[SMCC] Coi Nguoi

  Cõi người  


Lão lui cui đi trong bóng chiều nhập nhoạng. Mùi hương thắp đỏ lòe khắp nghĩa 
địa lan trong gió. Có lẽ giờ này đang là giờ nổi lửa phía bên đó. Lửa bên đó ra 
sao nhỉ? 
Lão bần thần, vừa đi vừa tưởng tượng những ngọn lửa xanh leo lét bên bờ những 
dòng nước của dải thiên hà. Lão thò tay vào họng móc ra mấy thứ hơi độc cứ 
lướng 
vướng từ dưới bụng dội lên. Không hiểu chiều hôm qua, cô vợ trẻ con cho lão ăn 
những thứ gì mà suốt từ đêm đến giờ lão cứ phải móc họng.
Lão vấp phải một cái mả gió. Cái mả nằm lù lù ở giữa bãi cỏ đẹp nhất của cái 
nghĩa địa tư nhân do lão cố công dựng nên.
Nguyên cái nghĩa địa này là mảnh đất vườn rộng hơn ba héc-ta. Ban đầu lão được 
nông trường chè sắp giải thể chia cho khoảnh đất này để trồng thử nghiệm cà 
phê. 
 
Lão lên nông trường này từ thời còn trai trẻ. Lão lấy một cô người mạn Tây Bắc 
cùng đội trồng chè. Hai vợ chồng ở với nhau, lam lũ sóng gió với nhau hàng mười 
mấy năm vẫn không có được mụn con nào. Cho tới khi vợ lão đột nhiên biến mất. 
Cả 
năm trời, lão bỏ việc đi tìm. Nhưng nghe đâu vợ lão đã đi theo người môi giới 
sang Trung Quốc làm vợ đẻ con cho người ta.
Lão đau đớn ngấm ngầm trong lòng. Cõi đời của lão giờ trơ khấc mình lão. Lão ốm 
dúm dó hàng năm trời sau đó. Khi khỏe lại, lão bỗng nhiên thành người thừa của 
cái đội trồng chè nay đã bổ sung thêm mấy người trẻ dưới xuôi lên.
Lão ngồi ôm gối nhìn ra đồi chè hàng tuần liền. Sau đó lão quyết định lên gặp 
ông giám đốc, một đồng hương của lão.
- Cho tôi mảnh đất nào trên đồi cũng được. Cho tôi thuê đất ba mươi năm.
- Thuê đất? Để làm gì? Anh có biết muốn thuê đất thì phải có dự án không?
- Thì chú cứ đồng ý đi đã. Rồi tôi sẽ trình dự án.
Ông giám đốc vẫn khăng khăng (điều này thể hiện rõ sự coi thường công nhân, mà 
đúng ra là coi thường sự rách rưới của cái lão già cùng quê này):
- Anh cứ đưa dự án cụ thể của anh đi. Đâu khắc có đó mà.
Thế là cái dự án trồng cà phê chữ nghĩa loẹt quẹt của lão được đặt trên bàn 
giám 
đốc.
Nhưng lão già tinh quái này cũng không phải loại mù mờ rách rưới như ông giám 
đốc nông trường nghĩ. Lão thò tay đút tụt vào cái ngăn bàn lửng lơ một gói dày 
cộp. Khi đút gói ấy vào rồi, lòng lão nhói đau.
Mẹ kiếp, đó là tất cả quãng đời gian khó tích cóp của lão. Đống của nả được 
chắt 
bóp nhịn thèm suốt mười mấy năm đằng đẵng, thậm chí khi không đẻ nổi một mụn 
con, vợ chồng lão cũng chẳng dám đưa nhau đi chữa vô sinh theo lời thiên hạ 
chỉ, 
cứ sợ nhỡ tiêu pha tốn kém mà không có kết quả. Giờ thì con không có mà vợ cũng 
chẳng luôn. Ngay lão, công ăn việc làm cũng bị hất lên hất xuống. Làm công ăn 
suất lương công nhân trồng chè, mỗi ngày trồng dăm luống, đến vụ thu hoạch thì 
tỉa chè, hái chè... Vậy mà cũng không có nổi một chỗ làm chắc chắn.
Mà thực ra thì cũng chẳng nên tiếc nữa. Chỉ tiếc nếu như thằng giám đốc này 
không còn chút sĩ diện hoặc chút lòng thương xót công nhân.
May sao, chẳng cần trông mong vào tình thương không cân không lạng, đúng thời 
điểm đó thì nông trường buộc phải đến đoạn chạy đuổi theo cơn lốc thị trường. 
Ban lãnh đạo nông trường làm báo cáo lỗ để xin giải thể. Sau khi giải thể, mỗi 
cán bộ lãnh đạo sẽ nhận thầu nhiều chục năm một khoảnh đất với dự án phủ xanh 
đồi trọc. Anh nào không thích đất đồi trung du, mà thích phố xá bến bãi thì 
được 
Nhà nước đền bù cho một “cục” hưu non mà trở về xuôi. 
Trong đám công nhân nghèo rớt mùng tơi, anh nào không muốn về xuôi nhưng biết 
cách cũng sẽ được nhận đất mà trồng trọt làm giàu, xây dựng vùng kinh tế mới.
Lão lọt được vào danh sách ấy.
Lẽ ra đã không có cái nghĩa địa tư nhân này.
Hôm đó bão lốc và mưa đá làm sạt cả một vạt đồi. Vườn cà phê còi cọc run rẩy 
trong gió lốc, rồi tan tác xác xơ vì trận mưa đá.  
Lão chưa bao giờ khóc rống lên như cái hôm kinh khủng đó. Khi vợ bỏ đi, lão chỉ 
có được một dòng nước mắt lặng lẽ chảy thầm xuống gò má đen sạm hốc hác.
Nhưng hôm mưa bão đó lão đã ngồi bệt xuống gốc cà phê rồi khóc rống lên. Bao 
nhiêu công sức chăm sóc của lão đã tan thành mây khói. Tiền vay ngân hàng mua 
giống, mua phân đều biến mất sạch sành sanh bởi sự nhạo cợt nhẫn tâm của ông 
trời. Trong cơn bão lốc và mưa đá vần vũ, lão vẫn nghe rõ tiếng than van khóc 
lóc rộ lên khắp các vạt đồi của những người công nhân khốn khổ như lão.
Lão nghĩ, có lẽ đến nước này thì cả cái cộng đồng trồng cà phê ở đây phải chấp 
nhận thất bại. Cà phê còi cọc và quá ít hạt. Mà hạt thì sượng, không hề có được 
mùi thơm ngào ngạt của giống cà phê Ban Mê. Có lẽ phải tìm cách nào khác thôi. 
Cà phê rõ ràng không có duyên với vùng trung du này.
Cuối cùng, lão gạt nước mắt, đứng lên. Nhưng lão bỗng nghe thấy tiếng khóc của 
một đứa trẻ con, rất gần. Lão lần bước theo tiếng khóc, và không tin vào mắt 
mình khi nom thấy một đứa con gái chừng mươi tuổi đang nức nở bên một cái xác. 
Lão đứng khựng lại nhìn. Đứa con gái kêu khóc không thôi:
“Mẹ ơi, mẹ đừng đi. Mẹ ơi...!”.
Lão đứng nhìn đứa con gái khóc, rất lâu. Tiếng khóc của nó cứ nhỏ dần, và rồi 
chỉ còn tiếng rên khe khẽ của một cơ thể trơ gầy đói khát. Cơ hồ cái cơ thể nhỏ 
nhoi ấy như cũng đang gục xuống bên cái xác. Bão lốc vẫn vần vũ trên trời, 
quanh 
những quả đồi đã bị vặt trụi cây lá, xơ xác trơ trọi hơn cả chốn hồng hoang.
Lão tiến đến gần hơn. Và rồi lão đụng vào cái cẳng tay khẳng khiu:
- Đứng lên đi!
Con bé ngẩng lên nhìn người lạ mặt. Khi ấy lão nhìn thấy ánh mắt của đứa trẻ 
già 
đến cả hàng trăm tuổi.
Lão muốn an ủi đứa bé gái, nhưng chẳng biết làm cách nào.
- Có muốn tôi giúp gì không?
Con bé vẫn chưa hiểu ra câu hỏi. Nó lại nức nở tiếp. Lão an ủi:
- Thôi đừng khóc nữa. Đứng lên đỡ đằng chân đi. Để tôi đỡ cho đằng đầu.
Con bé vừa khóc gào lớn lên vừa hỏi:
- Bác định mang mẹ cháu đi đâu?
Lão tức khí, gắt lên:
- Thì đi chôn chứ đi đâu. Thế mày có muốn tao hộ cho một tay không? Hay muốn 
thế 
nào?
Nhưng lão chợt nhớ ra, biết mang cái xác này đi chôn ở đâu. Muốn chôn ở khu 
nghĩa địa của nông trường cũ, nay đã chuyển thành khu dân cư cùng hộ khẩu với 
dân địa phương, cũng không phải chuyện dễ dàng.
Lão hỏi con bé:
- Mày ở đâu tới?
- Cháu không biết.
- Thế hằng ngày mẹ con mày làm gì?
- Mẹ con cháu hát, ăn xin.
- Sao tao không thấy trống phách gì cả?
- Hai mẹ con cháu cùng hát, không có nhạc.
- Thế thì ai người ta cho tiền chứ!
- Mẹ cháu hát hay lắm.
- Thế làm sao mà bà ấy lại thế này?
- Mấy hôm nay mẹ cháu ốm. Khi chiều mẹ cháu bảo cố đến mấy vườn cà phê  xin làm 
chân chăm sóc vườn, không đi hát ăn xin nữa. Mẹ cháu cố đưa cháu đi.
Nếu không đi xa như thế, chắc mẹ cháu chưa chết. Ba hôm nay mẹ con cháu không 
có 
gì trong bụng cả.
Con bé nói suốt, kể lể đủ điều. Lão hầu như không nghe, không nhớ gì. Lão lẳng 
lặng lấy cuốc đào một cái huyệt. Lấy chiếu bó cái xác lại như bó giò, rồi lão 
khẽ khàng đẩy cái xác xuống hố.
Con bé cứ ngây người ra nhìn, và không hiểu sao nó không khóc nữa. Lão phải 
nhắc:
- Mày khóc đi. Bây giờ thì cứ tha hồ khóc cho mẹ mày xuống dưới kia được mát mẻ.
Con bé liền òa khóc.
Bấy giờ bão đã lặng nên tiếng khóc đau thương của nó vang vang khắp đồi. Tiếng 
khóc dường như đưa ma luôn cả những vườn cà phê bị trồng ép trên những mảnh đất 
trời không dành cho chúng.
Lão vào nhà vùi nồi cơm nhỏ, luộc quả trứng cúng đặt lên cái mả.
Rồi lão lại vào nhà kiếm tờ giấy, cái bút.
Lão nắn nót ghi (như ngày nào cố nặn ra cái dự án xin thầu đất) nguệch ngoạc:
“Giấy mua đất
Tôi tên là: ...
Tuổi: ...
Là người đi hát ăn xin.
Do hoàn cảnh nay mẹ tôi chết, không có nơi chôn cất.
Được ông Lê Thoài thương, bán cho mảnh đất rộng hai mét, dài hai mét rưỡi,  để 
làm mộ phần cho mẹ tôi.
Địa chỉ: ở tại vườn cà phê (...), đồi Khoang, xã Yên Ngãi, huyện XX, tỉnh YYY.
Giá là: hai cây vàng bốn con chín.
Tôi xin làm thuê cho ông Thoài để trả nợ trong 120 tháng (một trăm hai mươi 
tháng, tức mười năm).
Tôi cam đoan không làm điều gì sai. Nếu làm gì sai với thỏa thuận này, tôi xin 
chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Ký tên (hoặc điểm chỉ)”.
Con bé đã khóc xong, chùi nước mắt, lắng nghe lão đọc tờ giấy một cách nghiêm 
túc, rồi ký tên. Hóa ra nó biết chữ, mà lại viết chữ còn đẹp hơn cả lão.
Nó điền tên nó là Nguyễn Thị Hoan, ghi tên mẹ là Nguyễn Thị Liên, ghi tuổi nó 
là 
mười hai.
