[SMCC] Am Dieu Dan Toc Trong Chung Ta

Âm Điệu Dân Tộc Trong Chúng Ta
 
Tiến Sĩ Nguyễn Thuyết Phong
Institute for Vietnamese Music
 
Còn bao lâu nữa bạn có thể nghe câu Vọng Cổ trên 
đất Mỹ? Tôi đã nghe tiếng thở dài của 
một bạn trẻ trong trại họp bạn trong vùng 
Louisville, Kentucky, cách
đây vài năm. Tôi đã nghe tiếng kêu thống thiết 
của nghệ sĩ lão thành Việt Hùng, Mission Viejo, 
California. Tôi cũng đã nghe tiếng vọng từ tâm 
thức tôi
trong nhiều năm qua về âm điệu dân tộc có còn 
trong chúng ta như ngày nào đó không.
 
Tuy nhiên, không phải chỉ có câu Vọng Cổ, mà lo âu, 
thổn thức của nhiều người trong chúng ta 
dường như đang hướng về cả 
một truyền thống âm nhạc dân tộc
Việt Nam--trong hay ngoài nước. Tôi không nêu ra vấn 
đề ở đây rằng chúng ta phải làm gì cho âm 
nhạc truyền thống dân tộc. Vì đó là vấn 
đề quá lớn, vượt
ngoài tầm tay của chúng ta để giải quyết. 
Tôi chỉ xin bàn về thế nào một âm diệu 
được gọi là dân tộc và giá trị của nó 
trong tâm hồn chúng ta ra sao.
 
Âm Nhạc Dân Tộc hay Cổ Nhạc?
 
Danh từ nhạc dân tộc hiện nay tương 
đối thông dụng. Nhưng hiểu đúng đắn 
về nó không phải là chuyện dễ. Chúng ta còn có các 
từ ngữ khác như: cổ nhạc (hay
nhạc cổ), nhạc cổ điển, và nhạc 
truyền thống. Thậm chí có người còn gọi 
cải lương hoặc vọng cổ thay vì gọi 
nhạc dân tộc. Tôi nghĩ cần phải giải 
quyết vấn
đề danh xưng trước khi tìm hiểu về 
nội dung của nó.
 
Trước nhất, có lẽ do phản ứng tâm lý hay vì 
tính phân biệt mà danh từ dân tộc mới có mặt. 
Phản ứng nầy chỉ xuất hiện từ 
đầu thế kỷ 20 với từ cổ nhạc 
để
phân biệt với nhạc cải cách hay tân nhạc. Danh 
từ nhạc dân tộc có lẽ xuất hiện chậm 
hơn (vào nửa thế kỷ sau đó). Còn danh từ 
nhạc truyền thống do tôi thường
dùng trong 3 thập niên qua trong các buổi nói chuyện, 
diễn giảng trong các đại học, các sách hoặc 
bài viết. Các bạn người miền Nam thì thấy 
đâu đâu cũng
nghe người ta ca cải lương hay ca vọng 
cổ, vì thế sẽ nói chung chung là nhạc cải 
lương hay vọng cổ, dù rằng cải 
lương chỉ là 1 thể loại sân khấu trong
nhiều loại sân khấu trong cả nước Việt 
Nam; trong khi ấy vọng cổ chỉ là 1 trong nhiều 
bài bản của cải lương.
 
Sự bùng nổ của phong trào canh tân theo Tây học và 
sự có mặt của người Pháp trên đất 
nước ta vào thời thuộc địa đưa 
đến việc làm quen với nhạc Tây ở các
tỉnh, thành. Vì thế khoảng năm 1920 trở đi 
diễn ra tình trạng nhạc Tây hát lời ta. Tiếp theo 
tự sáng tác nhạc theo phong cách tây phương và hát 
lời Việt
gọi là nhạc cải cách, dần dà về sau gọi là 
tân nhạc, nhạc mới, hoặc gần đây hơn có 
người gọi là ca khúc 1. Trước tình huống 
trên, người ta bắt đầu phân
chia ranh giới "cũ" (cổ) và "mới" (tân). Vì thế, 
đờn ca tài tử, ca huế, ca trù, hay các loại 
nghệ thuật truyền thống dân tộc 
được gán cho danh từ cổ mà
hằng nghìn năm trước đây chưa từng có. 
Nếu nhận xét sâu xa hơn, chúng ta thấy đây là 
một hiện tượng quan trọng trong âm nhạc 
Việt Nam. Không những chỉ
là việc phân biệt cũ và mới, mà còn là một 
đấu tranh giữa hai khuynh hướng làm nhạc khác 
nhau. Kẻ theo mới tự cho mình là tiến bộ theo 
trào lưu thế giới,
người theo cũ cảm thấy bị thiệt thòi, 
mất mát, và thậm chí bị khinh chê là lỗi thời. 
Theo mới cũng có thể đồng nghĩa với lai 
căng, theo tây; bảo vệ cái
cũ có thể bị xem là lạc hậu, dậm chân 
tại chỗ. Đây là vấn đề bàn cải 
rất nhiều trong giới Dân tộc nhạc học 
(Ethnomusicology) khi phải định nghiã thế nào
là tân nhạc (hay nhạc lai căn hay lai văn-hoá--accultured 
music) đối trọng với nền nhạc truyền 
thống lâu đời trong một quốc gia.
 
Theo thiển ý tôi, tôi không thấy hợp lý khi gọi 
nhạc truyền thống của dân tộc Việt là 
nhạc cổ vì bản chất của nền âm nhạc 
nầy luôn biến thiên. Người ta
dùng từ cổ nhạc, chỉ với mục đích 
để nói cho ngắn gọn thôi. Nếu đem so 
với nền âm nhạc cổ (hay cổ 
điển--classical music) Tây phương, chúng ta sẽ 
thấy nhạc
cổ điển Tây phương là loại nhạc 
giữ nguyên dạng cũ, giữ vẻ cố 
định (tĩnh) theo ý muốn của các nhà soạn 
nhạc. Trong khi ấy, các bài bản truyền thống 
của
ta chỉ giữ cái làn diệu mẫu làm nền cho 
việc sáng tạo chữ nhạc mới (động). 
Lấy ví dụ, bài Vọng Cổ được diễn 
tả với hàng trăm âm điệu khác nhau. Hay bản
Long Ngâm (theo tục truyền do Trịnh Trọng Tử sáng 
tác năm 1310) hiện nay còn trình tấu trong nhạc cung 
đình Huế với một dạng rất có thể khác 
với khi xưa.
Vì thế, việc gọi một nền âm nhạc của 
dân tộc có mặt lâu đời trên đất 
nước ta là nhạc dân tộc hay nhạc truyền 
thống dân tộc nghe ra hợp lý hơn. Nó vừa tránh
được sự va chạm ý kiến cũ và mới, 
nó lại vừa phân biệt rõ ràng được nhạc 
của dân tộc ta đối với nhạc của các 
dân tộc khác trên thế giới.
 
Âm Điệu Dân Tộc: Cấu Trúc Cơ Bản
 
Chúng ta thường nghe nói, mỗi dân tộc có một 
nền âm nhạc với những đặc trưng 
của nó. Nhưng trong một quốc gia không chỉ có 
một dân tộc mà thôi, mà còn có
rất nhiều dân tộc sống chung trên một mãnh 
đất lịch sử dựng nước và giữ 
nước. Biên giới địa lý và biên giới dân 
tộc, vì thế, không hẳn phải đồng nghĩa
nhau. Trong lúc dự hội nghị Âm Nhạc và Giáo Dục 
tại viện đại học Nanyang ở Singapore, tôi 
gặp một bạn sinh viên ban Tiến Sĩ Vật Lý 
đang nghe nhạc bằng
Discman. Sau một lúc nói chuyện, tôi mới hiểu ra 
rằng anh ta đang nghe một CD nhạc của Madona và 
thích thú cho rằng đây là nhạc xứng đáng 
đại diện cho
nước Mỹ. Tôi mới hỏi anh ta có biết 
nhạc Blue Grass, Blues, Gospel, hay dân nhạc Apallachian hay không? 
Anh ta không biết tôi đang nói gì vì anh ta chưa
từng nghe những danh từ nầy bao giờ. Vì 
thế, nếu bảo rằng một Madona hay Michael Jackson 
là đại diện, biểu trưng cho âm nhạc của 
nước Mỹ quả là chuyện
hết sức sai lệch. Nó chứng tỏ sự hạn 
chế tầm kiến thức về dân tộc và những 
giá trị văn hóa độc đáo của nó. 
Nước Mỹ không chỉ có nhạc của một dân 
tộc đa
số (da trắng) hay một loại nhạc, mà trong 
ấy có nhiều truyền thống âm nhạc đa 
chủng hợp thành.
 
Đất nước Việt Nam gồm cả những 54 
dân tộc. Phải công minh mà cho rằng ngoài dân tộc 
đa số (Việt) còn có nhiều truyền thống âm 
nhạc khác của các dân tộc
thiểu số. Hiện nay nhạc của các dân tộc 
thiểu số nầy chưa được biết 
đến một cách thoả đáng hay nghiên cứu 
đầy đủ. Mà làm sao đi đến thoả 
đáng khi mà âm
nhạc của riêng người Việt là rừng là 
biển, chưa ai có thể với tới hết. Tình hình 
hiện nay không những chúng ta chưa hiểu hết, 
chưa nghiên cứu hết, mà thậm
chí còn hiểu lầm, ngộ nhận nữa. Như 
vậy, thế nào là âm điệu dân tộc?
 
Ở đây chúng ta chỉ bàn về âm điệu của 
dân tộc Việt và cụ thể chỉ nên đặt 
giới hạn ở mặt giai điệu, âm 
hưởng, và cấu trúc của nó thôi.
 
Cách tiến hành giai điệu của mỗi truyền 
thống âm nhạc các dân tộc trên thế giới rất 
khác nhau. Cái gì làm nhạc dân tộc ta khác với các dân 
tộc khác--ở trong
nước cũng như trên thế giới? Trước 
nhất, ta phải nói đến hai khía cạnh: thanh 
nhạc và khí nhạc. Nói một cách khác, âm thanh của các 
bài hát và làn điệu
của nhạc cụ là hai phần tử vừa bổ 
sung cho nhau, vừa có thể đứng độc lập 
nhau. Những bài dân ca, truyện kể nguyên trước 
đây không có nhạc đệm. Làm sao
có nhạc cụ đệm khi vừa làm việc ngoài 
đồng áng, tay lấm chân bùn, hoặc hò chèo thuyền 
trên sông, mà vừa có nhạc đệm? Ngay cả trong hát 
quan họ, một thể
loại dân ca điển hình, hát trong lễ hội Lim, mà 
người ta cũng không dùng nhạc cụ đệm. 
Khi đi vào nhạc thính phòng (ca trù, ca huế, tài tử) bài 
hát và khí
nhạc mới quyện lấy nhau. Rồi từ đó 
lại nẩy sinh ra hòa tấu nhạc cụ riêng lẻ 
dựa vào các bài hát đã có.
 
Tuy nhiên, dù là thanh nhạc hay khí nhạc, âm điệu 
Việt Nam vẫn phải có một quy tắc, 
phương pháp chặt chẽ, cố định, lâu 
đời. Quy tắc ấy là hệ thống thang
âm, điệu thức hết sức độc đáo, 
không thua kém các dân tộc nào khác trên thế giới. Tôi xác 
định điểm nầy căn cứ trên nghiên 
cứu, tham khảo, tham luận quốc
tế và bảo tàng mà tôi thực hiện từ 3 thập 
niên qua.
 
Hệ thang âm (scale system) trong âm nhạc Việt, phân tích ra 
ta sẽ thấy các giai diệu có từ 2 cho đến 12 
âm chính. Nếu kể cả các âm phụ, một bản 
nhạc có
thể lên đến 16 âm. Đặc điểm của 
hệ thang âm Việt Nam là cung bậc cao thấp khác nhau. 
Cụ thể, nó cho thấy nhiều âm quãng rất dị 
biệt với nhạc phương Tây
mà chúng ta thường quen thuộc. Một nhạc sĩ mà 
tôi có dịp phỏng vấn ở Orange County cho rằng 
nhạc dân tộc có những nốt "lơ lớ." 
Thực ra, người trong nghề
nhạc truyền thống dùng hai từ chuyên môn là non (flat) 
và già (sharp). Họ thường nhắc nhở 
người đàn, người hát phải lưu ý sử 
dụng cho đúng cung bậc. Vì
nếu không sẽ bị chinh (chênh lệch). Tôi và các giáo 
sư ở đại học Washington (Seattle), đã đo 
các tầng số sai biệt trong hệ Ellis (gồm 1200 
cents trong
một quãng tám) giữa những âm già hoặc non hơn âm 
(degree) tiêu chuẩn trong khoảng 5 đến 10 cents. Các âm 
quãng quá nhỏ nầy mà người Việt có thể nghe 
được
nhỏ hơn ngay cả quarter tone mà các nhạc sĩ 
nhạc cổ điển Tây phương có thể 
nhận ra. Như vậy, điều nầy còn cho thấy 
trình độ thẩm âm của người Việt 
rất
cao.
 
Nếu trong tiếng nói của người Việt có 
nhiều dấu giọng, trong âm nhạc dân tộc giai 
điệu được phát triển cùng chiều 
với tiếng nói và làm nó thêm đậm đà, tinh
tế hơn lên. Sự cách điệu hóa ngôn ngữ 
nầy thể hiện trong tất cả các bài hát, trong các 
thể ngâm thơ. Tiến trình âm nhạc trong ngâm thơ 
khởi đi từ cách
đọc một bài thơ với những chữ 
nhấn giọng, lên giọng, âm lượng to, nhỏ, hay 
vè (vè Thông Tầm, vè Mụ đội, v.v.) hoặc nói 
thơ (như nói thơ Vân Tiên, nói thơ
Sáu Trọng, v.v.), cho đến cách ngâm Kiều, ngâm sa 
mạc, bồng mạc, ngâm xuân, v.v. Nếu bạn nghe 
lại từng chữ, từng tiếng phát âm và so với 
cách nói thông
thường, bạn sẽ nhận ra thế nào là nhạc 
điệu dân tộc qua tiếng nói.
 
Một nét tương đồng với thanh nhạc là, 
trong khí nhạc, các nhạc cụ như tranh, nhị, 
nguyệt, đáy đều phải có phím cao lên để 
ngón tay người đàn có thể bấm
sâu xuống cho việc luyến láy. Cây đàn ghi-ta (lục 
huyền cầm) từ phương trời châu Âu, vào 
khoảng thập niên 1920 cũng phải "bị" móc sâu 
ở khoảng giữa các
phím để tập nói tiếng ta! Và trong quá trình "Việt 
hóa" ấy, nó đã thành thục, và trở thành một 
nhạc cụ nồng cốt trong âm nhạc cải 
lương.
 
Đi sâu hơn vào chi tiết tỉ mỉ của âm thanh, 
bạn sẽ nhận ra sự luyến láy tài tình của 
nhạc sĩ và ca sĩ. Trong âm nhạc học, sự 
uốn nắn chữ nhạc (note) nầy
được gọi là ornamentation. Nó là một nghệ 
thuật độc đáo, mà chỉ một số ít dân 
tộc trên thế giới ứng dụng thành phương 
pháp, quy luật lâu đời và tuyệt nhiên
quan trọng, trong đó có dân tộc Việt. Trong một 
buổi họp mặt ở Kent State Univesity, khi bàn về 
cảm thức khi nghe nhạc để biết 
được buồn hay vui, Giáo
sư John Lee (Giám Đốc Trường Âm Nhạc 
thuộc viện đại học nầy) nói ta phải 
nghe một hợp âm (chord) hoặc 1 làn điệu trong 
nhạc Âu Mỹ mới biết đuợc. GS Lee
quay sang hỏi tôi nghĩ như thế nào trong nhạc 
Việt Nam? Tôi trả lời, trong nhạc dân tộc 
Việt, chỉ cần một chữ nhạc (note) là 
người ta có thể biết ra ngay
là buồn hay vui. Để cho các giáo sư và sinh viên 
được dịp thể nghiệm, tôi bước sang 
góc phòng bên kia và đánh lên một tiếng đàn bầu 
luyến láy theo hơi
xuân, rồi đến một tiếng theo ai, một 
tiếng theo hơi đảo, v.v. và hỏi các vị 
thấy cảm giác có khác nhau hay không. Mọi người 
bừng tĩnh ra đấy là sự thật.
Một cô sinh viên bật thốt lên: thật kỳ diệu!
 
Thế cũng cho thấy thêm một khía cạnh nữa 
trong nhạc nước ta, rằng chỉ cần nghe 
một tiếng đàn, người sành điệu cũng 
biết được người đàn hay hay dở. Ôi, 
chỉ
một tiếng đàn mà có thể làm rung động lòng 
người! Hiện tượng siêu tuyệt mà Nguyễn 
Tuân, trong quyển Chùa Đàn, đã huyền thoại hóa 
tiếng đàn khi luyến láy
hay đến nổi chảy máu trên đầu ngón tay. Trong 
Truyện Kiều, hay vô số những truyện tích dân gian 
đề cập đến chữ đàn tuyệt 
diệu. Sức hấp dẫn của một tiếng
đàn điêu luyện, vì thế, còn chứng tỏ sự 
học tập lâu dài, năng khiếu "trời cho", và tính 
sáng tạo trong âm nhạc chuyên nghiệp. Tôi xin nhấn 
mạnh chữ "sáng
tạo" ở đây, để bạn đọc hiểu 
rằng âm nhạc truyền thống Việt không phải 
là nhạc "cổ", vì nó luôn luôn đổi mới và gắn 
liền với tên tuổi người nghệ sĩ. Nó
là dấu ấn trong nghệ thuật âm nhạc của 
mỗi cá nhân có một quá trình học tập và làm nhạc 
vững vàng.
 
Một khía cạnh sau cùng là sự thành hình giai điệu 
trong âm nhạc dân tộc. Vì âm nhạc dân tộc mang tính 
điệu thức (modal) nên ngoài thang âm, chữ luyến láy
(ornaments), còn có các làn điệu mẫu (melodic patterns) 
lập đi lập lại nhiều lần. Nó gợi cho 
chúng ta một tình cảm chủ yếu, duy trì trong phạm 
vi một lớp
(section) hay một bài. Thuật ngữ trong âm nhạc 
Việt rất phong phú và có giá trị văn hóa cao. 
Để chỉ cho loại tình cảm trong bài nhạc ra 
sao người ta dùng
các danh từ chuyên môn như: "hơi", "điệu" hay 
"điệu thức", "giọng", "thể", v.v. tùy theo 
địa phương, tùy theo truyền thống Bắc, 
Trung hay Nam. Ca trù dùng
đến 36 giọng khác nhau. Trong đờn ca tài tử, 
cải lương và ca Huế có các hơi xuân, ai, 
đảo, oán, bắc, hạ, thiền, v.v. Những 
từ nầy rất khó dịch sang tiếng
nước ngoài vì tính chuyên dùng, có liên hệ đến 
địa phương ngữ, cũng như môi 
trường sinh hoạt xã hội. Cần nói thêm, trong lúc 
trình diễn chúng ta còn thấy
có sự chuyển thể giai điệu (hay chuyển 
điệu), từ nam sang bắc, từ ai sang xuân, v.v. 
hoặc chuyển hệ, đi từ thang âm nầy sang 
một thang âm khác trong các
đoạn nhạc, các lớp của toàn bài.
 
Âm Điệu Dân Tộc: Bản Thể Văn Hóa Của 
Chúng Ta
 
Những yếu tố đa dạng, phong phú và tế 
nhị vừa nêu trên mang tính hết sức đặc 
trưng trong truyền thống âm nhạc dân tộc 
Việt. Đó là nền tảng âm thanh không
phải chỉ vài ba năm, mà là sự kết tinh của 
nhiều thế hệ, nhiều thế kỷ. Đó 
cũng không phải chỉ là một khía cạnh âm thanh 
của người Việt, mà là một thể hiện
tập trung của ngôn ngữ, tập quán, đời 
sống sinh hoạt xã hội, và tư duy mỹ cảm. Âm 
điệu dân tộc là sự phản ánh những giá 
trị độc đáo của con người.
 
Chúng ta không thể tách rời âm nhạc khỏi bản thân 
của con người đã làm ra nó. Chúng ta phải hãnh 
diện về nó, vì nó là thành tựu của cả lao 
động trí óc (suy
tư, sáng tác, v.v.) lẫn lao động chân tay 
(người thợ đóng đàn, di chuyển đàn, 
xếp đặt sân khấu trình diễn, v.v.). Những 
dàn đại nhạc, những loại nghệ thuật
sân khấu dân gian và cung đình, những hình thức ca 
nhạc tri âm tri diệu (thính phòng), những nghi thức 
lễ nhạc Phật Giáo, những truyền thống ca 
múa dân
gian (múa gậy, múa xuân phả, hát dân ca, v.v.) là cả 
một kho tàng vô cùng qúi báu và rộng lớn của dân 
tộc ta. Phải nói, đãy là bản sắc văn hóa 
của người
Việt mà chúng ta có đầy đủ lý do để 
tự hào.
 
Một giọng hát, một câu hò "Chiều chiều 
trước bến Văn Lâu ..." một câu quan họ, hay 
một câu vọng cổ cất lên làm ta thấy cả 
"hồn dân tộc trong ấy" (xin mượn
câu nói chan chứa ý nghĩa nầy của nghệ sĩ 
Việt Hùng) 2 . Tại sao? Vì âm điệu ấy thoát ra 
từ tiếng nói, từ ngón tay đầy mỹ cảm 
của dân tộc Việt.
 
Trong nhiều năm qua, tôi làm một thử thách nho nhỏ 
cho chính mình là đi nhiều miền của đất 
nước Việt Nam, lắng nghe từng diệu hát dân 
ca quan họ ở Bắc Ninh,
bài chòi ở Bình Định, hò lý ở Mõ Cày (Bến Tre), 
quan sát từ những điệu múa xuân phả 
(điệu múa mang mặt nạ, rất hiếm có trên 
thế giới), múa đội đèn ở Thanh
Hoá, múa hoa đăng cung đình Huế, múa dâng bông ở 
Khánh Hòa, những đêm ngồi lê trên chiếu chèo Hà 
Nội hay tuồng (hát bội), cải lương, ở 
các thành phố và
tỉnh lẻ. Rồi đến những đêm nằm 
trên nhà sàn cao nguyên mà nghe tiếng tiếng đàn goong, nghe 
tiếng cồng chiêng lễ hội Giarai, Banar mà tôi 
thấy yêu qúi quê
hương Việt Nam làm sao. Những kỷ niệm không 
thể kể hết qua hằng ngàn trang giấy. Nó vẫn 
còn hạn hẹp. Duy chỉ có một điều làm lòng 
tôi thấy an tâm nhất:
dân tộc Việt có âm điệu sâu hằng nghìn năm, 
rộng như biển cả, rừng nghìn trùng. Âm 
điệu dân tộc tiềm tàng trong những sử ca, 
trong Bình Ngô Đại Cáo, trong
Kiều, trên sông Hồng, sông Hương, trên dòng Hậu 
Giang miên man, trên đồng lúa xanh như ngọc, và trong 
tiềm thức trong mỗi con người Việt Nam. 
Ước mong
âm điệu dân tộc vẫn còn mãi trong chúng ta.
 
Sách đọc thêm:
 
Nguyễn, T. Phong, Vietnam, The Garland Encyclopedia of World Music, 
Volume 7: Southeast Asia. New York/London, 1998: 444-536.
Nguyễn T. Phong và Patricia Shehan Campbell. From Rice Paddies and Temple 
Yards: Traditional Music of Vietnam. Danbury (CT): World Music Press, 1991)
Nghe nhạc (CDs):
 
Song of the Banyan: Phong Nguyen Ensemble. Music of the World. CD.
Eternal Voices: Traditional Vietnamese Music in the United States. Alliance 
Records. Double CD set.
Music of the Lost Kingdom: Hue, Vietnam. Lyrichord. CD.
Music of the Truong Son Mountains. White Cliffs Media. CD.
Ghi chú:
1. Tác giả phỏng vấn nhạc sĩ Lê Yên. Hà Nội, 
12/6/1994.
2. Tác giả phỏng vấn nghệ sĩ Việt Hùng. 
Mission Viejo, CA, 28/4/2000.
 
***
 
Nguyễn Thuyết Phong. Tiến sĩ Âm nhạc học 
(Sorbonne, Paris) và được phong National Heritage Fellow 
(Nhạc sĩ Di Sản Quốc Gia) tại White House (1997), 
Hoa
Kỳ. Hiện là nhà nghiên cứu và giáo sư thỉnh 
giảng tại Trung Tâm Giáo Dục Âm Nhạc Thế 
Giới thuộc Viện Đại Học Kent, tiểu 
bang Ohio, và các trường đại học
trên thế giới.

       
---------------------------------
Need a vacation? Get great deals to amazing places on Yahoo! Travel. 

Other related posts: