[SMCC] Cay Dan Cua Thuy Kieu

Cây Đàn Của Thúy Kiều
 
Năm 1976, sau buổi nói chuyện của tôi về giá 
trị âm nhạc dân tộc Việt Nam tại 
trường âm nhạc Hà Nội, một giảng viên 
về văn học cho sinh viên trường nhạc
có đặt câu hỏi:" Từ lâu, tôi thắc mắc 
chẳng biết rõ Thúy Kiều dùng cây đàn gì? Xin anh 
giải đáp cho nếu anh có dịp nghiên cứu về 
vấn đề ấy?" Anh thắc mắc
là phải. Vì khi giới thiệu nhân vật Thúy Kiều, 
cụ Nguyễn Du đã cho chúng ta biết rằng:
 
Cung thương là bực ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một 
chương
 
mà hồ cầm thường dùng chỉ một cây đàn 
của " thợ Hồ" tức là không phải đàn Trung 
Quốc. Người Trung Quốc gọi đàn nhị là 
nhị hồ (erhu) hay là hồ cầm (huquin).
Nhưng đàn nhị chỉ có hai dây lại có cung kéo, 
đàn của Thúy Kiều có bốn dây, lại có khảy và 
nhấn. Khi đàn chi Kim Trọng nghe thì nàng đã:
 
So lần dây Vũ dây Vân
Bốn dây to nhỏ theo vần Cung Thương
 
lúc bị Hoạn Thư bắt thì phải đàn cho Thúc 
Sinh nghe:Bốn dây như khóc như thanKhiến người 
trên tiệc cũng tan nát lòngsau khi Từ Hải chết, 
nàng phải đàn cho
Hồ Tôn Hiến nghe thì:
 
Một cung gió tủi mưa sầu
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay
 
Ðã là hồ cầm mà có bốn dây thì chỉ có đàn tỳ 
bà - người Trung Quốc và Triều Tiên gọi là pipa, 
người Nhựt Bổn gọi là biwa. Người Trung 
Quốc cũng gọi đàn
pipa là huqin, tức là hồ cầm, vì đàn ấy không 
phải do người Trung Quốc chế ra mà của dân 
tộc vùng Tây á đem vào. Giáo sư Nhựt Tanabe Hisao và 
Kishibe Shigeo
cho rằng đàn pipa có thể bắt nguồn từ 
đàn barbat của người Ba Tư, đã theo con 
đường buôn bán tơ lụa ngày xưa mà nhập 
vào Trung Quốc, rồi sau đó sang Triều
Tiên, Nhựt Bổn, Việt Nam: chính vì vậy trong các 
quyển truyện Kim Vân Kiều, người ta 
thường vẽ Thúy Kiều ôm đàn tỳ bà.Khi Thúy 
Kiều đàn cho Hồ Tôn Hiến
nghe đến chảy máu năm đầu ngón tay, làm cho 
Hồ cũng ?nhăn mà rơi châu" , trước khi nàng 
được xin phép về, có than phận mình:
 
Còn chi nữa, cánh hoa tàn
Tơ lòng đã đứt, dây đàn Tiểu lân
Tiểu Lân là Phùng Tiểu Lân, vợ vua nước Tề, 
đàn tỳ bà rất hay. Sau khi nghe vua nước Tề 
bị giặc giết, vua Võ Ðế nhà Châu bắt Tiểu 
Lân gả cho vua Ðại Vương
tên Ðạt. Nhân khi đàn đứt dây, đã làm bài thơ: 
Tuy tụ kim nhựt sủng Du tích tích thời duyên Dục 
tri âm đoạn tuyệt Ưng khán tất thương 
huyền
 
Trong quyển Kim Túy Tình Từ, mà theo giáo sư Thuần Phong 
thì do chính cụ Nguyễn Du chú giải, có bài thơ nôm 
dịch như sau đây:
 
Tuy là yêu mến ngày nay
Hãy còn nhớ tiếc những ngày trước kia
Nếu muốn biết ruột gan lìa
Thì nên xem lấy dây kia trên đờn.
Cây đàn của Thúy Kiều chắc chắn sẽ là 
đàn tỳ bà, nếu không có câu:
 
Hiện sau treo sẵn cầm trăng
Vội vàng, Sanh đã tay nâng ngang mày
Kim Trọng thấy cây cầm trăng tức nguyệt 
cầm - gọi như thế là vì thùng đàn hình tròn 
như trăng rằm - đã nâng đàn ngang mày mời Thúy 
Kiều so dây nắm phím.
Thùng đàn tỳ bà hình bầu dục như nửa trái lê, 
làm sao tròn như trăng được? Nếu mà đàn 
nguyệt thì thùng đàn tròn mà đàn chỉ có hai dây lại 
không mang tên
là hồ cầm. Như thế không ổn chút nào cả. 
Huống chi là dưới thời cụ Nguyễn Du, 
tức là vào khoảng gần nửa thế kỷ thứ 
18, thì nước ta có một cây đàn mà thùng
tròn, cần dài mang tên là " cái đàn song vận" . Trong sách 
Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Ðình Hổ, có nói đến 
?đàn đáy, đàn tranh gảy bằng tiếng tơ" , 
và "
gần đây mới chuộng đàn nguyệt, thứ 
hồ cầm đời cổ còn gọi tên đàn là 
Nguyễn cầm" , bởi ông Nguyễn Hàm đời 
Tấn chế ra, mà không nói đến cái đàn song vân.
Chỉ trong bộ Ðại Thanh hội điển sử 
lệ, quyển 528, tờ số ba, có đoạn nói 
về dàn nhạc nước ta, sang ở tại triều 
nhà Thanh từ năm 1789, gọi là An Nam quốc
nhạc, đến năm 1804 đổi tên là Việt Nam 
quốc nhạc, có nhiều cây đàn mà người Trung 
Quốc đã ghi tên bằng chữ nôm: một cái cổ 
(trống), một cái phách (sinh
tiền), hai cái sáo, một cái đàn huyền tử (đàn 
tam), một cái đàn hồ cầm (đàn nhị), một 
cái đàn song vận hay là đàn nguyệt cầm, một 
cái đàn tỳ bà, một cái
đàn tam âm la (3 cái thanh la nhỏ). Nếu là đàn 
nguyệt thì tên nó là cái đàn song vận, mà lại không 
thể gọi là hồ cầm. Như vậy thứ cây 
đàn của Thúy Kiều
chỉ có thể là Nguyễn cầm, vừa có thùng tròn 
như đàn nguyệt, có 4 dây thuộc về loại 
tỳ bà, mà cũng gọi là hồ cầm. Sách Thích Danh, 
về cây đàn tỳ bà, có
chép rằng tỳ bà có ba loại: tứ huyền tỳ bà 
- thùng bầu dục có 4 dây, ngũ huyền tỳ bà - hình 
dáng như cây trước mà có 5 dây - người Triều 
Tiên cũng gọi
là Hương tỳ bà - tức là tỳ bà của Triều 
Tiên, và Nguyễn cầm thùng tròn và có 4 dây to. Nguyễn 
cầm thì nay không còn thấy ở Trung Quốc, mà tại 
viện bảo
tàng viện Shosoin ở tỉnh Nara ( Nhựt Bổn) còn 
nhiều cây Nguyễn cầm thời xưa.
 
Tôi lại nói thêm tin chắc rằng Thúy Kiều đã dùng 
cây Nguyễn cầm, khi tôi đọc một bài thơ 
chữ Hán của cụ Nguyễn Du, " Long thành cầm 
giả ca" , in trong quyển
thứ ba Hợp tuyển văn thơ Việt Nam, tại 
Hà Nội năm 1963, trong đó cụ cũng để 
trong tay một người đàn bà ở Long Thành cây 
đàn Nguyễn cầm.
 
Long Thành giai nhân
Tính thị bất kỳ danh
Ðộc thiện Nguyễn cầm
Cử thành chi nhân dĩ cầm danh
 
(người đẹp ở Long Thành, không biết tên 
họ là chi, mà tiếng đàn Nguyễn cầm rất hay, 
nên người trong thành đều gọi là Cô Cầm). 
Cụ đã gặp cô ấy hai mươi năm
về trước, lúc nhan sắc cô còn lộng lẫy, 
tiếng đàn điêu luyện đã làm sau mê các quan Tây 
Sơn trong buổi tiệc ở Hồ Giám. Khi Nguyễn 
Văn Thành, quan tổng
trấn của nhà Nguyễn hội yến, trong buổi 
tiệc có cụ Nguyễn Du, cụ lại được 
nghe tiếng đàn của người đẹp năm 
xưa, mà nay nét mặt võ vàng, thần sắc khô khan.
Tóc cụ đã bạc trắng, mà tóc Cô Cầm cũng hoa 
râm. Cụ xúc động làm bài thơ ấy, trong đó có 
đoạn tả tiếng đàn của Cô Cầm:
 
Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến
Hoãn như sơ phong độ tùng lâm
Thanh như song hạc minh tại âm
Liệt như tiến phúc bi đồ toái tích lịch
Ai như Trang Tích, bệnh trung vi Việt ngâm...
 
Khương Hữa Dung đã dịch đoạn ấy ra 
như sau đây:
 
Dưới năm ngón cung đàn réo rắt
Trong như tiếng hạc kêu sương
Khoan như gió sớm lướt ngang rừng tùng
Mạnh như sấm sét đùng đùng
bia Tiến phúc nát từng mảnh con
Buồn như Trang Tích ốm mòn
ngâm tiếng Việt nỗi buồn quê xa...
 
Cụ Nguyển Du đã cảm xúc khi nghe tiếng đàn 
Nguyễn cầm của người đẹp Long Thành 
thưở nọ. Và cây Nguyễn cầm thời ấy có 
lẽ cũng được nhiều người ưa 
thích.
Cụ Nguyễn Du khi đặt trong tay nhân vật chính 
của truyện Kiều một cây đàn, mặc dù nhân 
vật đó theo sách xưa ở vào thời Gia Tĩnh 
triều Minh, tức là giữa
thế kỷ thứ 16, cũng đã nghĩ đến cây 
Nguyễn cầm, nên mới có những đoạn nói 
về cây hồ cầm 4 dây mà thùng tròn như trăng 
rằm.
 
Khi trả lời cho anh bạn giảng viên trường âm 
nhạc, tôi có nhắc đến sự tích của đàn 
tỳ bà, đến đoạn nói về cây đàn song 
vận trong bộ Ðại Thanh hội điển sự
lệ, đến quyển Vũ Trung Tùy Bút của Phạm 
Ðình Hổ, đến bài Long Thành cầm giả ca, có 
chổ gọi là bài Cầm giả dân, để kết 
luận cây đàn của Thúy Kiều không
thể là cây đàn tỳ bà, hay là đàn nguyệt, chính là 
cây Nguyễn cầm mà ngày nay đã thất truyền.
 
GS Trần Văn Khê

       
---------------------------------
You snooze, you lose. Get messages ASAP with AutoCheck
 in the all-new Yahoo! Mail Beta. 

Other related posts: