[SMCC] Bong Da Du Nhap Viet Nam The Nao?

      Bóng đá, môn thể thao vua được nhiều người yêu thích, đã theo chân người 
      Pháp du nhập vào Việt Nam vào khoảng năm 1896. Đầu tiên, môn bóng đá phát 
      triển tại Nam Kỳ, sau đó lan ra Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Đó là những dấu ấn 
đầu 
      tiên của Lịch sử bóng đá Việt Nam.

      Từ sơ khai đến 1954
      Bóng đá Nam Kỳ

      Những người chơi bóng đầu tiên ở Sài Gòn là những công chức, thương gia 
      hay binh lính người Pháp, sau đó, một số ít người Việt Nam cũng bắt đầu 
      tham gia. Họ tập hợp nhau lại thành câu lạc bộ, lấy tên là Cercle Sportif 
      Saigonnais. Quả bóng bầu dục xuất hiện lúc đầu sau được thay hẳn bằng 
bóng 
      tròn, sân chơi là công viên thành phố, còn gọi là Jardin de la Ville, nay 
      là sân *** Đàn.

      Năm 1905, đội bóng của chiến hạm Anh mang tên King Alfred ghé thăm Sài 
      Gòn, và đã đấu giao hữu với một đội gồm những cầu thủ người Pháp và Việt, 
      đây là trận bóng quốc tế đầu tiên tại Việt Nam.

      Năm 1906, E. Breton, một uỷ viên Pháp trong L'Union des Sociétés 
      Francaises des Sports Athlétiques đem luật bóng đá sang Việt Nam phổ 
biến, 
      và trong vai trò hội trưởng, ông đã chấn chỉnh lại Cercle Sportif 
      Saigonnais theo cách tổ chức của các câu lạc bộ bóng đá bên Pháp. Nhiều 
      câu lạc bộ khác được bắt chước thành lập và hoạt động, như: Infanterie, 
      Saigon Sport, Athletic Club, Stade Militaire, Tabert Club... Các giải 
bóng 
      đá cũng bắt đầu được tổ chức từ đó. Đội Cercle Sportif Saigonnais do được 
      tổ chức, huấn luyện có bài bản, nên đã liên tiếp thắng nhiều mùa giải 
      trong các năm: 1907, 1909, 1910, 1911, 1912, 1916...

      Nhiều người Việt nắm được luật và kỹ thuật bóng đá nên tự lập đội bóng 
của 
      mình. Hai đội bóng Việt Nam đầu tiên thành lập năm 1907 là Gia Định Sport 
      do các ông Ba Vẻ, Phú Khai dẫn dắt và đội thứ hai là Ngôi sao Xanh 
(Etoile 
      Bleue) của ông huyện Nguyễn Đình Trị, về sau hợp nhất lại thành đội Ngôi 
      sao Gia Định. Trước năm 1920, đội Ngôi sao Gia Định đã thắng tất cả các 
      đội bóng kể cả đội Cercle Sportif Saigonnais của ông Breton (1917), giành 
      Cúp vô địch.

      Ngoài ra còn có các đội như: Victoria Sportive, Commerce Sport, Jean 
      Comte, Sport Cholonaise, Khánh Hội Sport, Tân Định Sport, Gò Vấp, Hiệp 
      Hoà, Chợ Quán, Phú Nhuận, Đồng Nai, Enfants de Troupe...; ở các tỉnh có 
      các đội: Thủ Dầu Một, Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc, Gò Công, Châu Đốc, Mỹ 
      Tho... 
      Sân bãi cũng được phát triển thêm như sân Citadelle (tức sân Hoa Lư), sân 
      Renault (tức sân Thống Nhất); sân Fourières (ở Bà Chiểu, gần lăng Lê Văn 
      Duyệt), sân Mayer (góc đường Võ Thị Sáu - Trần Quốc Thảo), sân Marine (ở 
      gần Trung tâm Mắt thành phố Hồ Chí Minh)...

      Sau đó, giới hâm mộ và những nhà dẫn dắt hợp tác thành lập một Tổng cuộc 
      Bóng Đá riêng cho người Việt, bầu ông Nguyễn Đình Trị làm Trưởng ban Trị 
      sự, và mua đất làm sân riêng. Lúc ấy đã có một Tổng cuộc Bóng Đá do người 
      Pháp chủ trì, nên việc hợp tác giữa hai Tổng cuộc không thể thực hiện, 
      nhưng hai bên vẫn hợp tác tổ chức những cuộc thi đấu, như giải Vô địch 
Nam 
      Kỳ. Trong trận đấu giữa Cercle Sportif Saigonnais và Ngôi sao Gia Định 
năm 
      1925, trọng tài người Pháp đã đuổi cầu thủ Paul Thi ra khỏi sân, khiến 
cầu 
      thủ này của đội Ngôi sao Gia Định bị treo giò vĩnh viễn làm cho việc hợp 
      tác thêm khó khăn. Giải Vô địch Nam Kỳ bị gián đoạn trong nhiều năm, chỉ 
      bắt đầu lại năm 1932, với 6 đội người Việt và 3 đội người Pháp.

      Giai đoạn 1925-1935, đội Ngôi sao Gia Định tiếp tục nổi tiếng với các cầu 
      thủ như: Sách, Thơm, Nhiều, Quý, Tịnh, Xường, Trung, Thi, Vi, Mùi, Tiếc, 
      Rớt, Tài, Út, Danh, Giỏi, E. Quang... Trong thời gian này, có khoảng 29 
      giải bóng đá đủ loại được tổ chức, đội Ngôi sao Gia Định đăng quang vô 
      địch 8 lần, số còn lại chia đều cho các đội Victoria, Khánh Hội, Cercle 
      Sportif Saigonnais, Jean Comte, Auto-Hall (Nam), Commerce Sport, Thủ Dầu 
      Một...

      Khoảng năm 1932, ở Cần Thơ xuất hiện đội bóng đá nữ đầu tiên là đội Cái 
      Vồn do ông bầu Sửu (tức Trần Khắc Sửu) thành lập, vài năm sau, có thêm 
đội 
      Bà Trưng ở Rạch Giá - Long Xuyên. Năm 1933, đội nữ Cái Vồn thi đấu với 
đội 
      nam Paul Bert tại sân Mayer và hòa 2-2, lập nên một kỳ tích trong lịch sử 
      bóng đá Việt Nam.

      Giai đoạn 1945-1954, đội Ngôi sao Gia Định tiếp tục ngự trị trên bóng đá 
      Nam Kỳ với những cầu thủ xuất sắc khác như: Maurice Tài, Coón, Lý Đức, 
      Quới, Hiếu, Thọ 2, Tư, Mai, Mỹ, Thách, Thọ Ve, Bùi Nghẻn, Khê...

      Ngoài các giải, Cup được tổ chức tại Sài Gòn và ở các tỉnh, Tổng cuộc 
Bóng 
      Đá An Nam còn tổ chức tiếp đón nhiều đội bóng nước ngoài, và cử đội tuyển 
      đi thi đấu tại Thái Lan, Campuchia, Malaysia,... cao trào ấy đã làm môn 
      thể thao vua này lan rộng ra cả nước.

      Bóng đá Bắc Kỳ và Trung Kỳ

      Bóng đá xâm nhập Bắc Kỳ khoảng năm 1906-1907. Báo thời đó đề cập năm 
1909, 
      hai đội Lê Dương Đáp Cầu (Legion Đáp Cầu) và đội Olympique Hải Phòng đã 
      thi đấu với nhau. Trận đầu đội Olympique Hải Phòng thắng 2-1, nhưng ở lần 
      sau đội Lê Dương Đáp Cầu đã thắng lại đội Olympique Hải Phòng 8-1 trên 
sân 
      Hải Phòng.

      Tại Hà Nội, tháng 2 năm 1912, Câu lạc bộ Bóng đá Hà Nội (Stade Hanoien) 
ra 
      đời, gồm các cầu thủ người Việt và một số người Pháp như Menin, Megy, 
      Bernard, Bonardi... Về phía quân đội Pháp có các đội như Trung đoàn Bộ 
      binh Thuộc địa (Régiment d'Infanterie Coloniale, RIC), Ngôi Sao Xanh 
      (Étoile Bleue), Lê Dương Đáp Cầu, Lê Dương Việt Trì... Ngày 1 tháng 11 
năm 
      1913, đội Câu lạc bộ Bóng đá Hà Nội đá với Trung đoàn Bộ binh Thuộc địa, 
      kết quả đội bộ binh Pháp thắng 5-3.

      Những năm 1910-1920, các đội bóng ở Bắc Kỳ phát triển nhưng các trận đấu 
      thường diễn ra ở các bãi trống, như các ngã ba, ngã tư phố vắng... Về 
sau, 
      đội Chớp Nhoáng (Eclair) và Câu lạc bộ Bóng đá Hà Nội mới hợp tác lập ra 
      sân Nhà Dầu (gần cầu Long Biên). Còn sân Mangin (nay là sân Cột Cờ) là do 
      Quân đội Pháp quản lý và dùng cho các giải đấu chính thức.

      Giai đoạn 1930-1940, Hà Nội có các đội bóng như: Chớp Nhoáng (do Trần Văn 
      Quý cầm đầu), Câu lạc bộ Bóng đá Hà Nội, Racing Club, Lạc Long Ngọn giáo 
      (La Lance), Hoả Xa (Usaga), Trường Bưởi (Chu Văn An hiện nay), Đại học 
      (Université Club), Ngân Hàng, Ô-tô Han (Auto Hall). Hải Phòng có các đội 
      Voi vàng Đất cảng, Olympique Hải Phòng, Mũi Tên (La Flèche), Radium 
(Trung 
      Học), Thanh niên Bắc Kỳ (La Jeunesse Tonkinoise). Nam Định có đội Hồng 
      Bàng; Phủ Lý có đội Phủ Lý Thể thao; Lạng Sơn có đội Le Semeur.

      Miền Trung Việt Nam có các đội như ASNA (Vinh); Sept (Huế); Touranne và 
      Faifo Cheminot của Nha Trang. 

      27-01-2008, 01:38 PMGiai đoạn 1954-1975

      Thế chiến thứ hai và chiến tranh Việt - Pháp đã làm gián đoạn sự phát 
      triển bóng đá Việt Nam. Cho đến năm 1954, sau khi hiệp định Genève được 
ký 
      kết, phong trào bóng đá ở cả hai miền mới được phục hồi và phát triển trở 
      lại.
      Miền Bắc: Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

      Tại miền Bắc Việt Nam đội bóng đá Thể Công của Quân đội Nhân dân Việt Nam 
      thành lập ngày 23 tháng 9 năm 1954, nhiều năm liền đoạt chức vô địch.

      Năm 1960 Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (do cầu thủ của Trường Huấn 
      luyện quốc gia và đội Thể Công) được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên 
      Xô, Trung Quốc, Đức... đã đạt thành tích cao ở các giải Ganefo 
(Indonesia, 
      1963) và Ganefo Châu Á (Campuchia, 1966).

      Những cầu thủ nổi tiếng giai đoạn này: Thọ, Long, Phàn, Ngọc, Chính, 
Vinh, 
      Từ Hiển, Hùng (xồm), Khánh, Giáp, Thế Anh...
      Miền Nam: Việt Nam Cộng hoà

      Tại miền Nam Việt Nam, vào cuối thập kỷ 1950, đội bóng của Việt Nam Cộng 
      hòa đã trở thành 1 trong 4 cường quốc bóng tròn châu Á, khi lọt vào vòng 
      chung kết giải Vô địch châu Á 1960 cùng với Nam Hàn, Ấn Độ, Trung Hoa (do 
      Hồng Kông đại diện).

      Năm 1954, đội Ngôi sao Gia Định giải tán, nhóm cầu thủ về đầu quân cho 
AJS 
      (Association de la Jeunesse Sportive), hoặc đội Cảnh Sát.

      Từ năm 1960 đến năm 1966, đội bóng của Việt Nam Cộng hoà thường được xếp 
      hạng từ thứ ba đến thứ nhất trong các giải bóng đá tại châu Á. Đội bóng 
      của Việt Nam Cộng hoà, dưới sự hướng dẫn của huấn luyện viên Karl-Heinz 
      Weigang người Đức, đã đoạt Cúp Merdeka lần thứ 10 do Malaysia tổ chức năm 
      1966, với sự tham dự của 12 đội bóng của 12 nước.

      Đội AJS, đội Cảnh Sát, đội Tổng Tham Mưu (của Quân lực Việt Nam Cộng hòa) 
      và đội Quan Thuế luân phiên thống trị bóng đá miền Nam cho đến năm 1975.

      Giải vô địch thế giới

      * Năm 1974: Vòng loại cho Giải thế giới, khu vực châu Á

      VNCH - Đại Hàn: 0-4
      VNCH - Hồng Kông: 0-1
      VNCH - Thái Lan: 1-0
      27-01-2008, 01:41 PMThế vận hội
      * Năm 1963: Vòng loại cho Thế Vận Hội Tokyo 1964

      VNCH - Israel: 0-1 (tại Sài Gòn)
      Israel - VNCH: 0-2 (tại Tel Aviv)
      Đại Hàn - VNCH: 3-0 (tại (Seoul)
      VNCH - Đại Hàn: 2-2 (tại Sài Gòn)

      * Năm 1968: Vòng loại cho Thế Vận Hội Mexico 1968

      VNCH - Philippines: 10-0
      VNCH - Đài Loan: 3-0
      VNCH - Liban: 1-1
      Nhật Bản - VNCH: 1-0
      Đại Hàn - VNCH: 3-0
      Giải vô địch châu Á
      * Lần 1: năm 1956 (tại Hồng Kông), VNCH thua Israel và Đại Hàn, không 
vượt 
      qua vòng loại
      * Lần 2: năm 1960 (tại Hàn Quốc), VNCH đứng đầu bảng ở vòng loại, tại 
vòng 
      chung kết:

      VNCH - Đại Hàn: 1-5
      VNCH - Đài Loan: 1-3
      VNCH - Israel: 1-5

      Á vận hội (ASIAD)
      * Lần 1: năm 1951, (tại New Dehli), VNCH không tham dự
      * Lần 2: năm 1954, (tại Manila), VNCH không vượt qua vòng loại:

      VNCH - Philippines: 3-2
      VNCH - Hồng Kông: 1-2

      * Lần 3: năm 1958, (tại Tokyo)

      VNCH - Pakistan: 1-1
      VNCH - Malaysia: 6-1

      * Lần 4: năm 1962, (tại Jakarta), VNCH đứng thứ 4

      VNCH - Ấn Độ: 2-3 (ở trận bán kết)
      VNCH - Malaysia: 1-4 (ở trận tranh huy chương đồng)

      * Lần 5: 1966, (tại Bangkok), VNCH không vượt qua vòng loại
      * Lần 6: 1970, (tại Bangkok), VNCH không vượt qua vòng loại
      Cúp Merdeka

      Cúp Merdeka do Malaysia tổ chức, thường mời một số đội mạnh châu Á nên có 
      giá trị như một giải châu Á thu nhỏ.

      * Lần 10, năm 1966, 12 đội tham dự: VNCH đoạt cúp. Huấn luyện viên: 
      Karl-Heinz Weigang (Đức).

      SEA Games
      * Lần 1: năm 1954, (tại Bangkok), VNCH đoạt huy chương vàng

      VNCH - Thái Lan: 3-1

      * Lần 2: 1961, (tại Rangoon), VNCH đoạt huy chương đồng

      VNCH - Thái Lan: 0-0
      VNCH - Lào: 7-0

      * Lần 3: 1965, (tại Kuala Lumpur), VNCH đoạt huy chương đồng

      VNCH - Singapore: 4-1

      * Lần 4: năm 1967, (tại Bangkok), VNCH đoạt huy chương bạc

      VNCH - Miến Điện: 0-1

      * Lần 5: năm 1969, (tại Rangoon), VNCH hoà Thái Lan, đoạt huy chương đồng
      * Lần 6: năm 1971, (tại Kuala Lumpur), VNCH hoà Thái Lan, huy chương đồng
      * Lần 7: năm 1973, (tại Singapore), VNCH đoạt huy chương bạc

      VNCH - Miến Điện: 2-3

      * Lần 8: năm 1975, (tại Bangkok), Việt Nam không tham dự
      * Lần 22: năm 2003: Việt Nam đoạt huy chương vàng bảng nữ, và huy chương 
      bạc bảng nam. [1]

      Nam: Thái Lan - Việt Nam: 2 - 1
      Nữ: Việt Nam - Miến Điện: 2 - 1

      * Lần 23: năm 2005: Việt Nam đoạt huy chương vàng bảng nữ, và huy chương 
      bạc bảng nam. [2]

      Nam: Thái Lan - Việt Nam: 3 - 0
      Nữ: Việt Nam - Miến Điện: 1 - 0 

Other related posts: