Dạ cổ hoài lang gợi lên được cái
buồn bí ẩn trong thâm tâm của con người Việt
Nam.
Trong cổ nhạc Việt Nam chưa có bài nào, bản
nhạc nào được như bài Dạ cổ hoài lang,
biến thành "Vọng cổ", từ một sáng tác tập
thể, sanh ra từ thế kỷ, lớn
lên, sống mạnh, phát triển không ngừng, biến hóa
thiên hình vạn trạng, mà sẽ còn sống mãi trong lòng
người Việt trong nước và rải rác khắp
năm châu.
GS. Trần Văn Khê
Paris - 1998
---------------------------------
The fish are biting.
Get more visitors on your site using Yahoo! Search Marketing.
Other related posts:
- » [SMCC] Da co Hoai Lang - Mot Xuat Xu Buon