Lão nghĩ, con bé này mười hai mà còi cọc như con mèo hen. Nhưng đôi mắt nó thì 
già ngang với lão rồi. Kể ra có nó làm vườn, lão sẽ đỡ hơn rất nhiều. Lão sẽ 
nhận nó là con nuôi. Nhưng mà cũng chỉ tạm thế đã. Chuyện nhận con nuôi đâu 
phải 
dễ dàng thế. Cho mẹ nó nằm trên mảnh đất này là lão đã quá tốt với mẹ con nó 
rồi.
Sau này lão cũng không bao giờ tự hỏi vì sao ngày ấy lại dễ dàng cho một cái 
xác 
không quen biết nằm lại trên mảnh đất của mình như vậy. Cũng không biết từ đâu  
mà nghĩ nhanh như thế cái sáng kiến bán đất rồi nhận con bé làm thuê trả nợ.
Từ đó, dân quanh vùng biết lão có đứa con gái làm thuê trong nhà. Lão báo với 
xã 
để khai tạm trú cho nó. Khi họ hỏi lão có nhận con bé làm con nuôi không, lão 
không ra lắc không ra gật. Bữa ăn từ đó có người nấu nướng cũng ngon hẳn lên. 
Con bé học dần nhiều thứ, biết dần nhiều thứ. Hằng ngày nó dậy sớm ra vườn tưới 
rau chăm cây. Lão khoanh một khu đồi mà cà phê bị đổ nát nhiều nhất sau cơn bão 
lốc để dăm một vườn rau sắng.  
Rồi lão bỏ hẳn cà phê không trồng nữa.
Mảnh đất đồi của lão bỗng nhiên như có phép lạ.
Ấy là một hôm trời đất bình thường như bao ngày khác, lão và con bé đang cuốc 
đất trồng thêm rau sắng thì nhát cuốc của con bé bỗng va phải một khuôn gạch 
nghe đánh cạch. Lão lấy tay vạch đất bới cỏ dại ra, lấy xà beng xoi kỹ xuống, 
thấy có một ngôi mộ tròn được xây bằng đá đỏ rất đẹp và bề thế. Đầu ngôi mộ có 
một bia đá cũng bằng đá đỏ nhưng bóng mịn và ánh lên những ánh tựa ruby.
Mồ hôi rịn ra hai bên thái dương, lão hiểu ngay mình cần phải làm gì.
Lão vào nhà lấy hương ra thắp, rồi tìm quanh quẩn trong vườn mấy quả cam, chanh 
đặt lên đĩa cúng.  
Lão khấn:
“Nếu ngài có linh có thiêng, xin cho con được thắp hương cầu khấn ngài. Con 
không biết ngài là thánh nam hay thánh nữ, xin hãy báo mộng cho con. Xin ngài 
ngự trên mảnh đất này làm thần hộ mệnh cho chúng con. Con sẽ cho xây ở đây một 
khu mộ để gìn giữ ngôi mộ của ngài. Xin ngài hãy ban cho con một gia đình, cho 
dòng máu của con chảy sang những đời sau”...
Đêm đó, bên ánh nến thắp trên ngôi mộ cổ, lão nhìn con bé. Thời gian qua nó đã 
lớn phổng lên từ lúc nào. Tim lão đập mạnh.
Lão cầm tay con bé kéo vào nhà.
“Mày cũng đã lớn và xinh lên rồi đấy. Nhiều lúc tao cũng định nhận mày làm con 
nuôi. Nhưng mày biết đấy, tao đã không làm. Dù sao thì mày cũng là con gái. Mà 
tao thì muốn có nòi có giống. Mày có hiểu không?”.
Con bé thấy sợ. Nhưng nó cũng đã quen với ánh mắt và những gì chung quanh lão 
già. Nó đã lớn và quen với cái mùi đàn ông còn vương trong lồng ngực lão già, 
người cưu mang nó, người đã cho nó mắc nợ. Nó thấy cơ thể mình lạ lẫm từng ngày.
Nó chưa bao giờ hình dung những động chạm của đàn ông. Nhưng ngay lúc này, một 
bàn tay đàn ông đang rờ rẫm khắp chỗ trên mình nó. Bàn tay lão già run run nhẹ 
nhàng dịch chuyển. Con bé im lặng đón nhận, tự tay mở nút áo. Dưới ánh nến hắt 
từ ngôi mộ cổ, tràn ngập trăng và bóng đêm, bàn tay khô gầy của lão nắn bóp bầu 
ngực mới nhú cứng mà mịn như nhung nai. Mọi thứ động đậy khẽ khàng như có từng 
lớp mây mù đang tan ra trong bầu trời đêm thơm mùi cỏ mật và hương.
Lão dịch chuyển trong nó thật nhẹ. Như sợ bóng đêm sẽ vỡ òa. Lâu lắm rồi, lão 
không hề biết rằng mùi hương cỏ mật và mùi nhang cháy trong đêm lại nồng nàn 
đến 
thế. Con bé xoài người trên nền nhà trải chiếu cói. Nó bám chặt vào thân thể 
lão 
già như cầu cứu. 
Lão bấm tay khắp thân thể nó, thì thào:
“Hãy đẻ con, hãy làm vợ ta, bé ạ”.
Sau đêm đó, lão dồn số tiền có được trong nhà, theo cung cách cũ, chạy lên 
huyện 
nhét một phong bì vào tay cán bộ ủy ban xin cái đăng ký kết hôn, một phong bì 
vào tay cán bộ địa chính xin cái sổ đỏ chuyển đổi đất vườn thành đất thổ cư.
Tin lão Thoài lấy được cô vợ trẻ con (có khai tăng tuổi) lan khắp vùng. Nhưng 
một tin đồn còn lan nhanh hơn: ấy là cái tin đất đồi nhà lão Thoài có thần linh 
phù hộ, nếu chết mà được chôn trong khu đồi đó, mả sẽ phát. Người ta bảo nhau, 
đâu như lão ấy có bán đất làm phần mộ. Giá đất làm phần mộ là như thế như thế...
Thiên hạ đồn đại còn nhanh hơn cả cơn lốc. Thời điểm này người ta không muốn 
chết theo hàng theo lối nữa. Người ta muốn hướng tới thế giới tâm linh theo 
cách 
riêng của mình. Người sống kéo đến khu đồi Khoang ngày càng đông để mua đất cho 
người mới chết. Rồi lại mua đất để dành cho cả người đang sống, mỗi người một 
khoảnh chừng mười, hai mươi, cho đến cả trăm mét, tùy túi tiền.
Lão làm một nếp nhà mái bằng ngay trong vạt đất đã được cấp sổ đỏ thổ cư, có hệ 
thống vệ sinh khép kín. Lão giờ da thịt đỏ au và lồng ngực vồng lên như một gã 
trai. Lão quá mãn nguyện vì sự sáng suốt chuyển đổi cung cách làm ăn của mình. 
Bán từng mảnh nhỏ trong phần đất cho người ta làm phần mộ, thỏa thuận trong 
từng 
hợp đồng rằng lão sẽ chăm sóc hương nhang mỗi ngày, mỗi tuần rằm mùng một.
Cô vợ trẻ con thì cứ lớn lên thêm, xinh ra, khiến đám đàn ông trai trẻ đến mua 
đất cứ ngẩn ngơ nhìn bà chủ trẻ của nghĩa địa.
Mỗi lần bán xong một miếng đất, lão lại mua cho cô vợ trẻ con của mình một món 
quà. Cô vợ chỉ có mỗi việc là cơm nước và hằng ngày ra thắp hương khắp lượt 
những ngôi mộ trong nghĩa địa. Bao giờ ban đầu cô cũng thắp hương trên ngôi mộ 
cổ, rồi đến mộ mẹ mình.
Cô trò chuyện với mẹ thế này:
“Hồi đó vì mẹ đưa con đến đây nên giờ con mới có của ăn của để. Con chỉ còn chờ 
đẻ cho lão Thoài đứa con, rồi con sẽ đi xa một chuyến. Con thèm hát quá mẹ ạ. 
Con đã hứa với anh ấy, con sẽ hát cho anh ấy nghe một lần, rồi con lại quay về 
đây hương khói cho mẹ”.
Đêm, cô vẫn doãi thân thể mình cho lão già. Cô mong bụng mình có tiếng đập thậm 
thịch của một trái tim nhỏ. Cô mong từng ngày.
Không ai biết anh ấy của cô là ai. Nhưng chờ mãi vẫn chưa đẻ được con thì cô 
phải đi đã. Cô viết thư để lại cho lão, dặn rất cẩn thận là ngày ấy tháng ấy cô 
sẽ về.
Lão lại sống lại những ngày đau đớn ngấm ngầm như khi người vợ trước bỏ đi. 
Nhưng có lá thư của cô để lại, lão không héo hon đi mà chỉ dữ tợn thêm. Lão bán 
đất cho thiên hạ với giá cắt cổ. Dù vào thời điểm giá đất ở của thành phố cũng 
không sốt nhưng giá đất chôn lại đắt kinh khủng, nhất là khoảnh đất ở khu đồi 
Khoang. Cứ như thiên hạ chỉ thèm được chôn mình ngay lập tức.
Cô chỉ trở về sau bốn tháng. Trong bụng cô đã có những tiếng đập nhỏ xíu của 
một 
trái tim. Nó đập rất nhẹ nhàng nhưng đầy lo lắng.
Cô nhìn lão, chỉ sợ lão chạm tay vào bụng, sợ cánh tay già nua dữ tợn của lão 
sẽ 
đập bung cái bụng của cô ra mà soi dưới ánh mặt trời đang chiếu rọi gay gắt 
trên 
đồi.
Lão hỏi khẽ:
- Có chửa từ khi nào?
Cô bướng bỉnh và dối trá:
- Từ khi sắp đi.
-Vậy mấy tháng nữa sẽ đẻ?
- Tôi không biết. Phải chờ thôi.
Lão cũng biết là phải chờ. Không thể lôi nó ra lúc này được để xem nó là cái 
giống nào.
Lão cứ đi như bị thôi miên trong nghĩa địa.
Lão đã tự khoanh cho mình một mảnh, là cái mộ gió mà lão vừa vấp, cho cô vợ trẻ 
con một mảnh bên cạnh, đều nằm gần ngôi mộ của bà mẹ đi hát ăn xin.
Nắng đã tắt từ lâu trên đồi. Từng cọng nhang cong cong hùa cùng với gió thơm 
mùi 
cỏ mật.   
Trong nhà, cô nhích mông trên tấm chiếu cói trải trên nền gạch hoa. Cô đã có 
giường đệm theo mốt Hàn Quốc. Có đủ thứ. Mà sao cứ nhớ cái tấm chiếu cói đêm 
đó, 
khi cánh tay gầy gò già nua của lão nhẹ nhàng lướt trên cơ thể cô.
Nhưng cô cũng chỉ nhớ là nhớ thế thôi, như kiểu người ta nhớ đến cái nhục cảm 
kinh hoàng đầu đời.
Cô cố tưởng tượng ra gương mặt anh ấy. Cố hình dung giọng hát của mình khi hát 
cho anh ấy nghe.  
Cô đã thì thầm với anh ấy:
“Em đã giữ lời hứa đến với anh. Hãy sống cùng em dù chỉ khoảnh khắc, cho em một 
sự sống đập cùng trái tim em và anh. Em sẽ không bao giờ khóc nữa. Rồi em sẽ 
trở 
về để làm vợ lão già ân nhân ấy, để sau này được nằm bên mẹ. Hãy quên em đi...”.
Lão cứ đứng trong khu nghĩa địa, tưởng tượng ra cảnh chôn mình.
Vào thời khắc ấy, cõi âm và cõi dương đang mở cửa giao hòa. Lão nhìn thấy bà mẹ 
vợ ngồi nghiêng trên mộ. Hóa ra bà khá đẹp và dịu dàng.
Lão bảo:
“Tôi trót làm con rể của bà. Nhưng cứ mạn phép mà nói, nếu ngày ấy bà đến sớm 
hơn, có khi bà không phải là mẹ vợ tôi cũng nên. Bà đi sớm nên tôi với nó cộc 
lệch quá. Con nó lẽ ra gọi tôi bằng ông mới phải...”.
Rồi lão cười ha ha. Còn cõi người thì đang thẫm dần, chìm dần trong từng cơn 
gió 
đêm cứ thổi tới.
Truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà

Other related posts: