[SMCC] Re: Cai bung chua tinh than

người ta chữ nhiều thì phạch bụng phơi sách... Mình chữ ít thì lâu lâu xòe tay 
phơi chữ vừa đầy 1 bụm hehehehe
Tran Ba Thien
tranbathien@xxxxxxxxx
  ----- Original Message ----- 
  From: Nguyen Hong Van 
  To: smcc@xxxxxxxxxxxxx 
  Sent: Tuesday, January 26, 2010 06:37 PM
  Subject: [SMCC] Cai bung chua tinh than



  Tiếng nước tôi

  Cái bụng chứa... tinh thần

  TT - 1. Ðọc tít bài báo này chắc có bạn nghĩ bụng lại chuyện gì nữa đây? Nếu 
trong bụng còn nửa tin nửa ngờ xin bạn cũng đừng nóng lòng, sốt ruột, hãy bền 
lòng đọc tiếp và trước hết trả lời câu hỏi sau: Xin bạn vui lòng cho biết có 
thể tìm được những từ tiếng Anh, Pháp, Nga... chỉ bộ phận cơ thể con người ứng 
với "bụng", "lòng", "ruột"... của tiếng Việt để dịch những từ ngữ viết nghiêng 
trên đây được không? 


  Tôi nghĩ là không. Nếu bạn tìm được những trường hợp như vậy, xin đừng giữ 
trong bụng. Hãy nói ra, tôi sẵn lòng và hài lòng lắng nghe, vì tin rằng bạn 
không có bụng dạ gì. Nếu bạn đúng, dù hơi phiền lòng nhưng vì tôn trọng chân lý 
nên tôi buộc lòng chấp nhận và ghi lòng tạc dạ những điều tôi chưa hiểu thấu 
đáo. 

  Với những điều chưa thỏa đáng, tôi xin được nói lại, mong bạn đừng mếch lòng 
và cũng đừng để bụng làm gì. Vậy tôi cứ viết miễn sao các bạn ưng cái bụng là 
tốt lắm rồi.





  2. Phần lớn cách dùng từ lòng trong tiếng Việt theo nghĩa bóng lại chuyển 
thành từ tim trong tiếng Anh, Pháp hoặc Nga... Vì sao vậy?

  Lý thuyết ẩn dụ trong ngôn ngữ học hiện đại cho rằng con người là một vật 
chứa và thể hiện sự trải nghiệm thế giới vào ngôn ngữ. Tiếng Việt là một trường 
hợp điển hình.

  Với người Việt, cái bụng là vật chứa tiêu biểu, nó chứa đựng và thể hiện 
những gì thuộc phạm trù tinh thần. Một chứng cứ là trong kho giai thoại Việt 
từng có người cởi trần nằm ngoài nắng để "phơi sách" - phơi chữ trong bụng. 
Những người lắm chữ nghĩa được coi là đầy một bụng sách. Mới rồi Nguyễn Quang 
Sáng viết "Ðúng là quên nhiều... 

  Nhưng viết lại khác, cái gì mình muốn viết nó nằm trong bụng rồi, chỉ cần 
khui ra thôi" (Tuổi Trẻ 13-1-2010). Trong tiếng Việt, bụng và những bộ phận của 
cái bụng lòng, dạ, gan, ruột,... trở thành biểu tượng cho phạm trù tinh thần. 
Chúng là một công cụ biểu hiện tư duy, tâm lý, tình cảm, ý chí, sức chịu đựng.

  Từ lòng được dùng rộng rãi nhất, biểu hiện được tất cả những cung bậc tình 
cảm con người. Thể hiện tình cảm mong muốn, khát khao của thời thanh niên sôi 
nổi chúng ta hát: "Lòng ta hằng mong muốn và ước mơ/Bàn tay son sắt dâng cao 
ngọn cờ".

  Khi vui sướng, người ta mở cờ trong bụng. Ðược khen, dù biết đó chỉ là những 
lời nói lấy lòng ta thường vẫn hởi lòng hởi dạ, mát lòng mát dạ, nở từng khúc 
ruột.

  Lúc yêu thương, say mê bạn khác giới là ta đã phải lòng họ rồi. Khi buồn 
thương chỉ nghe tiếng cuốc kêu là lòng buồn tái tê, lòng đau như cắt. Trước 
cảnh bất hạnh, dễ thấy mủi lòng, chạnh lòng". Lúc lo lắng, bồn chồn đợi chờ thì 
lòng như lửa đốt. 

  Tin dữ làm ta sợ mất mật. Lúc khó chịu, không bằng lòng thì cãi lại. Tức giận 
nhau vẫn có thể bằng mặt đấy nhưng chẳng bằng lòng. Chuyện mẹ chồng nàng dâu, 
dì ghẻ con chồng thường do khác máu tanh lòng.
   

  Trong tiếng nói nhiều dân tộc khác, người ta dùng từ "tim" để biểu hiện điều 
này. Người Việt nói "học thuộc lòng bài thơ" thì người Anh lại nói "học thuộc 
bài thơ bằng trái tim". Không nhiều ẩn dụ được người Anh thể hiện qua các từ 
ngực, lồng ngực, tụy, đại tràng, ruột (he busted a gut laughing, nó cười đau cả 
ruột). 

  Trong tiếng Việt cũng xuất hiện không ít từ tâm, tim với ý nghĩa biểu trưng 
(khẩu phật tâm xà, một túp lều tranh hai trái tim vàng, hiến dâng con tim và 
khối óc cho Tổ quốc...). Tâm là một từ Hán - Việt. Theo Nguyễn Ðức Tồn, cách 
dùng từ tim theo nghĩa bóng có lẽ được du nhập từ các nền văn hóa khác trong 
mấy thế kỷ gần đây.


  3. Cùng biểu thị phạm trù tinh thần, nhưng mỗi bộ phận lòng, dạ, ruột, gan... 
lại nhấn mạnh một mặt nào đấy.

  Nhìn một người theo bề ngoài, thấy mặt nhưng không thể thấy lòng, dạ, ruột, 
gan... nên những từ này có một điểm chung là biểu thị những trạng thái tinh 
thần thầm kín. Cũng vì vậy, có hàng loạt từ ghép các yếu tố này: gan dạ, lòng 
dạ, bụng dạ, ruột gan... Các thầy giáo thì bụng dạ cũng đại khái như thế (Tô 
Hoài); "Lại một lần nữa, ruột gan cô Thúy không kìm được sự hồi hộp" (Ngô Tất 
Tố).

  Từ dạ có khả năng diễn đạt những mức độ của trạng thái tinh thần: chột dạ, 
nhẹ dạ, vững dạ...; "Năm mười ba tuổi, tôi xin ra khỏi nhà trường. Tôi thấy 
rằng dù còn trẻ người non dạ thì tôi cũng đã đủ tư cách kiếm lấy mà ăn" (Vũ 
Trọng Phụng).

  Bụng, dạ nhấn mạnh tới những điều thầm kín trong tâm tư: ghi lòng tạc dạ, 
thậm chí sống để dạ, chết mang đi.

  Bụng còn để tư duy. Khi suy xét, đánh giá một điều gì đó nhưng không nói ra 
là bạn nghĩ bụng. Có ý định làm một việc gì đó là ta đã định bụng. Tự nhủ mình 
là bụng bảo dạ, tự làm mình hoảng sợ là bụng nát dạ. Trong tế lễ ma chay nhiều 
người tin rằng cõi dương sao thì cõi âm vậy ấy là đã suy bụng ta ra bụng... 
thần.

  Dạ còn chỉ khả năng ghi nhận. Học hành mau hiểu, mau nhớ là sáng dạ. Người 
tối dạ thì ngược lại.

  Từ ruột, ruột gan nhấn mạnh tới sự chịu đựng về tình cảm.

  Cao thấp nát gan con sóng lượn,
  Ngạt ngào đứt ruột tiếng chim kêu

  (Hồ Biểu Chánh)

  Khi lo lắng, ruột gan rối như tơ vò. Con hư thì bố mẹ đứt từng khúc ruột. Bị 
chọc quê đau, ta có thể ứa gan lộn ruột, buốt ruột buốt gan. Nhiều khi tức đến 
"tím gan, tím ruột với trời xanh" (Nguyễn Khuyến).

  Gan nhấn mạnh tới ý chí mạnh mẽ, bền bỉ, không lùi bước trước khó khăn, hiểm 
nguy. Ðó là gan con cóc tía dẫn đàn súc vật lên kiện trời đòi mưa. Người non 
gan thường không làm được việc lớn. Có chí làm quan, có gan làm giàu. Những 
người cả gan là những người liều lĩnh, dám làm những việc động trời khác người: 
"Thuở nay người giàu sang thường kiếm con nhà giàu sang mà cưới, chớ có ai cả 
gan dám tính cưới con nhà nghèo hèn bao giờ (Hồ Biểu Chánh). 

  Giới nữ thường mềm yếu, hiếm thấy những ai như trong Bão biển của Chu văn: 
"Nó đánh cán bộ mình mà một con đàn bà trời giáng mặt sứa gan lim, hỏi cung hai 
lần, nó nhất định không khai". Trong Cát bụi chân ai, Tô Hoài nhiều lần dùng từ 
gan biểu trưng cho ý chí: "Các cậu này to gan, liều quá"; "Vẻ thản nhiên trơ 
gan cùng tuế nguyệt của cảnh vật gợi một nỗi buồn thê lương"; "Cô nào kiên gan 
lắm cũng chỉ đi dạy, đứng bán mậu dịch bách hóa được ít lâu rồi bỏ về"; "Mấy 
tên lính Thái gan lì vẫn dai dẳng bắn xuống phát một."...

  Trong tâm thức người Việt, cái bụng và lục phủ ngũ tạng chứa đựng tinh thần 
là như vậy.  

  NGUYỄN ĐỨC DÂN
   
    
  ISSN                18...        Liên hệ Newsletter Quảng cáo Tuổi Trẻ Mobi 
Áo trắng Tuổi Trẻ Cười Tuổi Trẻ Cuối Tuần Thứ Ba, 26/01/2010, 18:23 (GMT+7)  
Đặt Tuổi Trẻ làm trang chủ    Off Telex VNI        Chính trị - Xã hội   Thư 
viện pháp luật Chính trị - Xã hội Người Việt xa quê Pháp luật Sống khỏe Bạn Đọc 
Viết Thế giới   Thế giới muôn màu Chuyện chiều thứ 7 Thế giới Hồ sơ Quan sát & 
Bình luận Thể thao   EURO 2008 SEA Games 25 SEA Games 24 Thể thao Giáo dục   
Nhịp cầu du học Tư vấn du học Tuyển sinh Giáo dục Khoa học   Khoa học - Môi 
trường Nhịp sống số   Nhịp sống số Kinh tế   Địa ốc Chứng khoán Kinh tế Du Lịch 
Văn hóa - Giải trí   Thiệp online Tủ sách Tuổi Trẻ Văn hóa - Giải trí Media 
Online Nhịp sống trẻ   Làm đẹp - Thời trang Việc làm Online Nhịp sống trẻ Tình 
yêu - Lối sống Văn hóa - Giải trí
   Thứ Ba, 26/01/2010, 05:20 (GMT+7)

  Tiếng nước tôi

  Cái bụng chứa... tinh thần

  TT - 1. Ðọc tít bài báo này chắc có bạn nghĩ bụng lại chuyện gì nữa đây? Nếu 
trong bụng còn nửa tin nửa ngờ xin bạn cũng đừng nóng lòng, sốt ruột, hãy bền 
lòng đọc tiếp và trước hết trả lời câu hỏi sau: Xin bạn vui lòng cho biết có 
thể tìm được những từ tiếng Anh, Pháp, Nga... chỉ bộ phận cơ thể con người ứng 
với "bụng", "lòng", "ruột"... của tiếng Việt để dịch những từ ngữ viết nghiêng 
trên đây được không? 


  Tôi nghĩ là không. Nếu bạn tìm được những trường hợp như vậy, xin đừng giữ 
trong bụng. Hãy nói ra, tôi sẵn lòng và hài lòng lắng nghe, vì tin rằng bạn 
không có bụng dạ gì. Nếu bạn đúng, dù hơi phiền lòng nhưng vì tôn trọng chân lý 
nên tôi buộc lòng chấp nhận và ghi lòng tạc dạ những điều tôi chưa hiểu thấu 
đáo. 

  Với những điều chưa thỏa đáng, tôi xin được nói lại, mong bạn đừng mếch lòng 
và cũng đừng để bụng làm gì. Vậy tôi cứ viết miễn sao các bạn ưng cái bụng là 
tốt lắm rồi.





  2. Phần lớn cách dùng từ lòng trong tiếng Việt theo nghĩa bóng lại chuyển 
thành từ tim trong tiếng Anh, Pháp hoặc Nga... Vì sao vậy?

  Lý thuyết ẩn dụ trong ngôn ngữ học hiện đại cho rằng con người là một vật 
chứa và thể hiện sự trải nghiệm thế giới vào ngôn ngữ. Tiếng Việt là một trường 
hợp điển hình.

  Với người Việt, cái bụng là vật chứa tiêu biểu, nó chứa đựng và thể hiện 
những gì thuộc phạm trù tinh thần. Một chứng cứ là trong kho giai thoại Việt 
từng có người cởi trần nằm ngoài nắng để "phơi sách" - phơi chữ trong bụng. 
Những người lắm chữ nghĩa được coi là đầy một bụng sách. Mới rồi Nguyễn Quang 
Sáng viết "Ðúng là quên nhiều... 

  Nhưng viết lại khác, cái gì mình muốn viết nó nằm trong bụng rồi, chỉ cần 
khui ra thôi" (Tuổi Trẻ 13-1-2010). Trong tiếng Việt, bụng và những bộ phận của 
cái bụng lòng, dạ, gan, ruột,... trở thành biểu tượng cho phạm trù tinh thần. 
Chúng là một công cụ biểu hiện tư duy, tâm lý, tình cảm, ý chí, sức chịu đựng.

  Từ lòng được dùng rộng rãi nhất, biểu hiện được tất cả những cung bậc tình 
cảm con người. Thể hiện tình cảm mong muốn, khát khao của thời thanh niên sôi 
nổi chúng ta hát: "Lòng ta hằng mong muốn và ước mơ/Bàn tay son sắt dâng cao 
ngọn cờ".

  Khi vui sướng, người ta mở cờ trong bụng. Ðược khen, dù biết đó chỉ là những 
lời nói lấy lòng ta thường vẫn hởi lòng hởi dạ, mát lòng mát dạ, nở từng khúc 
ruột.

  Lúc yêu thương, say mê bạn khác giới là ta đã phải lòng họ rồi. Khi buồn 
thương chỉ nghe tiếng cuốc kêu là lòng buồn tái tê, lòng đau như cắt. Trước 
cảnh bất hạnh, dễ thấy mủi lòng, chạnh lòng". Lúc lo lắng, bồn chồn đợi chờ thì 
lòng như lửa đốt. 

  Tin dữ làm ta sợ mất mật. Lúc khó chịu, không bằng lòng thì cãi lại. Tức giận 
nhau vẫn có thể bằng mặt đấy nhưng chẳng bằng lòng. Chuyện mẹ chồng nàng dâu, 
dì ghẻ con chồng thường do khác máu tanh lòng.
   

  Trong tiếng nói nhiều dân tộc khác, người ta dùng từ "tim" để biểu hiện điều 
này. Người Việt nói "học thuộc lòng bài thơ" thì người Anh lại nói "học thuộc 
bài thơ bằng trái tim". Không nhiều ẩn dụ được người Anh thể hiện qua các từ 
ngực, lồng ngực, tụy, đại tràng, ruột (he busted a gut laughing, nó cười đau cả 
ruột). 

  Trong tiếng Việt cũng xuất hiện không ít từ tâm, tim với ý nghĩa biểu trưng 
(khẩu phật tâm xà, một túp lều tranh hai trái tim vàng, hiến dâng con tim và 
khối óc cho Tổ quốc...). Tâm là một từ Hán - Việt. Theo Nguyễn Ðức Tồn, cách 
dùng từ tim theo nghĩa bóng có lẽ được du nhập từ các nền văn hóa khác trong 
mấy thế kỷ gần đây.


  3. Cùng biểu thị phạm trù tinh thần, nhưng mỗi bộ phận lòng, dạ, ruột, gan... 
lại nhấn mạnh một mặt nào đấy.

  Nhìn một người theo bề ngoài, thấy mặt nhưng không thể thấy lòng, dạ, ruột, 
gan... nên những từ này có một điểm chung là biểu thị những trạng thái tinh 
thần thầm kín. Cũng vì vậy, có hàng loạt từ ghép các yếu tố này: gan dạ, lòng 
dạ, bụng dạ, ruột gan... Các thầy giáo thì bụng dạ cũng đại khái như thế (Tô 
Hoài); "Lại một lần nữa, ruột gan cô Thúy không kìm được sự hồi hộp" (Ngô Tất 
Tố).

  Từ dạ có khả năng diễn đạt những mức độ của trạng thái tinh thần: chột dạ, 
nhẹ dạ, vững dạ...; "Năm mười ba tuổi, tôi xin ra khỏi nhà trường. Tôi thấy 
rằng dù còn trẻ người non dạ thì tôi cũng đã đủ tư cách kiếm lấy mà ăn" (Vũ 
Trọng Phụng).

  Bụng, dạ nhấn mạnh tới những điều thầm kín trong tâm tư: ghi lòng tạc dạ, 
thậm chí sống để dạ, chết mang đi.

  Bụng còn để tư duy. Khi suy xét, đánh giá một điều gì đó nhưng không nói ra 
là bạn nghĩ bụng. Có ý định làm một việc gì đó là ta đã định bụng. Tự nhủ mình 
là bụng bảo dạ, tự làm mình hoảng sợ là bụng nát dạ. Trong tế lễ ma chay nhiều 
người tin rằng cõi dương sao thì cõi âm vậy ấy là đã suy bụng ta ra bụng... 
thần.

  Dạ còn chỉ khả năng ghi nhận. Học hành mau hiểu, mau nhớ là sáng dạ. Người 
tối dạ thì ngược lại.

  Từ ruột, ruột gan nhấn mạnh tới sự chịu đựng về tình cảm.

  Cao thấp nát gan con sóng lượn,
  Ngạt ngào đứt ruột tiếng chim kêu

  (Hồ Biểu Chánh)

  Khi lo lắng, ruột gan rối như tơ vò. Con hư thì bố mẹ đứt từng khúc ruột. Bị 
chọc quê đau, ta có thể ứa gan lộn ruột, buốt ruột buốt gan. Nhiều khi tức đến 
"tím gan, tím ruột với trời xanh" (Nguyễn Khuyến).

  Gan nhấn mạnh tới ý chí mạnh mẽ, bền bỉ, không lùi bước trước khó khăn, hiểm 
nguy. Ðó là gan con cóc tía dẫn đàn súc vật lên kiện trời đòi mưa. Người non 
gan thường không làm được việc lớn. Có chí làm quan, có gan làm giàu. Những 
người cả gan là những người liều lĩnh, dám làm những việc động trời khác người: 
"Thuở nay người giàu sang thường kiếm con nhà giàu sang mà cưới, chớ có ai cả 
gan dám tính cưới con nhà nghèo hèn bao giờ (Hồ Biểu Chánh). 

  Giới nữ thường mềm yếu, hiếm thấy những ai như trong Bão biển của Chu văn: 
"Nó đánh cán bộ mình mà một con đàn bà trời giáng mặt sứa gan lim, hỏi cung hai 
lần, nó nhất định không khai". Trong Cát bụi chân ai, Tô Hoài nhiều lần dùng từ 
gan biểu trưng cho ý chí: "Các cậu này to gan, liều quá"; "Vẻ thản nhiên trơ 
gan cùng tuế nguyệt của cảnh vật gợi một nỗi buồn thê lương"; "Cô nào kiên gan 
lắm cũng chỉ đi dạy, đứng bán mậu dịch bách hóa được ít lâu rồi bỏ về"; "Mấy 
tên lính Thái gan lì vẫn dai dẳng bắn xuống phát một."...

  Trong tâm thức người Việt, cái bụng và lục phủ ngũ tạng chứa đựng tinh thần 
là như vậy.  

  NGUYỄN ĐỨC DÂN



  __________ Information from ESET NOD32 Antivirus, version of virus signature 
database 4807 (20100126) __________

  The message was checked by ESET NOD32 Antivirus.

  http://www.eset.com



__________ Information from ESET NOD32 Antivirus, version of virus signature 
database 4807 (20100126) __________

The message was checked by ESET NOD32 Antivirus.

http://www.eset.com

Other related posts: