[SMCC] Cach Xung Ho Bang Tieng Viet Trong Gia Dinh

:::Khải Chính Phạm Kim Thư :::
 
Cách Xưng Hô Bằng Tiếng Việt Áp Dụng Trong Gia 
Đình
 
Có người cho rằng việc xưng hô trong tiếng 
Việt rất phức tạp và gây phiền phức trong 
khi giao thiệp. Cứ " you, me" hay " toi, moi" ráo trọi 
như trong tiếng
Anh tiếng Pháp có phải tiện hơn không? Thực ra, 
cách xưng hô trong tiếng Việt không phức tạp và 
không phiền phức. Nó rất phong phú, rõ ràng, có tôn ti
trật tự, và rất văn minh. Cách xưng hô trong 
tiếng Việt tự nó không gây phiền phức. Nếu 
có phiền phức chăng nữa, đó là do người 
sử dụng nó không biết cách
mà thôi.
Cách xưng hô trong tiếng Việt tượng trưng cho 
một nền văn minh lâu đời về gia giáo và 
việc giao tế ngoài xã hội. Lễ phép và tôn ti trật 
tự phân minh là
cách để ta phân biệt giữa dân tộc có văn 
hiến lâu đời với dân tộc mới phát 
triển và giữa loài người với loài thú cùng 
bọn quỉ đỏ. Từ ngày có bọn quỉ 
đỏ,
tức là bọn Cộng Sản Việt Nam, việc 
xưng hô trong tiếng Việt đã bị bọn này phá 
hoại tận gốc rễ vì bọn chúng khuyến khích 
cách xưng hô bằng đồng chí, anh,
chị mà không kể tuổi tác, ngôi thứ, thân sơ, và 
không có tôn ty trật tự gì cả. Già cũng đồng 
chí và trẻ cũng đồng chí. Lớn tuổi cũng 
anh chị và nhỏ tuổi
cũng chị anh.
Để hiểu rõ cách xưng hô trong tiếng Việt, 
chúng ta hãy cùng nhau ôn lại phong tục Việt Nam về 
cách xưng hô. Trong phạm vi gia đình và họ hàng ta có cách
xưng hô riêng cho mỗi người. Trong xã hội cũng 
thế, ta có cách xưng hô đặc biệt dành cho 
từng người ta quen biết. Trong phạm vi bài này, 
chúng tôi trình
bày những điều liên quan đến cách xưng hô 
trong gia đình mà thôi.
 
I. Danh Xưng Dành Cho Mỗi Thứ Bậc về Liên Hệ 
Gia Đình
Người sinh ra ta được gọi là cha mẹ. Cha 
mẹ của cha mẹ, cô, dì, chú, và bác của ta 
được gọi là ông bà. Cha mẹ của ông bà 
được gọi là cụ. Cha mẹ của cụ 
được
gọi là kỵ. Các ông cha đời trước nữa 
được gọi là tổ tiên. Cha mẹ sinh ra các con. 
Những người con này là anh chị em ruột của 
nhau gồm có các anh trai,
các chị gái, các em trai , và các em gái.
Người con trai đầu lòng của cha mẹ mình 
gọi là anh cả (người Bắc và Trung) hay anh hai 
(người Nam). Anh hai còn có nghĩa là tiền trong 
nghĩa của câu: "
Trong túi không có anh hai thì không làm gì được." 
Người con gái đầu lòng của cha mẹ mình 
gọi là chị cả (người Bắc và Trung) hay 
chị hai (người Nam). Từ
chị cả còn có nghĩa là vợ cả trong ý của câu 
ca dao sau: " Thấy anh, em cũng muốn chào, / Sợ 
rằng chị cả giắt dao trong mình." Người con 
trai thứ hai gọi
là anh thứ (người Bắc và Trung) hay anh ba 
(người Nam). Từ anh ba còn được dùng 
để gọi một người đàn ông con trai nào 
đó như trong trường hợp của câu ca
dao sau:" Anh Ba kia hỡi anh Ba, /Đầu đội nón 
dứa tay bưng ba cơi trầu./ Trầu này em chẳng 
ăn đâu,/ Để thương để nhớ 
để sầu anh Ba, / Để em bác mẹ gả 
chồng
xa,/ Thà rằng lấy quách anh Ba cho gần!" Từ anh Ba còn 
để chỉ người đàn ông Hoa kiều.
Người con trai thứ bảy trong gia đình gọi là 
anh bảy (người Bắc). Từ anh bảy còn 
để gọi người Ấn Độ hay 
người Nam Dương.
Khi ta lấy vợ hay lấy chồng và sinh ra các con (con 
trai và con gái), con của các con ta gọi là cháu (sẽ nói rõ 
trong phần sau), con của cháu ta gọi là
chắt, con của chắt ta gọi là chút, và con của 
chút ta gọi là chít. Vợ của các con trai ta gọi là con 
dâu. Chồng của các con gái ta gọi là con rể.
Các anh chị em của cha mẹ ta gồm có: chú, bác, cô, dì, 
cậu, mợ, và dượng (sẽ nói rõ ở mục 
sau).
 
II. Cách Xưng Hô Trong Gia Đình
Thứ bậc 10 đời trong gia đình gồm có: 
tổ tiên, kỵ, cụ, ông bà, cha mẹ, con, cháu, chắt, 
chút, và chít. Con của chúng ta gọi chúng ta là cha mẹ. Con 
của
các con chúng ta gọi chúng ta là ông bà. Con của con gái chúng ta 
gọi chúng ta là ông bà ngoại, ông ngoại, bà ngoại, hay 
gọi tắt là ngoại. Con của con
trai chúng ta gọi chúng ta là ông bà nội, ông nội, bà 
nội, hay gọi tắt là nội. Chắt của chúng ta 
gọi chúng ta là cụ. Chút của chúng ta gọi chúng ta là
kỵ. Và chít của chúng ta gọi chúng ta là tổ tiên.
Danh xưng của hai gia đình có con cái lấy nhau gồm 
có: thông gia, thân gia, hay sui gia. Tiếng xưng hô giữa hai 
sui gia với nhau hay với bạn bè: ông bà
thông gia, ông bà thân gia, ông thân, bà thân, ông bà sui gia, ông sui, và bà 
sui.
 
1. Xưng Hô Với Cha Mẹ:
Tiếng gọi cha mẹ trong khi nói chuyện với 
bạn bè và trong lúc xưng hô với cha mẹ gồm có: 
bố mẹ, cha mẹ, ba má, ba me, cậu mợ, thầy 
me, thầy bu, thân sinh,
song thân, các cụ chúng tôi, ông bà nội các cháu, và ông bà 
ngoại các cháu, v.v.
Tiếng xưng hô với mẹ gồm có: má, mẹ, me, 
mệ, mợ, bu, u, vú, bầm, và đẻ, v.v Tiếng 
xưng hô với cha gồm có: bố, ba, thầy, cha, 
cậu, và tía, v.v.
Tiếng xưng hô với mẹ nhiều hơn tiếng 
xưng hô với cha. Điều này chứng tỏ 
người mẹ gần gũi các con nhiều hơn 
bố. Nhờ đó mà tình cảm giữa các con và mẹ 
đằm
thắm hơn và có nhiều tiếng để xưng hô 
hơn. Tiếng gọi cha mẹ vợ gồm có: ông bà 
nhạc, ông nhạc, bà nhạc, cha mẹ vợ, cha vợ, 
và mẹ vợ, v.v.
Tiếng gọi cha vợ khi nói chuyện với bạn 
gồm có: nhạc phụ, nhạc gia, bố vợ, ông 
nhạc, cha vợ, ông ngoại các cháu, và trượng nhân, 
v.v.
Tiếng gọi mẹ vợ khi nói chuyện với 
bạn bè gồm có: mẹ vợ, má vợ, bà nhạc, bà 
ngoại các cháu, nhạc mẫu, v.v.
Tiếng gọi cha mẹ chồng gồm: cha mẹ 
chồng, cha chồng, mẹ chồng, các cụ thân sinh 
của nhà tôi, ông bà nội của các cháu, và những từ 
giống như phần dành cho
cha mẹ mình. Khi nói chuyện với cha mẹ vợ hay cha 
mẹ chồng, tùy theo nề nếp gia đình, ta chỉ 
cần xưng hô như đã đề cập ở trên, 
trong phần xưng hô với mẹ
cha. Người chồng sau của mẹ mình gọi là cha 
ghẻ, kế phụ, cha, cậu, hay dượng. 
Người vợ sau của cha mình gọi là mẹ 
ghẻ, mẹ kế, hay kế mẫu.
 
2. Cách Xưng Hô Với Anh Chị Em của Cha Mẹ và Ông Bà
 
Anh của cha gọi là bác, em trai của cha là chú, chị 
của cha còn được gọi là bác gái. Em gái của 
cha là cô hay o (ca dao có câu " Một trăm ông chú không
lo, chỉ lo một nỗi mụ o nỏ mồm." ). Có 
nơi chị của cha cũng được gọi là cô 
hay o.
Anh của mẹ gọi là bác hay cậu, em trai của 
mẹ là cậu, chị của mẹ là già hay bác gái, và em 
gái của mẹ là dì. Có những gia đình bắt con cái 
gọi cậu và dì
bằng chú và cô vì muốn có sự thân thiết giống 
nhau giữa hai gia đình bên ngoại và bên nội, tức 
là bên nào cũng là bên nội cả.
Vợ của bác (anh của cha hay mẹ) gọi là bác gái, 
vợ của chú gọi là thím, và chồng của cô hay dì 
gọi là chú hay chú dượng hay dượng, chồng 
của bác gái hay
già gọi là bác hay bác dượng, và vợ của cậu 
là mợ.
Anh trai của ông bà nội và ông bà ngoại mình gọi là ông 
bác (bác của cha hay mẹ mình), em trai của ông nội và 
ông ngoại là ông chú (chú của cha hay mẹ mình),
chị của ông bà nội và ông bà ngoại hay vợ 
của ông bác gọi là bà bác, em gái của ông nội ông 
ngoại mình gọi là bà cô (cô của cha mẹ mình), em trai 
của bà
nội bà ngoại gọi là ông cậu (cậu của cha 
hay mẹ mình), em gái của bà nội bà ngoại gọi là 
bà dì (dì của cha mẹ mình), và chồng của bà cô và bà dì 
gọi là
ông dượng (dượng của cha hay mẹ mình). Tuy 
nhiên, trong lối xưng hô hàng ngày, người ta 
thường gọi giản tiện là chú, bác, ông hay bà 
để thay cho chú dượng,
bác gái, ông bác, ông chú, ông cậu, ông dượng, bà bác, bà cô, 
hay bà dì.
 
3. Xưng Hô Với Anh Chị Em:
 
Anh của vợ hay anh của chồng gọi là anh hay bác, 
còn khi nói chuyện với người khác thì dùng ông anh nhà 
tôi, anh của nhà tôi, anh vợ tôi , hay anh chồng
tôi. Tiếng anh chồng còn dùng để gọi chồng 
của một người đàn bà nào đó trong nghĩa 
của câu: Anh chồng thì đi vắng chỉ có chị 
vợ ở nhà mà thôi. Chị của
chồng hay chị của vợ gọi là chị hay bác, 
còn khi nói chuyện thì dùng chị chồng, chị vợ, bà 
chị của nhà tôi,v.v. Em trai của chồng hay vợ 
gọi là em hay
chú.
Em gái của chồng hay vợ gọi là em, cô, hay dì. Các 
từ bác, chú, cô hay dì trong các trường hợp xưng hô 
với anh chị là cách chúng ta gọi thế cho con mình
và có nghĩa là anh, chị, em của mình.
- Các tiếng xưng hô về chị em còn gồm có: 
Chị em gái: chị em toàn là gái. Chị em ruột: chị 
em cùng cha mẹ trong đó có em trai. Chị gái hay chị 
ruột: người
chị cùng cha mẹ. Chị họ: chị cùng họ 
với mình. Chị em chú bác, chị em con chú con bác, chị 
em thúc bá: các con gái và con trai của em trai và anh bố mình,
trong đó người con gái là chị. Chị em con cô con 
cậu: con gái và con trai của em gái bố và em trai mẹ, 
trong đó người con gái là chị. Chị em bạn dì, 
chị
em đôi con dì con già: các con gái và con trai của chị hay em 
gái mẹ trong đó con gái là chị. Chị em bạn dâu: 
chị em cùng làm dâu trong một nhà. Chị dâu:
vợ của anh mình.
 
- Các tiếng xưng hô về anh chị em gồm có: Anh 
chị là tiếng các em gọi anh chị hay cặp vợ 
chồng anh chị mình, tiếng cặp vợ chồng 
tự xưng với các em của họ,
tiếng gọi cặp vợ chồng của bạn mình, 
tiếng cha mẹ dùng để gọi vợ chồng con 
trai hay con gái mình, và tiếng dùng để gọi những 
kẻ ăn chơi giang hồ, cờ bạc
trong nghĩa của từ " dân anh chị." Anh chị em là 
tiếng người ta dùng để gọi các con trong gia 
đình như trong câu " Anh chị em nhà ấy có hiếu." 
Tiếng "
anh chị em" còn dùng để gọi chung đàn ông đàn 
bà hay con trai con gái trong nghĩa của câu " Hỡi các anh 
chị em nghe đây!" Anh chị em bạn dì hay anh chị
em đôi con dì con già để chỉ các con trai con gái 
của chị và em gái mẹ trong đó người con trai 
là anh. Anh em con chú con bác hay anh em thúc bá để chỉ
con trai con gái của em và anh bố mình, trong đó 
người con trai là anh. Anh em con cô con cậu để 
chỉ con trai con gái của em gái bố và em trai mẹ trong
đó người con trai là anh. Anh em bạn rể hay anh em 
cột chèo để chỉ các ông chồng của chị 
vợ hay em vợ. Anh rể : chồng của chị mình. 
Tất cả những người
con của anh và chị của cha đều là anh và chị 
của ta ( anh chị họ nội). Các người con 
của anh và chị của mẹ cũng là anh và chị 
của ta (anh chị họ ngoại)
 
- Các tiếng xưng hô về em gồm có: Em là tiếng 
chỉ các người con do cha mẹ sinh ra sau mình gồm 
có em trai em gái và là tiếng gọi các người con 
của cô, dì,
và chú của mình. Em dâu: vợ của em mình. Em rể: 
chồng của em mình. Em út: tiếng để chỉ 
người em cuối cùng do cha mẹ mình sinh ra. Tiếng 
em út còn có nghĩa
là đàn em, dùng để chỉ bộ hạ tay chân 
của người ta trong nghĩa của câu: " Đám em út 
của tôi sẽ giúp anh chuyện đó, đừng có lo." 
Họ nội và gia đình bên
nội là họ và gia đình của cha mình. Họ ngoại 
và gia đình bên ngoại là họ và gia đình bên mẹ mình.
 
4. Xưng Hô Với Vợ Chồng:
Tiếng xưng hô với vợ gồm có: em, cưng, mình, 
bu nó, má, má mày, má nó, má thằng cu, mẹ, mẹ nó, mẹ 
đĩ, nhà, bà, bà xã, bà nó, ấy, mợ, mợ nó, 
đằng ấy, v.v.
Tiếng gọi vợ trong khi nói chuyện với 
người khác gồm có: nhà tôi, bà nhà tôi, má tụi 
nhỏ, má sắp nhỏ, má bày trẻ, tiện nội, 
nội tướng tôi, bà xã, bà xã
tôi, và vợ tôi, v.v. Tiếng xưng hô với chồng 
gồm có: anh, cưng, anh nó, ba, ba nó, bố, bố nó, 
bố mày, bố thằng cu, đằng ấy, ông xã, 
cậu, cậu nó, ông, ông
nó, cụ, ấy, mình, v.v.
Tiếng gọi chồng trong khi nói chuyện với 
người khác gồm: nhà tôi, ông nhà tôi, ba tụi nhỏ, 
ba sắp nhỏ, ba bày nhỏ, phu quân tôi, ông xã, ông xã tôi, 
chồng
tôi, trượng phu tôi, anh ấy, v.v.
Tình vợ chồng người Việt rất đằm 
thắm, họ yêu nhau với tất cả chân tình, 
đối đãi với nhau rất lịch sự và 
tương kính. Những cặp vợ chồng có giáo 
dục không
bao giờ gọi nhau bằng mày và xưong tao. Họ tìm 
những lời lẽ dịu dàng đầy tình tứ yêu 
thương để gọi nhau. Chính vì thế mà 
tiếng xưng hô giữa vợ chồng người
Việt có rất nhiều, hơn hẳn tiếng xưng 
hô của vợ chồng người Tây phương. 
Những cặp vợ chồng có giáo dục không bao 
giờ chửi thề và văng tục với nhau, nhất
là trước mặt bạn bè.
 
5. Xưng Hô Với Con Cháu:
 
Con trai đầu lòng của mình gọi là con trai 
trưởng hay con trai trưởng nam (có người 
gọi một cách thân mật là cậu trưởng tôi, 
thằng trưởng nam nhà tôi).
Vợ của con trai là con dâu. Vợ con trai trưởng nam 
là con dâu trưởng. Con gái đầu lòng gọi là 
trưởng nữ. Chồng của con gái là con rể. 
Chồng của con gái
đầu lòng là con rể trưởng. Tất cả các 
con trai hay con gái kế tiếp được gọi la 
thứ nam hay thứ nữ. Người con được 
sinh ra trước tiên còn được gọi là con
cả hay con đầu lòng. Con trai hay con gái cuối cùng 
của gia đình gọi là con út, út nam, hay út nữ. Nếu 
vợ chồng chỉ có một con, trai hoặc gái, thì 
người
con đó được gọi là con một. Con của 
vợ hay của chồng có trước hay sau khi lấy 
nhau gọi là con ghẻ hay con riêng. Đứa con mới 
đẻ ra gọi là con đỏ. Con còn
nhỏ gọi là con mọn. Khi người đàn ông già 
rồi mới có con, người ta gọi cảnh đó là 
cảnh cha già con mọn. Con gia đình quyền thế 
gọi là con ông cháu cha.
Con của con trai mình gọi là cháu nội (cháu nội trai, 
cháu nội gái); con trai đầu lòng của con trai 
trưởng nam là cháu đích tôn, đích tôn thừa tự, 
hay
đích tôn thừa trọng, tức là cháu trưởng 
nối nghiệp lớn của ông bà và giữ việc 
thờ cúng tổ tiên sau này. Con của con gái mình gọi là 
cháu ngoại (cháu ngoại
trai, cháu ngoại gái).
 
III. Đặc Tính Lịch Sự và Lễ Phép Trong Cách 
Xưng Hô của Người Việt
 
Từ lâu đời, người Việt mình có truyền 
thống về lễ phép và lịch sự trong cách xưng 
hô. Các con cháu có lễ phép và có giáo dục thường 
biết đi thưa về trình
chứ không phải muốn đi thì đi muốn về 
thì về. Khi nói chuyện với bố mẹ và ông bà, con 
cháu thường dùng cách thưa gửi và gọi dạ 
bảo vâng chứ không bao giờ
nói trống không với người trên. Người 
Việt chúng ta thường dùng tiếng thưa 
trước khi xưng hô với người ở vai trên 
của ta, chẳng hạn như: " Thưa mẹ con
đi học. Thưa ông bà con đã về học. Thưa 
cô con về. Thưa ba, ba bảo con điều chi ạ?"
Khi trả lời bố mẹ hay ông bà, con cháu 
thường dùng chữ " dạ, ạ, vâng ạ, vâng." 
Nếu bà mẹ gọi con: " Tư ơi?" thì khi nghe 
thấy, người con phải thưa: " Dạ."
Nếu người mẹ nói tiếp: " Về ăn 
cơm!" người con phải nói: " Vâng." (người 
Bắc) hay " Dạ." (người Nam). Người ta còn 
dùng chữ " ạ" ở cuối câu để tỏ 
vẻ kính
trọng và lễ phép. Thí dụ:" Chào bác ạ! Vâng ạ!"
 
Trong cách xưng hô với người ở vai trên của 
ta, ta không bao giờ gọi tên tục (tên cha mẹ 
đạt cho) của ông bà, cha mẹ, cô cậu, dì 
dượng, và chú bác. Chúng
ta chỉ xưng hô bằng danh xưng ngôi thứ trong gia 
đình mà thôi. Nếu ông có tên là Hùng, ba có tên là Chính, và chú có 
tên là Tài chẳng hạn, ta chỉ nói là:"
Mời ông bà xơi cơm, mời ba má dùng trà, mời cô chú 
lại chơi."
 
Đối với người trên, chúng ta không 
được dùng tiếng " cái gì" để hỏi 
lại một cách trống không vì nó nghe có vẻ vô lễ. 
Người ta thường thế từ " cái gì" bằng
từ " điều chi" cho lịch sự và lễ 
độ. Thay vì hỏi: " Cái gì?" hay " Ba bảo con cái gì?" 
thì hỏi: " Ba bảo con điều chi ạ?" Từ " cái 
gì" chỉ sử dụng với
người ngang hàng mà thôi. Thí dụ: " Anh hỏi tôi cái gì?" 
hay " Chị nói cái gì vậy?"
 
Trong cách xưng hô với anh chị em, chúng ta dùng từ anh, 
chị, hay em đứng trước tên hay ngôi thư. Thí 
dụ: " Anh Hùng đi vắng, em An đang học bài, 
chị Kim
ra má bảo, v.v."
 
Các em không được phép gọi anh chị bằng tên 
trống không. Tuy nhiên, anh chị có thể gọi các em 
bằng tên trống không hay thêm từ em vào trước tên 
để gọi.
Thí dụ: " Hải ra chị bảo cái này!" hay " Em Hải 
ra chị bảo cái này!"
 
Anh chị em trong một gia đìng có giáo dục không 
gọi nhau bằng mày và xưng là tao bao giờ. Những 
người con gọi nhau bằng mày và xưng tao là do 
lỗi của bố
mẹ không biết dạy bảo các con ngay từ khi chúng 
còn nhỏ. Các con gọi nhau bằng mày xưng tao mãi 
rồi thành thói quen. Khi đã thành thói quen thì chúng không
thể đổi cách xưng hô cho đúng phép 
được.
 
Cha mẹ phải dạy con cái về cách xưng hô ngay 
từ khi chúng còn nhỏ. Muốn chúng chào ai, cha mẹ 
phải nói cho chúng biết cách chào và bắt chúng lập 
lại, chẳng
hạn như cha mẹ nói: " Chào bác đi con!" Các con sẽ 
nói: " Chào bác ạ!"
 
Khi có bà con họ hàng thân thuộc đến chơi nhà, cha 
mẹ phải giới thiệu họ với các con mình và 
nhắc chúng cách chào. Nếu các con mình chơi ở ngoài sân 
hay
ở trong buồng trong khi có thân nhân đến chơi nhà, 
ta phải gọi chúng ra để chào bà con.
 
Khi cha mẹ đến chơi nhà con cái, nếu trong nhà 
đang có khách, các con phải giới thiệu cha mẹ 
với khách và giới thiệu khách với cha mẹ. Có 
như thế việc xưng
hô trong câu chuyện mới tự nhiên và thân mật. Bận 
cho đến mấy hay bất cứ vì lý do gì, ta cũng 
phải thực hiện cho bằng được việc 
giới thiệu khi có khách
đến chơi nhà để mọi người 
biết nhau hầu tiện cho việc xưng hô. Những 
người ở vai trên hay bậc trên phải 
được giới thiệu trước.
 
Đối với trẻ, ta nên nhắc lại việc chào 
hỏi nhiều lần chứ đừng tưởng 
bảo chúng một lần mà chúng nhớ đâu. Chính vì 
thề mà một nhà giáo dục người Pháp đã 
viết
" La répétition est l' âme de l'enseignement" (Việc nhắc lại 
là linh hồn của việc giáo huấn). Về phạm vi 
giáo dục, việc " nhắc lại" hay " lập đi 
lập lại"
có nghĩa là ôn tập thường xuyên: văn ôn vũ 
luyện.
 
Có biết xưng hô đúng cách, bà con mới thân cận 
nhau. Không biết cách xưng hô, dần dần bà con sẽ 
xa lánh nhau. Có săn đón nhau bằng câu chào lời mời 
đúng
cách, tình gia đình họ hàng mới gắn bó lâu bền. 
Chính vì thế mà tục ngữ ta có câu: " Lời chào cao 
hơn mâm cỗ."
 
Trong việc dạy trẻ về cách xưng hô và chào 
hỏi, ta không nên quá khắt khe với chúng. Giải thích và 
khuyến khích là cách tốt nhất để dạy 
trẻ. Nếu chúng quen
cách xưng hô ở Bắc Mỹ này mà chào ta là " Hi Bác!" ta 
cũng đừng nổi giận mà chửi chúng. Trong 
trường hợp này, ta nên vui vẻ xoa đầu 
trẻ và chỉ cho chúng
cách chào cho đúng cách của người Việt: " Chào Bác 
ạ!" Đừng bao giờ nổi nóng với trẻ vì 
chúng chưa hiểu và cần phải được 
dạy dỗ. Khi ta nổi nóng lên là
phát cơn điên thì kẻ khôn hóa dại ngưới 
hiền hóa ngu.
 
Việc xưng hô và chào hỏi còn tùy thuộc ở sự 
thân tình nữa. Nếu ta thường xuyên thăm trẻ 
hay chăm nom và săn sóc trẻ với tất cả chân 
tình, trẻ sẽ cảm thấy
và tự nhiên chúng sẽ quí mến ta và vồn vã chào 
hỏi ta.
 
Việc dạy trẻ trong vấn đề xưng hô và 
chào hỏi cần phải kiên nhẫn, khéo léo, và có nghệ 
thuật. Không miễn cưỡng được. Nếu 
trẻ không muốn chào, ta phải từ
từ giải thích cho chúng hiểu. Khi hiểu, chúng sẽ 
vui vẻ chào khách. Đừng quá khắt khe với chúng 
kẻo ta mắc phải khuyết điểm " giáo đa 
thành oán."
 
---------------------------
Ghi Chú: Bài này được trích trong tác phẩm KIẾN 
VĂN của Khải Chính Phạm Kim Thư, xuất 
bản năm 2001 tại Canada.

       
---------------------------------
Moody friends. Drama queens. Your life? Nope! - their life, your story.
 Play Sims Stories at Yahoo! Games. 

Other related posts: